NĂM MƯOI NĂM THỜ CÚNG TỔ TIÊN LOAN TIN MỪNG CHO DÒNG HỌ (Linh mục Võ Tá Khánh)


NĂM MƯOI NĂM THỜ CÚNG TỔ TIÊN

LOAN TIN MỪNG CHO DÒNG HỌ


 

 

IMPRIMATUR

LỜIGIỚI THIỆU

 

TỦSÁCH NƯỚC MẶN

 


MỘT VÀI KINH NGHIỆM LOAN TIN MỪNG QUA CON ĐƯỜNG ĐẠO HIẾU

 

Tin mừng đã đến trên quê hương này 480 năm. Một số nhà truyền giáo thuởđầu đã nhìn truyền thống Đạo Hiếu của phương Đông như một cánh cửa rộng mở đểđưa mọi người và mọi gia tộc về với Thiên Chúa Cha, Đấng là nguồn gốc mọi giatộc trên trời dưới đất (x. Ep 3,15).

Thế nhưng rồi cánh cửa đã khép lại. Sau nhiều tranh luận của các nhàtruyền giáo, Tòa Thánh đã quyết định rằng người tín hữu Công giáo phương Đôngchỉ được bày tỏ tâm tình thiêng liêng đối với Ông Bà Tổ Tiên theo phụng vụ Rôma, và phải ngưng những biểu lộ bên ngoàitheo truyền thống văn hóa địa phương. Suốt hơn 200 năm, người Công giáo đànhmang tiếng "theo Đạo là bỏ Ông bỏ Bà" để giữ một đức tin tinh tuyền,chưa kể sự ngộ nhận ấy còn góp phần khiến cơn bách hại thêm khốc liệt.

Năm 1964, Toà Thánh áp dụng cho người Công Giáo Việt Nam huấnthị Plane Compertum est đã đề ra cho Giáo hội tại TrungHoa năm 1938, chấp thuận cho người tín hữu Á Đông được thờ cúng ông bà theo lốixưa. Ngày 14-6-1965, Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đã ra thông cáo chính thức vềviệc áp dụng huấn thị của Toà Thánh.

Cho tới nay sự giải tỏa đã được gần 50 năm, người Công giáo Việt Namđã mò mẫm từng bước để hội nhập lại vào một truyền thống bị gián đoạn đã quálâu đời. Nhiều luận văn của sinh viên Công giáo và nhiều sách báo đề cập vấn đềnày cũng như nhiều sáng kiến thực hành đã giúp hóa giải được phần nào ngộ nhậnnói trên.

Nhân dịp sắp đến kỷ niệm 50 năm việc áp dụng huấn thị Plane compertumest, tôi cũng muốn được đóng góp cho anh chị em đồng đạo một kinh nghiệm kiếmtìm và một số minh họa, mong phần nào gợi hứng để các bạn trẻ Công giáo dấnthân cho mối liên kết dòng họ bên nội và bên ngoại của chính mình. Sau nữa, tôicũng mong được chia sẻ với đồng bào ngoài Công giáo những nỗi khó khăn và nhữngxác tín sâu xa của người Công giáo trên đường về với nguồn cội. Chắc hẳn nhữngchia sẻ chân thành cũng ôm theo nhiều vụng về, đôi khi thái quá hoặc bất cập,mong được mọi người rộng lượng cảm thông và góp ý.

Thánh nữ Têrêxa Hài Đồng Giêsu là vị thánh gắn liền với giấc mơ Loanbáo Tin mừng cho người Việt, và cũng là vị thánh được nâng niu giữa tình giađình và tình gia tộc. Xin ký thác cho Chị loạt bài này như một phương án mới,một con đường giản dị để đến với anh chị em lương dân và đưa họ đến với Chúa,không còn phải là con đường lẻ loi của từng người hay từng gia đình nhưng làmột con đường hành động tập thể: con đường dòng họ, họ Nguyễn cho họ Nguyễn, họLê cho họ Lê, họ Trần cho họ Trần, họ nào truyền giáo cho họ nấy.

Một số đoạn trích lại từ quyển "Về Với Cội Nguồn", Nxb PĐ2012. Độc giả nào muốn, có thể xem toàn văn quyển sách tại:

http://gpquinhon.org/qn/news/nuoc-man/Ve-voi-coi-nguon-633/#.UhHDl9IvnqE

Mọi góp ý xin gửi về: tinmunggiesu@gmail.com.

Kính chúc quý độc giả và gia đình luôn an vui hạnh phúc trong Chúa.

Lm Trăng Thập Tự Võ Tá Khánh

 


.1
LỊCH SỬ VẤN ĐỀ

01
VẤN ĐỀ THỜ CÚNG ÔNG BÀ TRONG LỊCH SỬ GIÁO HỘI VIỆT
NAM

 

Tự bản thân, Đạo Hiếu rất gần với Đạo Chúa. Đang khi một số tôn giáo ÁĐông tin luân hồi, cho rằng con người chết rồi đầu thai hóa kiếp thành loài nàyloài khác thì Đạo Hiếu dạy rằng linh hồn Ông Bà Tổ Tiên bất tử, linh hiển vàgần gũi con cháu. Đạo Hiếu và Đạo Chúa có chung một niềm tin linh hồn bất tử,tiếc thay, đã gặp một sự hiểu lầm suốt mấy thế kỷ.

Hoàncảnh thế kỷ XVII đã khiến một số nhà truyền giáo ngộ nhận, cho rằng việc thờcúng tổ tiên ở Việt Nam là một tôn giáo, trong đó tổ tiên được coi như những vịthần. Ngộ nhận này một phần là do chưa nghiên cứu cặn kẽ:

- Nhiều vị tưởng rằng khi cúng lễ gia tiên, gia chủ phải đọc những lờithần bí rất tỉ mỉ. Thật ra, gia chủ không tụng kinh (đọc lớn một công thức)cũng không niệm kinh (đọc thầm) mà chỉ nói với tổ tiên của mình như một đứa connói với người cha hiện đang còn sống, trong ngôn ngữ thông thường.

- Nhiều vị tưởng chữ "lễ" trong lễ gia tiên có cái ý nghĩanguyên thủy của nó là "các quy tắc của các lễ nghi tôn giáo". Thậtra, chính Đức Khổng Tử đã giải thích chữ "lễ" theo một nghĩa khác.Theo ngài, các "lễ" hoặc các nghi thức chỉ là phương tiện cho ngườiquân tử dùng để xử kỷ tiếp vật trong mỗi tình huống cuộc sống. Chúng nêu rõcách ứng xử người ta phải có trong nhà, ngoài phố, ở triều đình, ở các lễ hội;chúng bộc lộ ra bên ngoài những tình cảm bên trong mà người ta cảm thấy trongtình huống này hoặc tình huống nọ. Vậy, các nghi thức chỉ là những quy phạm củaphép xã giao, các quy tắc phép lịch sự mà mục đích gần nhất là giáo hóa conngười. Đó là những quy luật của "lễ phép xã hội", như chính Khổng Tửnói, khiến ngày qua ngày người ta đến gần điều thiện và tránh xa điều ác màkhông ngờ. Nghi thức khi cúng gia tiên cũng mang ý nghĩa ấy, chỉ là những lễphép bày tỏ lòng kính trọng quý mến đối với tổ tiên mình.

- Lý do mạnh nhất đẩy Giáo Hội đến chỗ chấp nhận theo một thái độ ngờvực đối với sự thờ cúng tổ tiên, chính là vì một số người tin rằng vong hồn củanhững người chết ở trong các bài vị, và người ta ghi rõ "đây là nơi ở củahồn (ông A, bà B)", cách riêng là ở trong tấm lụa đặt trước bài vị, đượcgọi là "hồn bạch", thường là tấm lụa đã phủ trên khuôn mặt người hấphối và được cho là hồn đã nhập vào đó. Tuy nhiên đó chỉ là tin tưởng sai lạccủa một số người. Theo những tin tưởng chính thống của người Hoa cũng như ngườiViệt, sau khi chết, con người được coi như đã vĩnh viễn rời bỏ cõi đời này đểan nghỉ ở cõi "suối vàng". Tại các từ đường, người ta chỉ giữ lại bàivị của năm đời, còn các bài vị của những thế hệ xưa được đem chôn. Nếu thậtngười ta tin bài vị là nơi hồn nương tựa thì sẽ không chôn như thế, vì khôngcòn bài vị, những hồn ấy sẽ ở đâu? Vả lại, ngày nay, các gia đình dễ dàng thaythế các bài vị bằng những bức chân dung, cho thấy họ không nghĩ rằng linh hồncác bậc tổ tiên ở trong các bài vị. Nếu hồn không ở trong các bài vị thì vaitrò của các bài vị ấy là gì? Dưới con mắt của người Hoa cũng như là người Việt,ít ra là của các nhà nho, các bài vị chỉ có mục đích duy nhất là để nhắc nhở ngườisống tưởng nhớ những người đã khuất.

