HOA QUẢ CỦA THÁNH THẦN_Lm. Jude Siciliano, OP.

HOA QUẢ CỦA THÁNH THẦN

Lm. Jude Siciliano, OP.

14/05/2004

CHÚA NHẬT 6 PHỤC SINH.C

(Ga 14, 23-29)

Thưa quý vị. 

Trong đời sống gia đình, thể nào cũng có một ngày trọng đại. Ngày công bố nội dung tờ di chúc, cha mẹ đã già cả, chẳng còn sống được bao lâu, thường để lại ý muốn của mình cho con cháu về vấn đề tài sản; ngõ hầu sau khi qua đời thì mọi sự được rõ ràng, khỏi xảy ra tranh chấp. Lúc ấy các con phải có mặt, cha mẹ chia phần cho từng đứa và giải thích lý do tại sao các ngài làm như vậy. Trong trường hợp gia đình hoà thuận, yêu thương thì có lẽ người chị cả sẽ nói: “Thưa bố mẹ, con và chồng con làm ăn khấm khá rồi, có công ăn việc làm đều đặn và tương lai ổn định. Chúng con nhất trí nhường phần gia tài của tụi con cho gia đình của cậu em. Vợ cậu bất toại. Con cái lại còn nhỏ, chưa giúp đỡ được chuyện chi, gia đình nheo nhóc. Tụi con xin cha mẹ chấp thuận”. Tuy nhiên, nếu gia đình chia rẽ và ghen ghét nhau, hoặc trong quá trình sống cha mẹ không giáo dục con cái tốt, để chúng đặt của cải lên trên hết, thì bức tranh khác hẳn, sẽ có những cuộc cãi cọ tranh giành: Tại sao tụi nó được phần hơn tụi con, trong khi chúng con phụ giúp bố mẹ nhiều hơn, vợ chồng nó suốt ngày lười biếng, ăn bám, phá hoại và lêu lổng. Chúng có yêu bố mẹ đâu?” Tin Mừng hôm nay mô tả Chúa Giêsu và các môn đệ ở hoàn cảnh tương tự trong bữa tiệc ly, tuy rằng là duy nhất. Đối với Chúa Giêsu, Ngài biết rõ cuộc đời dương thế chấm dứt, các môn đệ cũng linh cảm điều chi quan trọng sắp xảy ra; cho nên bao lâu còn sống, ngồi ăn với các môn đệ, Ngài tuyên bố “di chúc” và “chứng từ” cuối cùng của đời mình. Ngài sẽ để lại cho họ những trăn chối, ngăn ngừa chia rẽ và đổ vỡ. Ngài chỉ đạo cho họ phải làm chi sau khi Ngài ra đi, để họ vẫn sống trung thành như các tông đồ của Ngài. Ngài sẽ phân chia “tài sản thiêng liêng” cho họ. Nhưng liệu có ai được hơn, ai phải chịu phần kém? Ai sẽ được ưu ái, ai sẽ ra rìa? Ngài để lại điều chi có khả năng tồn tại vinh hiển chứ không phải chỉ là ký ức chóng qua, mai một trong vài thế hệ? Hẳn quý vị đã đoán ra giải pháp của Ngài! Giải pháp đó xứng với sự khôn ngoan thượng trí của Đức Chúa Trời. Nếu chưa tôi xin mách bảo. Ngài trối lại chính bản thân Ngài sống động trong Thần Khí: “Này đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,20). 

Như vậy, cùng với sách Công Vụ Tông Đồ, Phúc Âm hôm nay nhắc nhở chúng ta di chúc của Chúa Giêsu là Thần Khí. Tài sản này không nằm ở lãnh vực vật chất mà hoàn toàn thiêng liêng, không thế hệ tín hữu nào có thể tiêu phí, tẩu tán hoặc làm hao mòn. Thần Khí luôn hiện hữu trong Hội Thánh, trong từng linh hồn sống động và tươi trẻ. Chúa Giêsu gọi Thần Khí ấy là Đấng bảo trợ. Như vậy kho tàng của cải của Giáo Hội không phải là vàng bạc đá quý mà là Chúa Thánh Thần, Đấng luôn ở với Hội Thánh và gần gũi Hội Thánh. Trong mọi hoàn cảnh, những tình huống khó khăn, Hội Thánh có thể cậy dựa vào Chúa Thánh Thần. Ngài là sức mạnh, bênh vực mọi tín hữu, nói cách khác, Chúa Thánh Linh luôn đồng minh với chúng ta, về phe với chúng ta chống lại sa tan, thế gian và xác thịt. Chẳng có di chúc nào cao quý và vững chắc hơn. Nếu hiểu ra, ắt hẳn các tông đồ lòng đầy vui mừng và vững tin. Chẳng những các tông đồ mà chúng ta ngày nay cũng vậy, miễn là giữ được điều kiện của Chúa.