02
MỘT SỐ THỰC HÀNH GÂY ÁI NGẠI

Có những nhà truyền giáo cho rằng việc thờ cúng Ông Bà là một tôn giáonhưng lại có những nhà truyền giáo khác khẳng định rằng người Việt không baogiờ xem tổ tiên của họ là "những vị thần", cũng không bao giờ xem chamẹ họ là "những vị thần tương lai" (Chỉ một số nhỏ tiền hiền ở cácđịa phương được các triều vua phong thần làm "thành hoàng" của làngxã, với cái nhìn tương tự như các thánh bổn mạng trong Kitô giáo chứ không phảilà những vị thần đúng nghĩa). Đã đành là có bàn thờ dành cho Tổ tiên và Tổ tiênlà đối tượng của một sự phụng tự nhưng phụng tự này chẳng là gì khác hơn mộtphụng tự tưởng nhớ, khác với sự thờ Trời. Do đó có thể kết luận ngay rằng sựthờ cúng tổ tiên không phải là một tôn giáo theo nghĩa đen của từ này (Chúng tavẫn thường được nghe trả lời như sau: "Chúng tôi chỉ thờ cúng ông bà chứkhông theo đạo nào cả."). Hơn nữa, khi truyền bá sự thờ cúng này, ngườixưa (cụ thể như Đức Khổng Tử) nhắm thiết lập những mối liên hệ xác thực giữanhững người sống và những người chết, củng cố sự liên đới giữa các thế hệ vàphát huy kỷ luật xã hội, tức là chỉ vì những mục tiêu xã hội và chính trị chứkhông hề có ý tưởng tôn giáo nào.

Ta cứ giả thiết như việc thờ cúng này bắt đầu có ý nghĩa từ khi có loàingười, sẽ thấy sự khác biệt giữa hai chữ "thờ" ấy. Con cháu thờ ôngbà, thế hệ sau thờ thế hệ trước. Còn người đầu tiên của loài người thờ ai? Dĩnhiên họ chỉ thờ Thiên Chúa. Hai chữ thờ đó khác nhau trời vực. Thờ Thiên Chúalà tâm tình của thụ tạo lệ thuộc Tạo Hoá, tùng phục Ngài một cách tuyệt đối vàyêu mến Ngài với trọn tình con. Còn thờ tổ tiên là tưởng nhớ người xưa và cốgắng không làm ô danh người xưa.

Thế nhưng trong thực tế, đối với nhiều người, các nghi lễ dành cho tổtiên cũng dần dần mang thêm một ý nghĩa tôn giáo. Người ta đi đến chỗ thờ tổtiên như thần thánh, và có khi dành cho tổ tiên một tâm tình thờ phượng tuyệtđối như thờ phượng Thiên Chúa. Chính đây là điều không thể nào đi đôi với giáolý Kitô giáo. Chỉ có một Thiên Chúa độc nhất và chân thật. Không thể thờ bất cứthụ tạo nào như Thiên Chúa được.

Nghi lễ thờ cúng ông bà ở các thế kỷ trước quả thật có bị lây nhiễm mộtsố tin tưởng sai lạc đáng ngại. Chẳng hạn, tin rằng hồn ông bà về hưởng củacúng. Người ta sợ rằng không cúng tế thì hồn người chết sẽ đói khát, không đốtvàng mã thì hồn người chết không có tiền tiêu. Những tin tưởng sai lạc như thếcũng không thể đi đôi với giáo lý Kitô giáo.

Ngoài ra còn có những mê tín khác.

Các nhà truyền giáo đã tranh luận hết sức nghiêm túc qua nhiều năm, mộtbên cho rằng những sai lạc trên đây có thể điều chỉnh được, một bên cho là khólòng thay đổi được não trạng của dân chúng. Cuối cùng, để bảo đảm cho niềm tincủa tín hữu được tinh ròng, Giáo Hội đã quyết định rằng người Công Giáo chỉđược tôn kính tổ tiên theo cách Giáo Hội quen làm, chứ không được thờ cúng theohình thức cổ truyền địa phương. Giáo Hội biết đây là một chọn lựa phải trả giáđắt, rất bất lợi cho công cuộc truyền giáo. Trước khi có quyết định ấy, sốngười hưởng ứng Đạo Chúa tại Việt Nam càng lúc càng đông, cả đến trong triềuđình vua Lê cũng có nhiều người theo Đạo. Việc cấm thờ cúng tổ tiên theo lối cũđã khiến người ta tẩy chay tôn giáo mới, thậm chí đã thành một trong những lýdo biện minh cho các cuộc bách hại của nhà Tây Sơn, nhà Nguyễn và chiến dịchVăn Thân. Đã hẳn việc cấm thờ cúng nói đây có phần do ngộ nhận nhưng dù sao nócũng cho thấy đức tin Kitô giáo phải là một chọn lựa quyết liệt đến mức nào.

03
QUAN ĐIỂM MỚI CỦA TÒA THÁNH

Mãi đến thế kỷ 20, khi Đạo Hiếu không còn bị ngộ nhận là một tôn giáovà những tin tưởng sai lạc cũng không còn phải là chuyện chung của quảng đạiquần chúng, năm 1964, Toà Thánh đã chấp thuận cho người Công Giáo Việt Nam đượcthờ cúng ông bà theo lối xưa. Ngày 14-6-1965, Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đãra thông cáo chính thức về vấn đề này.

Sau phần đầu nhắc lại mấy nguyên tắc về thái độ của Giáo Hội đối vớinền văn hoá và truyền thống của dân tộc, bản thông cáo nói đến thể thức áp dụngHuấn thị "Plane compertum est" đã được Toà Thánh đã đề ra cho Giáohội tại Trung Hoa ngày 08-12-1939. Nguyên vănthông cáo:

Thông cáo 
của Hội Đồng Giám Mục Việt
Nam 
về việc tôn kính tổ tiên

Ngày 20-10-1964, Tòa Thánh, qua Bộ Truyền giáo đã chấp thuận đề nghịcủa Hàng Giám Mục Việt Namxin áp dụng huấn thụ Plane compertum est (8-12-1939), về việc tôn kính tổ tiêncho giáo dân Việt Nam.

Để hiểu rõ tinh thần Giáo Hội trong việc chấp thuận này, và để có nhữngchỉ thị hướng dẫn trong khi áp dụng, Hội đồng Giám mục muốn nêu lên mấy điểmsau đây:

I. Giáo hội Công Giáo đối với nền văn hóa và truyền thống các dân tộc

1) Giáo Hội Chúa Kitô bao giờ cũng tha thiết thực hiện mệnh lệnh ĐấngSáng Lập, để hiện diện khắp nơi và tuyên giảng Phúc Âm cho mọi người. Cố gắngđầu tiên của Giáo Hội là giúp sao cho con người được nên hình ảnh đích thực củaThiên Chúa và được trung thực với sứ mệnh Kitô hữu của mình, để đạt cứu cánhsau hết là hạnh phúc đời đời. Công trình đó được thực hiện trong nội khảm củamỗi cá nhân. Nhưng nó có vang âm đến toàn diện cuộc đời và trong mỗi khu vựcsinh hoạt của con người (Đức Piô XII: Huấn dụ tại Cơ Mật Viện, ngày 20-2-1946).