Điều kiện đó là tuân giữ lời Ngài: “Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy”. Lòng yêu mến này không phải là tình cảm dạt dào chóng qua. Nó sẽ bay thành hơi khói khi gian nan tới hay dục vọng thấp hèn tấn công; nhưng là quyết tâm mạnh mẽ và vững bền sống theo những điều Chúa dạy, ghi khắc vào linh hồn những gương sáng của Ngài. Do đó tuân giữ lời Ngài là dấu chỉ cụ thể chúng ta mến yêu Ngài. Lời nói suông chẳng có ý nghĩa gì, việc làm mới chứng tỏ chúng ta yêu Ngài đích thực. Tuy nhiên tự sức mình các tông đồ, các tín hữu, không thể thực hành những điều Chúa truyền dạy: Tha thứ cho kẻ thù, vả má bên trái đưa luôn má bên phải, cho kẻ đói ăn và kẻ khát uống, chống lại những bất công đến cùng đâu phải là chuyện dễ, mà lại phải làm liên tục, đòi hỏi can trường và kiên nhẫn. Chúng ta cần đến sự trợ lực của Chúa Thánh Thần. Cho nên khi tuyên bố chứng từ di chúc của mình, Đức Giêsu đã để lại một đảm bảo là chúng ta sẽ trung thành thực hiện lời Ngài. Chúng ta kinh nghiệm sâu xa đời sống mới trong linh hồn mình nhờ Thần Khí; Ngài chăm lo trước sự an lành của mỗi linh hồn và toàn thể cộng đoàn Hội Thánh bằng một thứ “an bình” mà loài người không thể ban được. Đó là Chúa Thánh Linh, ngõ hầu mọi người sống xứng đáng danh hiệu tín hữu của Chúa Kitô trong một thế giới luôn thay đổi, bất an và bạo loạn.

Khi suy niệm bài đọc Tin Mừng này, chúng ta nên để ý đến công việc của Chúa Thánh Thần: “Đấng bảo trợ là Chúa Thánh Thần, Chúa Cha sẽ sai đến nhân danh Thầy. Đấng đó sẽ dạy anh em mọi điều và sẽ làm cho anh em nhớ lại những gì Thầy đã nói với anh em”. Với nhiệm vụ là Đấng bảo trợ, Thần Khí sẽ ngự giữa Giáo Hội như Chúa Giêsu đã luôn hiện diện với các tông đồ. Chắc chắn Thiên Chúa sẽ gởi Thánh Thần xuống trên mỗi tín hữu, cho nên chúng ta chẳng cần thực hiện những kỳ tích để lãnh nhận Ngài. Chỉ phải sống trong danh Đức Kitô và Thần Khí sẽ nối kết chúng ta với Ngài. Đúng theo lời Chúa Giêsu, Thánh Linh sẽ dạy dỗ Hội Thánh, biến Hội Thánh thành hiền thê trong trắng và thánh thiện. Đó là lời an ủi khích lệ các tông đồ, những người nhát đảm và hay lãng quên. Họ cần Thánh Thần giúp đỡ để áp dụng Lời Chúa trong các hoàn cảnh mới.