2) Mặt khác, từ nguyên thủy cho đến ngày nay, Giáo Hội Công Giáo vẫntuân theo tiêu chuẩn Phúc Âm. Theo đó, Giáo Hội không hủy bỏ hay dập tắt nhữnggiá trị thiện hảo, liêm chính, chân thành của các dân tộc. Âu cũng vì bản tínhnhân loại, dù còn mang dấu vết sự sa ngã của tổ tông, song vẫn giữ trong nộitâm một căn bản tự nhiên mà ánh sáng và ân sủng Thiên Chúa có thể soi chiếu,dinh dưỡng và nâng lên tới một mức độ đức hạnh, một nếp sống siêu nhiên đíchthực. Cũng vì vậy mà Giáo Hội không bao giờ miệt thị, khinh chê tư tưởng cũngnhư nghệ thuật hoặc văn hóa của người không Công giáo. Trái lại, Giáo Hội đãtừng góp phần thanh luyện hoặc bổ túc để đi đến chỗ hoàn hảo. Trải qua các thếkỷ, Giáo Hội đã thánh hóa những phong tục cũng như những truyền thống chânchính của các dân tộc. Giáo Hội cũng đã nhiều lần đem nghi lễ của miền này xứnọ sát nhập vào nền phụng vụ của mình, sau khi đã tu chỉnh cả tinh thần và hìnhthức, để ghi nhớ mầu nhiệm hoặc để tôn kính các bậc thánh nhân hay các vị tửđạo (Đức Piô XII: Thông điệp Evangeli praecones, 2-6-1951; Đức Gioan XXIIItrích dẫn tư tưởng này trong thông điệp Princeps Pastorum, 28-11-1959).

3) Đối với các tôn giáo khác, Giáo Hội Công Giáo cũng chủ trương mộtlập trường rõ rệt. Dĩ nhiên Giáo Hội không thể tham dự vào các nghi lễ của cáctôn giáo khác, hoặc coi tôn giáo nào cũng như tôn giáo nào, và lãnh đạm để mặcai muốn hay không muốn tìm xem Thiên Chúa có mạc khải một đạo không sai lầm,trong đó Thiên Chúa được nhận biết, kính mến và phụng thờ. Tuy nhiên, Giáo Hộikhông từ chối công nhận một cách kính cẩn những giá trị tinh thần và luân lýcủa các tôn giáo khác (Đức Phaolô VI, thông điệp Ecclesiam suam, 6-8-1964).Giáo Hội không phủ nhận điều gì vốn là chân lý và thánh thiện của bất cứ tôngiáo nào. Giáo Hội luôn luôn rao truyền Đức Kitô là “đường đi, là chân lý và lànguồn sống” và, trong Đức Kitô, Thiên Chúa làm hòa với muôn vật.

Tuy nhiên Giáo Hội thành tâm và lưu ý cứu xét những hành động và sinhhoạt, những luật pháp và lý thuyết của các tôn giáo khác tuy có sai biệt vớinhững điểm Giáo Hội đề ra, song vẫn mang lại một tia sáng nào đó của chính cáichân lý hằng soi sáng mọi người. Vì thế, Giáo Hội khuyên giục con cái mình tuyvẫn phải giữ đức tin Công giáo tuyền vẹn, nhưng phải làm thế nào để nắm giữ vàphát triển những của cải thiêng liêng, luân lý và những giá trị xã hội, vănhóa, gặp được trong các tôn giáo khác nhờ những buổi hội thảo, sự học hỏi và sựcộng tác với các tín đồ của các tôn giáo này (Công đồng Vatican II, khóa III:Giáo Hội và các tôn giáo ngoài Kitô giáo, ngày 20-11-1964)

Chính lập trường đó của Giáo Hội được đúc kết trong tư tưởng của cácĐức Giáo Hoàng và trong đệ nhị Công đồng Vatican, đã giải thích lý do của quyếtđịnh Tòa Thánh, khi cho áp dụng huấn thị Plane compertum est tại Việt Nam ngàynay. Và cũng chiếu theo tinh thần đó, các Giám mục hội nghị tại Đà Lạt trongnhững ngày 12, 14-06-1965 đã cho công bố thông cáo này.

II. Thể thức áp dụng Huấn thị Plane compertum est

1) Nhiều hành vi cử chỉ xưa kia tại Việt Nam, có tính cách tôn giáo,nhưng nay vì sự tiếp xúc với bên ngoài và vì tâm tình, tập quán đã thay đổinhiều, nên chỉ còn là những phương cách biểu lộ lòng hiếu thảo tôn kính đối vớitổ tiên và các bậc anh hùng liệt sĩ. Những cử chỉ, thái độ, nghi lễ có tínhcách thế tục, lịch sự và xã giao đó, Giáo Hội Công Giáo chẳng những không ngăncấm mà còn mong muốn và khuyến khích cho nó được diễn tả bằng những cử chỉriêng biệt của mỗi nước, mỗi xứ và tùy theo trường hợp.

Vì thế, những cử chỉ, thái độ và nghi lễ tự nó hoặc do hoàn cảnh, cómột ý nghĩa thế tục rõ ràng là để tỏ tinh thần ái quốc, lòng hiếu thảo, tônkính hoặc tưởng niệm tổ tiên và các bậc anh hùng liệt sĩ (như treo ảnh, hình, dựng tượng, nghiêng mìnhbái kính, trưng hoa đèn, tổchức ngày kỵ, giỗ...) thì được thi hành và tham dự cách chủ động.

2) Trái lại, vì có nhiệm vụ bảo vệ đức tin Công Giáo được tinh tuyền,Giáo Hội không thể chấp nhận cho người giáo hữu có những hành vi cử chỉ, hoặctự nó, hoặc do hoàn cảnh có tính cách tôn giáo trái với giáo lý mình dạy.

Vì thế, các việc làm có tính cách tôn giáo không phù hợp với giáo lýCông Giáo (như bất cứ lễ nghi nào biểu lộ lòng phục tùng và sự lệ thuộc củamình đối với một thụ tạo nào như là đối với Thiên Chúa), hay những việc dị đoanrõ rệt (như đốt vàng mã), hoặc cử hành ở những nơi dành riêng cho việc tế tự...thì giáo hữu không được thi hành và tham dự. Trong trường hợp bất đắc dĩ, chỉđược hiện diện một cách thụ động như đã ấn định trong giáo luật, khoản 1258 (GL1917).

3) Đối với những việc mà không rõ là thế tục hay tôn giáo, thì phải dựatheo nguyên tắc này, là nếu những hành vi đó, theo dư luận dân chúng địa phươngkhông coi như sự tuyên xưng tín ngưỡng của một tôn giáo (ngoài Kitô giáo), màchỉ biểu lộ một tâm tình tự nhiên, thì được coi như không trái với đức tin CôngGiáo, nên được thi hành và tham dự. Trong trường hợp chưa hết nghi nan, thì cóthể hành động theo tiếng lương tâm lúc ấy: nếu cần, thì phải giải thích chủ ýcủa mình một cách khéo léo, hợp cảnh, hợp thời. Sự tham dự cũng chỉ được cótính cách thụ động.

Đó là những nguyên tắc chung, giáo hữu cần phải dựa vào mà xét đoántheo lương tâm và hoàn cảnh. Trong trường hợp hồ nghi, mọi người liên hệ khôngđược theo ý riêng mình, mà sẽ phán đoán theo chỉ thị của Tòa Thánh và bàn hỏivới các giáo sĩ thành thạo.

Yêu cầu quý cha phổ biến rộng rãi và giải thích tường tận thông cáo nàykhông những trong các nhà thờ mà cả mỗi khi có dịp, không những cho anh em giáohữu mà cả cho người ngoài Công Giáo. Các vị phụ trách Công Giáo Tiến Hành cũng phải lấy thôngcáo này làm đề tài học tập cho các hội đoàn trong các buổi họp và các khóa huấnluyện.

Làm tại Đà Lạt, ngày 14tháng 6 năm 1965

Sacerdos-Linh Mục NguyệtSan, số 43, tháng 7-1965, trang 489-492

§1 Người tín hữu không đượcphép tham dự cách chủ động bằng bất cứ cách nào, hoặc tham dự một phần trongcác nghi thức của người không Công giáo.

§2 Có thểchước chuẩn cho người tín hữu hiện diện cách thụ động, hay chỉ có tính cách bềngoài vì trách nhiệm dân sự hoặc vì danh tiếng, bởi có lý do quan trọng, trườnghợp nghi ngờ đã được Giám mục xác nhận. Trong các lễ an táng người không Cônggiáo, các đám cưới và những cuộc lễ long trọng tương tự, miễn là không có nguyhiểm làm gương mù và sinh lợi. 


QUYẾTNGHỊ VỀ
LỄ NGHI TÔN KÍNH ÔNG BÀ TỔ TIÊN

Chúng tôi, các Giám mục chủ tọa khóa hội thảo VII về Truyền Bá Phúc Âmtoàn quốc, tại Nha Trang ngày 12-14 tháng 11 năm 1974, đồng chấp thuận cho phổbiến việc thi hành trong toàn quốc, những quyết nghị của Ủy Ban Giám mục vềTruyền Bá Phúc Âm ngày 14.6.1965, về các lễ nghi tôn kính Ông Bà Tổ Tiên, nhưsau:

“Để đồng bào lương dân dễ dàng chấp nhận Tin Mừng, hội nghị nhận định:Những cử chỉ thái độ, lễ nghi (sau này) có tính cách thế tục lịch sự xã giao đểtỏ lòng hiếu thảo, tôn kính và tưởng niệm các Tổ Tiên và các bậc anh hùng liệtsĩ, nên được thi hành và tham dự cách chủ động” (Thông cáo Hội Đồng Giám MụcViệt Nam 14.06.1965).

1. Bàn thờgia tiên để kính nhớ Ông Bà Tổ Tiên được đặt dưới bàn thờ Chúa trong gia đình,miễn là trên bàn thờ không bày biện điều gì mê tín dị đoan, như hồn bạch.

2. Việc đốt nhang hương, đèn nến trên bàn thờ gia tiên và vái lạy trướcbàn thờ, giường thờ Tổ tiên, là những cử chỉ thái độ hiếu thảo tôn kính, đượcphép làm.

3. Ngày giỗ cũng là ngày “kỵ nhật” được “cúng giỗ” trong gia đình theophong tục địa phương miễn là loại bỏ những gì là dị đoan mê tín, như đốt vàngmã, và giảm thiểu cùng canh cải những lễ vật biểu dương đúng ý nghĩa thành kínhbiết ơn Ông Bà, như dâng hoa trái, hương đèn.

4. Trong hôn lễ, dâu rể được làm “Lễ Tổ, Lễ Gia Tiên” trước bàn thờ,giường thờ Tổ tiên, vì đó là nghi lễ tỏ lòng biết ơn, hiếu kính trình diện vớiÔng Bà.

5. Trong tang lễ được vái lạy trước thi hài người quá cố, đốt hương váitheo phong tục địa phương để tỏ lòng cung kính người đã khuất cũng như Giáo Hộicho đốt nến, xông hương nghiêng mình trước thi hài người quá cố.

6. Được tham dự nghi lễ tôn kính vị thành hoàng quen gọi là phúc thầntại đình làng, để tỏ lòng cung kính biết ơn những vị mà theo lịch sử đã có côngvới dân tộc hoặc là ân nhân của dân làng, chứ không phải là mê tín như đối vớicác “yêu thần, tà thần”.

Trong trường hợp thi hành các việc trên đây sợ có sự hiểu lầm nên khéoléo giải thích qua những lời phân ưu khích lệ, thông cảm… Đối với giáo dân, cầnphải giải thích cho hiểu việc tôn kính Tổ Tiên và các vị anh hùng liệt sĩ theophong tục địa phương, là một nghĩa vụ hiếu thảo của đạo làm con cháu, chứ khôngphải là những việc tôn kính liên quan đến tín ngưỡng, vì chính Chúa cũng truyềnphải “thảo kính cha mẹ”, đó là giới răn sau việc thờ phượng Thiên Chúa.

                     TạiNha Trang, ngày 14.11.1974

                     Kýtên:

- Philiphê Nguyễn Kim Điền, TGM Huế

- Giuse Trần Văn Thiện, GM Mỹ Tho

- Giacôbê Nguyễn Văn Mầu, GM Vĩnh Long

- Giacôbê Nguyễn Ngọc Quang, GM Cần Thơ

- Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, GM Nha Trang

- Phêrô Nguyễn Huy Mai, GM Ban Mê Thuột

- Phaolô Huỳnh Đông Các, GM Qui Nhơn


.2
ĐÁP ÁN SAU 50 NĂM

01
TRÁNH BỊ NGỘ NHẬN MỘT LẦN NỮA

 

Lắm người, không những ngoàiCông giáo cả không ít tín hữu Công giáo hiểu quan điểm mới của Giáo hội Cônggiáo cách quá đơn giản, tưởng rằng qua việc cho phép tái lập bàn thờ gia tiên,cúng giỗ và nhang đèn,... Giáo hội cũng chấp nhận luôn cả những tiểu tiết củadị đoan mê tín. Đây là một điểm hết sức quan trọng cần xác định ngay từ đầu đểtránh ngộ nhận.

Quan điểm mới của Giáo hội Cônggiáo, được khẳng định vào năm 1964-1965, dựa trên bước tiến tích cực về phonghóa, "những tin tưởng sai lạc kia cũng không còn phải là chuyện chung củaquảng đại quần chúng", tuy nhiên sang đầu thế kỷ 21, diễn biến thực tế lạirất đáng lo ngại, người tín hữu Công giáo cần biết nhận định và chọn lựa sángsuốt.

Những năm 1930, cuộc vậnđộng của các tác giả Tự Lực Văn Đoàn trên các báo Phong Hóa, Ngày Nay cũng nhưqua các tiểu thuyết của họ, đã giúp thay đổi được não trạng quần chúng, phá đổđược nhiều tệ đoan xã hội, cách riêng là những mê tín về phong thủy, phươnghướng, ngày giờ, đồng bóng. Tiếc thay, vài chục năm trở lại đây, do chạy theolợi nhuận du lịch, các nơi đã đua nhau phục hồi các lễ hội dân gian cách thiếuchọn lọc, mở đường cho nạn mê tín lại lan tràn cách tệ hại.

Mở Google, gõ "mêtín", ta gặp hằng ngàn bài lên tiếng về một tệ nạn mới của xã hội: cầu cơ,xin keo, xin xăm, coi ngày giờ, xem hướng, đốt vàng mã, ông địa, thần tài...Người ta dựng nên cả những văn phòng, những trung tâm nghiên cứu khoa học vềcõi âm, để hiện đại hóa và hợp pháp hóa việc buôn thần bán thánh. Có cả nhữngbậc trí thức không vững lập trường, hoặc vì ham lợi, ham danh, đua đòi hoặc vìham vui đã chạy theo những sự mê tín đáng tiếc. Truyền thông đại chúng đã cónhiều đợt lên tiếng vạch trần những chuyện vớ vẩn ấy. Những người nhờ một nhàngoại cảm tìm mộ rồi kiểm tra chéo bằng một nhà ngoại cảm khác đều gặp kết quảtrớ trêu dở khóc dở cười. Những anh chị em ngoài Kitô giáo giữ vững lương triđều nhất quyết không tìm thông tin về quá khứ từ bất cứ hình thức đồng cốt nào,vì họ thấy trước sẽ lâm vào tình trạng khó xử: tin cũng không được mà chẳng tincũng không được.

Do thiếu ánh sáng mặc khải,người ta không biết rằng kẻ thù của loài người là ma quỷ luôn xúi giục mọingười mê theo của cải vật chất. Ma quỷ đầy ghen tương, nó đã đánh mất hạnh phúcđời đời nên quyết không để cho con người hưởng được hạnh phúc ấy. Mọi hoạt độngcủa nó đều nhằm lôi kéo con người lìa xa nguồn cội là Thiên Chúa và đánh mấthạnh phúc đích thật trong Ngài. Nó quá rõ không gì có thể mê hoặc lòng ngườicho bằng lợi (x. Mt 6.19-21.25-34; 19,23-26) và danh (x. Lc 14,7-11; Ga 5,44).Bài học quanh ta sờ sờ trước mắt, biết bao người vì chút tư lợi và hư danh màbán rẻ lương tâm, quên mất quyền lợi của quốc gia dân tộc, biết bao kẻ giàu lênmột chút là cậy của khinh người, coi thường cả trời đất, biết bao gia đình tanrã vì tiền bạc, biết bao tổ chức tốt lành bỗng chốc một sáng một chiều lòngngười ly tán chỉ vì tiền bạc của cải...