Nhưng điểm nhấn của Tin Mừng hôm nay là Thần Khí hiện diện trong cộng đoàn. Khám phá Thần Khí trong từng cá nhân chưa đủ, phải là toàn thể cộng đoàn. Bởi lẽ Ngài hướng dẫn và nuôi dưỡng Hội Thánh. Đức tin không chỉ có nghĩa cá nhân mà còn phải liên quan đến cộng đồng, đặt nền tảng trên đức tin Hội Thánh. Giữa tôi và cộng đoàn phải có sự liên hệ hữu cơ, giáo lý Vaticanô II dạy: “Tôi tin, chúng tôi tin”. Mối liên hệ này rõ nét ngay từ buổi đầu của Hội Thánh. Công đồng Giêrusalem đã giải quyết vấn đề dân ngoại trở lại bằng một hợp ý chung: “Vì thế chúng tôi đồng tâm nhất trí quyết định…” nghĩa là Hội Thánh đã bàn bạc và hành động dân chủ, không áp đặt ý kiến riêng tư lên trên cộng đoàn. Vấn đề, nếu hiểu ra, thì rất quan trọng và ảnh hưởng sinh tử đến Giáo Hội non trẻ. Hai tông đồ Phaolô và Barnaba rao giảng tại miền cận đông, nhiều người dân ngoại như Hy Lạp, La Mã, Capađôcia, Pontô đã nghe theo lẽ phải và trở lại tôn thờ Thiên Chúa của dân Israel, tôn thờ Đức Giêsu cứu thế. Họ khát khao được Ngài hướng dẫn và cứu độ. Câu hỏi nảy sinh là họ có phải giữ luật Môsê không? Cụ thể là luật cắt bì và kiêng ăn. Các tín hữu gốc Do Thái từ Giuđêa (có lẽ là cựu biệt phái) xuống Antiôkhia nói là có: “Nếu anh em không chịu phép cắt bì theo tục lệ Môsê, thì anh em không thể được cứu độ”. Họ theo đúng não trạng và lương tâm của dân tộc mình, Kinh Thánh đã dạy rõ ràng như thế, từ chối là đi trệch con đường Thiên Chúa muốn. Người Do Thái ngoan đạo không bao giờ dám làm. Ngược lại Phaolô và Barnaba cho rằng không cần, chỉ tin vào Chúa Giêsu, sự chết và sống lại của Ngài là đủ để được ơn cứu độ. Câu chuyện thật khó khăn, không như chúng ta nghĩ ngày nay. Nếu giữ luật Môsê để được cứu độ thì cuộc nhập thể, khổ nạn và phục sinh của Chúa Giêsu bằng thừa. Mặt khác, nếu không phải giữ thì đạo Do Thái bị phá sản, các giao ước Thiên Chúa lập ra với tổ phụ xem ra không còn giá trị. Tiến thoái lưỡng nan, quay phía nào cũng gặp bế tắc. Nhưng Giáo Hội tiên khởi đã được Chúa Thánh Linh chỉ dẫn nên đã đưa ra sáng kiến phù hợp với chân lý và lẽ phải: “Thánh Thần và chúng tôi đã quyết định không đặt lên vai anh em một gánh nặng nào khác, ngoài những điều cần thiết này là kiêng ăn đồ đã cúng ngẫu tượng, không ăn tiết canh, ăn thịt loài vật không cắt tiết và tránh gian dâm”. Đúng là một sự nhất trí và can đảm lạ lùng. Ơn Chúa Thánh Linh đã ban cho cộng đoàn tông đồ quyền bính chỉ đạo sáng suốt tài tình. Quyền bính đi theo đường lối của Thiên Chúa mà không làm xáo trộn lương tâm các tín hữu; ngược lại, ban cho họ sự thánh thiện và bình an. Suốt dòng lịch sử, Giáo Hội luôn có nhu cầu về những quyết định loại này và sự đáp trả hữu hiệu. Tuy nhiên chỉ dưới sự hướng dẫn của Thánh Linh, chúng ta mới được hưởng những ân huệ ấy mà thôi.