02
TRÁNH BỊ NGỘ NHẬN MỘT LẦN NỮA (2)

 

Như thế, trong cái nhìn củangười Công giáo, đàng sau những biểu hiện xã hội còn có cả một thế lực vô hìnhlà quỷ dữ lừa dối (x. Ga 8,44). Là những thụ tạo vô hình, nó lừa gạt những kẻnhẹ dạ dễ như bỡn. Nó mặc lốt thần ánh sáng (x. 2Cr 11,14), lợi dụng đục nướcthả câu, nó cung cấp những kết quả "thần diệu" khiến người ta tintheo nườm nượp. Kinh nghiệm cho thấy, không riêng lãnh vực này mà trong mọilãnh vực, kẻ thù của loài người là ma quỷ biến báo đủ cách, dùng đủ thứ mánhlới chỉ cốt để giành giật linh hồn mọi người khỏi tình thương nhân hậu và đòihỏi của Thiên Chúa Tạo Hóa là Cha Chung giàu lòng thương xót. Chính nó đã từchối tình thương Thiên Chúa và đánh mất hạnh phúc đời đời cho nên ghen tị khôngmuốn để con người được hưởng hạnh phúc làm con cái Thiên Chúa. Mục đích cuốicùng của nó là lừa gạt để con người tự đánh mất hạnh phúc đời đời.

Đây là điều hết sức quantrọng, can hệ đến hạnh phúc đời đời của chính mình. Người tín hữu cần đề caocảnh giác để khỏi bị cuốn vào những thực hành đi ngược với đức tin chân chínhvà để khỏi làm cho người ngoài một lần nữa hiểu lầm quan điểm của Giáo hộiChúa. Người Công giáo tôn trọng những chọn lựa của các anh chị em ngoài Cônggiáo, nhưng tôn trọng không đồng nghĩa với tán thành... Không nên có những phêbình kết án gay gắt nhưng cũng không dễ dãi hùa theo. Cần khẳng định rằng khôngphải hễ cứ có một số người có học chạy theo là mê tín trở thành chuyện đángtin.

Người Công giáo cần nhớ lạiGiáo hội Việt Nam đã phải trả giá đắt như thế nào để giữ vững đức tin cho tínhữu, thà bị hiểu lầm rằng theo đạo là bỏ ông bỏ bà còn hơn là để cho tín hữurơi vào lầm lạc mê tín.

Cần nhớ rằng ma quỷ có bềdày kinh nghiệm bằng lịch sử loài người và đang thực hiện một công cuộc xuyênlịch sử: đạp đổ lòng tin vào Thiên Chúa. Để dạy người ta tin vơ thờ quấy thayvì tin thờ Thiên Chúa, nó tùy cơ ứng biến, tận dụng mọi cách thế, mọi cơ hội vàhoàn cảnh, chỉ cốt sao lung lạc được đức tin người đời, dẫn dụ họ tin bất cứcái gì cũng được, miễn là đừng tin vào Thiên Chúa chân thật. Ở một thời mà đêmvề thôn quê chìm trong tăm tối, nó hiện hình quấy phá theo một kế hoạch có sẵn,gây sợ hãi để khiến người ta dần dần hình thành những tin tưởng lệch lạc có hệthống. Khi nông thôn được điện khí hóa, nó nhảy vào phim ảnh, TV, video. Đếnthời kỹ thuật số nó "phục vụ" trong điện thoại di động và internet. Ởmọi thời, nó tìm mọi cách khiến người ta tham lam, si mê, thù hận...

Sau bao nhiêu năm chiến tranh,thiên hạ có nhu cầu tìm mộ thân nhân, nó mau mắn phục vụ bằng cách khoác áo hồnngười chết, giả dạng tổ tiên hiện về mách bảo, vv.. Nó xúi giục người ta pháthai rồi lại mượn danh oan hồn những thai nhi bị sát hại để gây âu lo, tuyệtvọng.

Ma quỷ lộng giả thành chân,dùng thủ thuật pha trộn 50% điều sai với 50% điều đúng, có khi 90% đúng chỉ cần10% sai cũng đủ dần dần dẫn người ta vào sai lạc.

Với những chạy theo chuyệngọi hồn người chết, nó cung cấp những chi tiết gây tin tưởng: Giọng nói y hệt -lịch sự và thân thiện. Thế nhưng, đã là quỷ thì chuyện nói giống giọng ngườinày người nọ hoặc cung cấp những chi tiết ngoạn mục về vị trí thi hài người đãchết còn dễ hơn trẻ con chơi game. Để thu hút lòng tin của người lành, nó cònđóng vai những bậc tiền hiền hoặc danh nhân lịch sử rất lịch sự, thân thiện vàđầy nhân ái. Thậm chí, nó còn giả dạng Cha Trời giáng cơ dạy bảo những điều cóvẻ lành thánh khiến thiên hạ bị lừa.

Muốn dựng lại quá khứ, tacần kiên nhẫn tìm tòi các chứng liệu bằng văn bản, bi ký và các bút tích khác,cần đầu tư cho các bạn trẻ học chuyên sâu về Hán Nôm và lịch sử, tuyệt đốikhông chạy theo những chuyện vu vơ nhảm nhí. Người tín hữu Chúa thà chấp nhậnvất vả và kiên trì để biết đúng sự thật hơn là chạy theo những cách giải quyếtdễ dãi để rơi vào những giả dối lầm lạc do ma quỷ lừa gạt. Bởi vì, chỉ có sựthật mới đem lại tự do, bình an và hiệp nhất.

03
CHUNG MỐI ĐỒNG CẢM

Sau khi đưa lên mạng bài số16 trong loạt bài “50 năm thờ cúng Tổ Tiên – loan Tin mừng cho dòng họ”, tôinhận được bài viết của tác giả Mạc Tường tựa đề “Như gấm thêm hoa”, trùng khítvới những điều tôi đang viết. Xin được giới thiệu cùng quí độc giả.

NHƯ GẤM THÊM HOA

Thấm thoát đã gần nửathế kỷ từ ngày Tòa Thánh chấp thuận cho giáo dân Việt Nam được thờcúng ông bà, tổ tiên theo cung cách cổ truyền, miễn là đừng thực hiệnnhững hành vi mang tính dị đoan. Giáo Hội Công giáo Việt Nam cũng đãcổ võ khuyến khích thực hiện việc thờ cúng ông bà tổ tiên theo tinhthần trên. Riêng Giáo Phận Quy Nhơn, gần đây các bài giáo huấn số 32 và34 của lịch phụng vụ năm C được rao đọc trước các thánh lễ Chúa Nhậtđã nhấn mạnh tính quan trọng và cấp thiết trong việc thiết lập bànthờ gia tiên, thực hiện các nghi thức lễ bái, nhất là những dịpgiỗ, chạp, lễ tết, để nhờ đó có thể sớm xóa tan được thành kiến“theo đạo bỏ ông bà”.

Sau gần nửa thế kỷ,được khuyến khích hòa nhập với cộng đồng dân tộc, hầu xóa sạch nhữnghiểu lầm và hàn gắn những khoảng cách không đáng có giữa người Cônggiáo và anh chị em lương dân, thử hỏi chúng ta đã hòa nhập đến đâu?

Thật đau lòng và đáng longại! Hiện nay, trong các gia đình Công giáo, một số đã có bàn thờ gia tiên,nhưng thử hỏi có bao nhiêu bàn thờ được bài trí một cách đàng hoàng,nghiêm cẩn như ở các gia đình lương dân?

Bước vào nhà người Cônggiáo, trên bàn thờ Chúa cũng như trên bàn thờ gia tiên, thật khó màtìm thấy một cặp nến màu đỏ như ở các gia đình lương dân. Tại saochúng ta cứ nhất thiết phải dùng nến trắng trong khi nến đỏ đã đượcdùng rất lâu ở Việt Nam trước khi có những cây nến màu trắng lạ mắtcó nguồn gốc từ Châu Âu?

Trong những dịp lễ lớn chúngta dâng lên bàn thờ Thiên Chúa, bàn thờ gia tiên những thức ăn, thứcuống, bánh mứt, rượu bia, nước ngọt… Nhưng liệu chúng ta có quen vớiviệc dâng lên một mâm cơm cúng như anh chị em lương dân quen làm không?

Khi trong gia đình Cônggiáo có tang sự, chúng ta thường rước đoàn kèn Tây (“rất tốn kém vàthổi những bản nhạc đời vô tội vạ”, như một Cha sở đã  nói). Chúng ta có đủ can đảm rước mộtđoàn nhạc bát âm, với những nhạc cụ dân tộc (chỉ diễn những bảnnhạc thuộc về tang lễ) như anh chị em lương dân thường làm không? Cònbao nhiêu điều tưởng chừng như nhỏ nhặt, thực ra lại là hố sâu ngăncách, khó bề gần gũi giữa người Công giáo và anh chị em lương dân.

Nếu chúng ta không quyếtliệt về nguồn, không triệt để canh tân, loại bỏ những cách biệt, thiếtnghĩ việc xóa định kiến “theo đạo bỏ ông bà” chắc chắn còn xa, xavời lắm!

Mong rằng tất cả nọingười Công giáo Việt Nam ý thức được tầm quan trọng và cơ hội mà HộiThánh đã trao cho chúng ta. Không lý gì chỉ vì màu của cây nến; khônglý gì chỉ vì chút ngại ngần trước mâm cơm cúng; không lý gì chỉ vìkhông quen với dàn nhạc bát âm, và chỉ vì những tiểu tiết tương tự mà côngviệc truyền giáo cứ phải mãi mãi bị ngáng trở!

Những hố sâu, rào cảncần được dỡ bỏ, san bằng để mọi người Việt Nam dễ cảm nhận Đạo Cônggiáo phù hợp với tấm lòng, tín ngưỡng, phong tục, tập quán của dân tộcViệt Nam. Được như thế, trong một viễn cảnh không xa ta có thể thấyhình ảnh các thợ gặt rộn rã với những bó lúa vàng trĩu nặng trêntay trên khắp cánh đồng truyền giáo Việt Nam bao la bát ngát. Và ngàyấy Giáo Hội Công giáo Việt Nam sẽ “như gấm thêm hoa”.

MẠC TƯỜNG

04
QUYỂN GIA LỄ CÔNG GIÁO HAY KINH NGUYỆN GIA ĐÌNH

 

Thông cáo 1965 kết thúc:“Yêu cầu quý cha phổ biến rộng rãi và giải thích tường tận thông cáo này khôngnhững trong các nhà thờ mỗi khi có dịp, không những cho anh em giáo hữu mà chocả người ngoài Công giáo. Các vị phụ trách Công giáo Tiến hành cũng phải lấythông cáo này làm đề tài học tập cho các hội đoàn trong các buổi họp và cáckhóa huấn luyện”.

Nói chung, các cha đều cótrình bày trên tòa giảng, cả trong những dịp tang lễ và hôn lễ, trong các lớpdự bị hôn nhân. Cũng có những người muốn thúc đẩy cho việc tái hội nhập vào vănhóa dân tộc tiến nhanh nhưng hình như không mấy ai hưởng ứng. Bài viết của anhMạc Tường tiêu biểu cho nỗi âu lo thao thức của những người quan tâm tới việckhai mở con đường loan Tin mừng qua việc thờ cúng Tổ Tiên. Phải nói rằng, sau50 năm, nếu để khai báo thành quả, hầu như chúng ta chưa làm được gì mấy. Lắmngười bảo việc áp dụng huấn thị “Plane compertum est” cách nửa vời càng dễ gâyphản tác dụng vì dễ khiến người lương nghĩ rằng người Công giáo không thật lòngtrong việc này.

Sau những năm tích cực nhậpcuộc tôi nghĩ sự trì trệ có hai lý do. Ngoài lý do tự nhiên là thiếu tài liệuhướng dẫn cụ thể, hẳn còn có một lý do siêu nhiên khá bất ngờ là linh tính đứctin của người tín hữu chưa cho phép họ mạnh dạn tiến xa. Ở chia sẻ sau, tôi sẽnói tới lý do siêu nhiên, còn ở đây xin trình bày lý do tự nhiên.

Thật ra, cho tới nay chưa cótài liệu hướng dẫn thực hành chính thức nào đi xa hơn những nguyên tắc tronghai bản thông cáo 1965 và 1974. Nhiều giáo dân muốn áp dụng nhưng có lẽ chỉbiết cách mơ hồ, không rõ phải làm gì trong thực tế.

Đi tìm hiểu cách thực hànhcủa anh chị em lương dân, tôi sớm nhận ra rằng các truyền thống đạo hiếu đượcduy trì và phổ cập đồng bộ trong dân chúng có lẽ là do sự góp phần rất lớn củamột quyển sách mỏng tên là “Thọ Mai gia lễ”. Cũng có một vài quyển gia lễ khácnhưng có lẽ quyển Thọ Mai thịnh hành nhất và có ảnh hưởng rộng nhất. Nay nếumuốn cho việc áp dụng thông cáo của Hội Đồng Giám Mục đi sâu vào tận các giađình, cũng cần có một quyển “Gia lễ Công giáo” với những chỉ dẫn cặn kẽ.

QUYỂN GIA LỄ CÔNG GIÁO HAY KINH NGUYỆN GIA ĐÌNH

Đang khi tôi suy nghĩ tìmcách thực hiện thì Đức Cha Phaolô Nguyễn Văn Hòa, giám mục Nha Trang, sau khidự Thượng hội đồng Giám mục về gia đình, đã giao cho tôi dịch tông huấn hậuThượng Hội Đồng Giám Mục. Tôi dịch xong và trình cho ngài thì ngài bảo làm mộtsưu tập những kinh theo tinh thần mới để dùng cho các gia đình. Yêu cầu ấy củangài cho tôi hiểu ra rằng quyển “Gia lễ Công giáo” không gì khác hơn là mộtquyển “Kinh nguyện Gia đình”, với những đầy đủ các chỉ dẫn cần thiết cho cácgia đình, trong đó có những chỉ dẫn về tang lễ, kỵ giỗ và việc thờ cúng Ông Bà.Tôi đúc kết một bản thảo, đem in lụa dùng thử rồi sửa đi sửa lại. Khoảng năm1986 thì có được ấn bản mới. Đức Cha Phaolô duyệt qua và cho phép dùng. Sau đócuối năm 1997 ngài cho imprimatur và Tòa Giám mục Nha Trang đã chính thức xinphép xuất bản và in lại nhiều lần.

Quyển sách gồm hai phần.Phần đầu là sưu tập một số các kinh cũ, kinh mới, bài hát, thánh vịnh, lờinguyện. Phần hai là những chương trình giờ kinh khác nhau trong gia đình. Trongđó, mục thứ năm là “Những dịp đặc biệt trong gia đình”, với những hướng dẫn vềcúng lễ gia tiên, dọn tất niên, tưởng nhớ gia tiên dịp tết nguyên đán, lễ giaothừa, lễ minh niên, lễ bổn mạng một người trong gia đình, giáp năm ngày rửatội, thôi nôi hoặc sinh nhật, nghi thức lễ cưới ở gia đình, giáp năm ngày cưới,lễ giỗ và làm phép nhà. Mục thứ sáu là chăm sóc bệnh nhân và cầu nguyện chongười hấp hối. Mục thứ bảy là “Cầu nguyện cho tín hữu đã qua đời”, với nhữnghướng dẫn về viếng thi hài, canh thức cầu nguyện tại tang gia, nhập quan, độngquan và di quan, trước khi hạ huyệt, nghi thức hoả táng và nghi thức tiếp nhậndi cốt về gia đình. Mỗi mục nhỏ ấy đều gồm những chỉ dẫn thực hành (giống nhưcác “lời bảo” ngày xưa) và những kinh hoặc bài hát thích hợp (lấy ở phần đầucủa quyển sách). Xin nêu mục nhỏ thứ nhất làm minh họa.