Ngay sau khi hứa ban Thần Khí, Chúa Giêsu để lại điều quan trọng bậc nhất cho các tông đồ: Bình an của Ngài: “Thầy để lại bình an cho anh em, Thầy ban cho anh em bình an của Thầy. Thầy ban cho anh em không theo kiểu thế gian”. Chính nhờ ân huệ bình an này mà Hội Thánh tiên khởi đã hành động hàn gắn những chia rẽ, bất hoà ngay khi manh nha và tiếp tục công việc mang bình an Chúa Giêsu đến cho toàn thế giới. Nếu như cộng đoàn tuyên xưng đức tin vào Hoàng Tử Bình An mà còn đầy bất hoà, chia rẽ và chống đối thì làm thế nào rao giảng Tin Mừng Chúa Giêsu cho nhân loại? Cho nên Giáo Hội phải giải quyết ngay những khó khăn nội bộ thì mới có hy vọng thuyết phục thiên hạ tin kính Chúa Giêsu. Một nguyên tắc luôn được ghi nhớ: Ơn thánh của Thiên Chúa không bao giờ mang tính chia rẽ, nó luôn đoàn kết và nhất trí. Chỉ sa tan và tội lỗi mới gây bất hoà. Cho nên ở đâu có chia rẽ ở đấy có bóng dáng tội lỗi. Điều này đúng trong gia đình, cộng đồng, xã hội và toàn thế giới: Chém giết, chiến tranh không đến từ tình thương Thiên Chúa, mà từ bụng dạ xấu xa của con người. Chúa Giêsu ban Thần Khí cho Hội Thánh là để biến đổi các tín hữu thành sứ giả hoà bình. Sứ giả trong lòng Giáo Hội và trên thế giới. Có rất nhiều bất ổn trong các Giáo Hội tiên khởi. Nó còn kéo dài mãi cho đến ngày nay. Nhưng Hội Thánh còn tồn tại được là nhờ Chúa Thánh Thần soi sáng và hướng dẫn. Giữa các tín hữu luôn nảy sinh nhiều sức mạnh hiệp nhất và bình an. Thánh Luca mô tả Chúa Thánh Linh là nguyên lý của sự hiệp nhất đó. Ngài thu thập mọi màu da, tiếng nói, sắc tộc vào lòng Giáo Hội, nhưng vẫn duy nhất trong đức tin. Theo dòng thời gian, Giáo Hội có nhiều nền văn hoá, phong tục, ý kiến, nhưng hoàn cảnh không cho phép phá vỡ sự hiệp nhất mà Chúa Giêsu đã tha thiết xin cùng Chúa Cha trước khi Ngài chịu chết. Lễ Chúa Thánh Thần đã gần kề, giáo xứ chúng ta cũng bắt đầu cầu nguyện cho sự hiệp nhất. Những chia rẽ quá khứ đã gây nhiều thiệt hại, phải rút kinh nghiệm cho tương lai. Thần Khí của Chúa chính yếu mang tính tông đồ. Khi lãnh nhận Ngài, chúng ta cũng lãnh nhận sứ vụ của Ngài. Chúng ta lãnh nhận bình an Chúa Kitô thì cũng phải gieo rắc bình an cho thế giới. Tín hữu phải là kẻ kiến tạo hoà bình, khởi sự từ bản thân, họ hàng và giáo xứ. Chúa Thánh Thần ngự trên cộng đoàn các tông đồ không phải một lần rồi thôi, nhưng ở lại và hoạt động với các ông; để làm cho Chúa Giêsu luôn hiện diện và thúc đẩy chúng ta đem ơn Phục sinh cho thế gian. Như vậy ngay lúc này Thánh Thần vẫn đang ở giữa Giáo Hội như xưa Chúa Giêsu ngự giữa các tông đồ. Khi Chúa ban bình an cho các ông thì Ngài cũng nhắc nhớ Ngài sẽ trở lại. Thực sự Ngài đã giữ lời hứa và trở lại bằng Thần Khí. Cho nên Ngài luôn có mặt giữa Hội Thánh, chỉ có trở ngại là chúng ta hay quên.

Nếu như Phúc Âm dạy dỗ chúng ta điều chi thì đều bảo đảm rằng, Thần Khí sẽ ở với chúng ta, giúp đỡ chúng ta đi theo đúng đường lối Chúa Giêsu. Các tác giả đều viết Tin Mừng sau lễ Hiện Xuống. Cho nên, tâm hồn của họ tràn đầy Thánh Linh, họ mô tả cuộc đời Chúa Cứu Thế đúng như Thánh Linh soi sáng. Nước Thiên Chúa mà họ truyền lại các thế hệ tín hữu là chữa lành bệnh tật, tha thứ xúc phạm, rao giảng hoà bình, dạy dỗ thánh ý Thiên Chúa. Lúc này đây cũng dưới ảnh hưởng của Chúa Thánh Linh, chúng ta có bổn phận tiếp tục sứ vụ của Chúa Giêsu và Thần Khí cũng vẫn sẵn sàng giúp đỡ thi hành nhiệm vụ đó. Cho nên: “Lạy Chúa Thánh Linh, xin ngự đến”. Amen. Halleluia.

 

Tìm Hiểu:

SUBSCRIBE

Từ khóa