CÚNG LỄ GIA TIÊN (phiên bản 1986)

Thiên Chúa đã tự xưng làThiên Chúa của các tổ phụ. Ngài không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng làThiên Chúa của người sống (Mt 22,32). Bên kia cái chết các bậc tiền nhân nào đãthực sự “sống khôn thác thiêng” đều đang sống trong Thiên Chúa. Các tín hữu ởtrần gian kết hợp với họ trong mầu nhiệm các thánh thông công. Do đó, khi nhớđến gia tiên tổ phụ, người công giáo không làm một sự thờ phượng ở ngoài sự thờphượng Thiên Chúa, nhưng thật ra là để nhờ đó mà thêm lòng biết ơn và kính mếnThiên Chúa là nguồn mọi tình phụ tử trên trời dưới đất (Ep 3,14). Đàng khác,khi nhớ đến các tổ tiên theo huyết thống, người công giáo cũng nhớ đến các tổphụ trong đức tin.

Người Việt Nam có thói quen rất tốt: mỗi khigia đình có việc buồn vui đều luôn tưởng nhớ gia tiên và biểu lộ tâm tình ấybằng việc cúng lễ. Người tín hữu công giáo Việt Nam tiếp nhận truyền thống tốtđẹp ấy với một cái nhìn chính xác, phù hợp với đức tin Kitô giáo.

Mỗi gia đình nên có một bànthờ gia tiên đơn sơ. Mà đã có bàn thờ thì nhớ thắp hương, đừng để hương tànkhói lạnh.

Hình thức sơ đẳng nhất củalễ gia tiên là mỗi sớm, mỗi tối, mỗi lần ra khỏi nhà và mỗi lần đi đâu về, tathắp một cây nhang cắm lên bàn thờ và thinh lặng cầu nguyện một phút.

Ngày tết ngày giỗ nên giữmột cây hương cháy suốt ngày. Tránh những chi tiết trái đức tin và tránh tốnkém không hợp tình hợp lý. Về hình thức, chỉ cốt sao biểu lộ được tấm lòng vàgiúp các cháu nhỏ học được lòng biết ơn tổ tiên và biết ơn Thiên Chúa Tạo Hoá.

Khi cúng lễ, cần nhắc chocác cháu nhỏ nhớ: Đức tin công giáo dạy ta biết rằng người quá cố không cần đếnthức ăn vật chất, các lễ vật chỉ nhằm bày tỏ lòng biết ơn kính nhớ mà thôi.

Lễ gia tiên thường do vịtrưởng tộc hoặc người cha trong gia đình chủ lễ. Nếu vị này vắng mặt thì vợhoặc con trai hoặc con dâu trưởng chủ lễ.

Chương trình đơn giản nhưsau:

1. Thắp hương đèn trên bànthờ

2. Dấu thánh giá

3. Kinh Lạy Cha

4. Tạ ơn Chúa:

Xướng: Ta hãy tạ ơn Thiên Chúa đãđưa các bậc tổ tiên ta về với Ngài.

Đáp:

A. Chúa trọn bề nhân nghĩa với tổ tiên

Và nhớ mãi lời xưa giao ước

B. Chúađã thề với tổ phụ Ab-ra-ham

Rằng sẽ giải phóng ta khỏi địch thù

5. Cầu cho các tín hữu đã qua đời:

X. Ta hãy cầu nguyện cho cáclinh hồn ở luyện ngục

Đ.

A. Chúng con cậy vì Danh Chúa nhân từ

Cho các đẳng linh hồn đượclên chốn nghỉ ngơi

B. Hằng xem thấy mặt Đức Chúa Trời sáng láng vui vẻ vô cùng. Amen.

6. Lời nguyện với tổ tiên (do vị chủ lễ đọc):

Kínhlạy anh linh các bậc tổ tiên ông bà nội ngoại hai bên, cùng các bác, các chú,thím, cô dì, cậu mợ và mọi anh chị em đã qua đời.

Hôm naynhân ngày ... (nhân ngày đầu năm, cuối năm, hoặc nhân một ngày một dịp nàokhác), chúng con xin thắp nén hương bày tỏ lòng tưởng nhớ và biết ơn. Kính xinthương cầu nguyện cho chúng con được bình an mạnh khoẻ, được hoà thuận êm ấm vàđược mọi điều tốt đẹp như ý Thiên Chúa muốn ...

(Vị chủ lễ vái 4 vái. Nhữngngười hiện diện tuần tự tiến lên vái mỗi người 4 vái và cầu nguyện riêng. Aikhông lên vái cũng không sao. Đến đây kết thúc trong thinh lặng hoặc cũng có thểhát một bài tạ ơn để kết thúc).

XIN GÓP Ý

Đó là mục thứ 18 trong phầnII của quyển “Kinh Nguyện Gia Đình” và cũng là mở đầu cho phần “Gia lễ Cônggiáo”. Có thể một số độc giả đã từng sử dụng quyển sách và biết phần hướng dẫnở các mục khác tương tự. Quý độc giả nào chưa biết quyển sách, xin tải xuống từđịa chỉ:

http://gpquinhon.org/qn/download/tu-duc/Kinh-nguyen-gia-dinh/

Đóng góp của tôi trong quyểnsách chỉ mới là một cố gắng cá nhân. Tôi đã cố gắng bám sát những trường hợp cóthật và đa dạng để xây dựng các lời chỉ dẫn cho đúng thực tế. Dù vậy, còn rấtnhiều thiếu sót.

Đã hơn 25 năm. Cả những bàihát trong đó đã nhiều bài bị đào thải. Nay chuẩn bị mừng 50 năm áp dụng huấn thịPlane compertum est, Ban Mục vụ Văn hóa Giáo phận Qui Nhơn đang duyệt lại toànbộ để phát hành với tựa đề mới là SÁCH GIA LỄ CÔNG GIÁO.


05
50 NĂM LINH TÍNH ĐỨC TIN – NGHI THỨC CÚNG GIỖ

 

Xin được trình bày lý do thứhai, lý do siêu nhiên, khiến  việc ápdụng huấn thị Plane compertum est trong 50 năm qua tiến rất chậm. Suy cho kỹ,chúng ta sẽ phải cảm tạ Thiên Chúa vô cùng vì sự an bài kỳ diệu Ngài đã làm choGiáo hội tại Việt Nam trong lãnh vực này, nơi cuộc tranh luận 1610-1742 xưa kiacũng như nơi sự trì trệ 50 năm qua. Mãi đến hôm nay, cả những linh mục đã đọckỹ hai thông cáo 1965 và 1974 vẫn thấy ngập ngừng liệu có nên khuyến khích giáodân bày đồ cúng lên bàn thờ với các thức ăn như xôi, chè, thịt, cá. Sự ngậpngừng ấy không phải không có lý do. Vậy đâu là trở ngại và đâu là cách giảiquyết?

Sau hơn 20 năm tích cực nhậpcuộc, nghe ngóng, xem xét, suy tư và sáng tạo thể nghiệm, tôi nhận ra rằng nơisự dè dặt ấy có ơn của Chúa Thánh Thần rất rõ. Sự dè dặt ấy có thể nói là mộtminh họa sống động hiếm hoi cho trường hợp thứ ba của ơn vô ngộ là cảm thức đứctin của Dân Chúa mà cha Phi Khanh Vương Đình Khởi gọi dịch rất chính xác là“linh tính đức tin” của các tín hữu (x. Sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo,số 889). Mặc dù hai thông cáo 1965 và 1974 mở rộng cửa, cả các linh mục lẫngiáo dân đều cảm thấy có cái gì đó chưa ổn. Người ta linh cảm rằng ở đây, giữaý nghĩa dấu chỉ tượng trưng và những ngộ nhận dẫn đến mê tín, ranh giới thậtmong manh. Đang khi có những tác giả mới như Khải Chính Phạm Kim Thư (Nguyêntắc cúng, khấn, vái và lạy – dactrung.net) diễn giải các chi tiết một cáchtrong sáng, gần gũi với cách nhìn của Giáo hội Công giáo thì các sách nghi lễhiện hành kết thúc các văn tế với lời mời tiền nhân về “phối hưởng” các lễ phẩm(ví dụ trong quyển “Tập Văn tế mẫu Cúng Gia Tiên”, Thái Vy biên soạn, Nxb ThanhHóa,2007). Các bài văn tế hiện dùng thường dịch lại sát các bản văn xưa và cũngmang ý nghĩa mời người xưa về hưởng các lễ phẩm. Nói tắt, vẫn còn một tỉ lệ lớnbà con lương dân nghĩ rằng Ông Bà Tổ Tiên về hưởng của cúng.

Có nhìn vào thực tế ấy, tamới hiểu được tính nghiêm túc của cuộc tranh luận kéo dài cả 130 năm từ sau cáichết của cha Matthieu Ricci (1610) và của huấn thị Ex quo singulari. Thực tế ấycũng giúp chúng ta thông cảm với lập trường dứt khoát và cứng rắn của anh emTin lành trong vấn đề “ăn của cúng”.

Những chi tiết văn hóa khihội nhập vào cuộc sống người Kitô hữu phải được mặc lấy một ý nghĩa mới, nhưngđó là ý nghĩa nào? Ở đây, không thể xuề xòa hay nhập nhằng thỏa hiệp.

Thông cáo 1965 nói: “nếucần, thì phải giải thích chủ ý của mình một cách khéo léo, hợp cảnh, hợp thời”,và thông cáo 1974 nói nếu “sợ có sự hiểu lầm nên khéo léo giải thích qua nhữnglời phân ưu khích lệ, thông cảm…”. Thật ra đó là việc vượt quá khả năng người giáodân bình thường. Ngay cả khi họ vẫn nắm vững và biết cách giải thích, khungcảnh thực tế của sự việc thường rất tế nhị, những giải thích như thế sẽ thiếutự nhiên, lắm khi còn vô tình gây những căng thẳng không đáng có.

Để giúp vượt khỏi những ngập ngừng dè dặt kia cũng như những trường hợpkhó xử này, cần có một quyển gia lễ hướng dẫn cặn kẽ cho việc áp dụng huấn thịPlane compertum est, để qua đó cả người giáo lẫn người lương đều có thể hiểucách dễ dàng là Giáo hội muốn dạy gì. Phiên bản “Kinh nguyện gia đình” 1986 củachúng tôi cũng chỉ mới nêu một số đề xuất mang tính dò dẫm. Sau hơn 25 năm thểnghiệm, chúng tôi thấy vấn đề khá rõ. Với phiên bản “Sách Gia lễ Công giáo” sắpấn hành, chúng tôi xin được mạnh dạn đề xuất một bản văn “nghi thức cúng giỗ”như sau. Rất mong được độc giả bốn phương, Công giáo cũng như ngoài Công giáo,góp ý hoàn chỉnh. Xin gửi về: tinmunggiesu@gmail.com

NGHI THỨC CÚNG GIỖ

Việc cầu nguyện trong ngày giỗvừa là để dâng lời cảm tạ Chúa đã giải thoát các bậc tổ tiên, đưa về hưởng nhanChúa, vừa là để cầu xin ơn giải thoát cho những người đang cần được thanhluyện, quen gọi là cầu hồn. Đối với những người mới qua đời, ta nên nhấn mạnhtới việc cầu hồn, còn đối với những người đã qua đời rất lâu năm, ta có thể chútrọng hơn tới việc dâng lời cảm tạ Chúa nhân từ đã thứ tha và giải thoát. Cầnnhớ rằng chúng ta đang sống trong một thế giới lệ thuộc không gian và thờigian, còn tiền nhân đã khuất đang thuộc về một thế giới vượt ngoài không gianvà thời gian, do đó lấy ý niệm “rồi” và “chưa” theo cách ta quen suy nghĩ ở đờinày đem áp dụng cho thế giới đời sau không khỏi có phần khập khiễng. Nói đếnđời sau là ta đang chạm đến những mầu nhiệm vượt khỏi mọi ý niệm cân đo đongđếm. Cũng nên nhớ rằng ngay cả những vị đã chết mà không chịu phép thánh tẩy,ta vẫn có thể tin rằng Thiên Chúa nhân từ và đầy quyền năng đã có cách cứu vớthọ trong Chúa Kitô và nhờ Chúa Kitô.

Cũng đừng quên rằng ta cóthể cầu nguyện với những bậc tổ tiên đang được hưởng hạnh phúc với Thiên Chúa.Nói đúng hơn, ta có thể xin họ cầu nguyện với Chúa cho ta. Khi còn sống, họ đãyêu thương cầu nguyện cho ta, thì khi đã về với Chúa, họ còn yêu thương ta hơnvà lời cầu nguyện của họ còn hữu hiệu hơn.

Bữa ăn giỗ là để phát huy tìnhcảm gia đình và gia tộc, lắm khi là để giúp vượt qua những bất hòa bất thuậntrong cuộc sống, để ai nấy lại thấy ấm tình hiệp thông và hiệp nhất. Do đó, từchương trình đến cách sắp xếp chỗ ngồi, cần làm sao để cả người lớn và trẻ conđều tham dự tích cực, chan hoà trong tình hiệp nhất thân mật. Nên chú trọng hơntới nội bộ gia tộc. Nếu mời vài người khách thì nên liệu sao để sự hiện diệncủa họ không ngăn cản sự thân mật giữa mọi người trong gia tộc.

Trên bàn thờ, có thể dùngnến hồng (ngụ ý xin Chúa ban phúc lành cho mọi người có mặt và vắng mặt) hoặcnến trắng (ngụ ý nói lên lòng tin, cậy và yêu mến Chúa). Cũng có thể dọn mâmcơm trước bàn thờ theo truyền thống dân tộc. Về nghi thức cầu nguyện, có thểtheo một trong ba hình thức sau đây.

A. Hình thức thứ nhất:

- Gia chủ nói đôi lời tuyênbố lý do: giỗ ai, mấy năm, vài nét về người đã khuất (nếu là giỗ chung thì nóichung về những tiền bối liên hệ) và mời mọi người cầu nguyện

- Gia chủ ghi dấu thánh giá,xướng kinh Lạy Cha,

- Có thể đọc vài câu Lời Chúa

- Hát một bài

- Lời nguyện trên của cúng:

 “LạyCha, xin chúc lành cho những của ăn Cha đã rộng lòng ban cho chúng con mà chúngcon dùng để bày tỏ niềm hiệp thông thân thương và quý mến đối với người thânyêu đã khuất. Chúng con cầu xin, nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con. Amen.”

- Lời nguyện lễ giỗ:

Lạy Chúa, chúng con xin ngợi khen cảm tạ Chúa nhân từ đã thương đưa cácbậc tổ tiên chúng con về hưởng hạnh phúc với Chúa. Chúng con cũng xin Chúa đoáithương đến những linh hồn đã qua đời đang cần tới lòng từ bi vĩnh cửu của Chúa,xin đoái thương cho họ sớm được hợp đoàn cùng các thánh Chúa. Chúng con cầu xin, nhờ Đức Kitô, Chúachúng con.

(Có thể thêm: Lạy Chúa làCha rất nhân từ. Chúa dạy chúng con phải giữ lòng hiếu thảo. Hôm nay chúng conhọp nhau để kính nhớ tổ tiên. Xin Chúa trả công bội hậu cho những bậc đã sinhthành dưỡng dục chúng con, và giúp chúng con luôn sống cho phải đạo đối với cácngài. Chúng con cầu xin, nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con.)

X. Chúng con cậy vì DanhChúa nhân từ, xin cho các linh hồn được lên chốn nghỉ ngơi.

Đ. Hằng xem thấy mặt ĐứcChúa Trời sáng láng vui vẻ vô cùng. Amen.

B. Hình thức thứ hai

Chủ sự tuyên bố lý do rồinguyện kinh trước bữa ăn hoặc hát một bài xin Chúa chúc lành rồi mời mọi ngườidùng bữa.

 

C. Hình thức thứ ba

Nếu cử hành nghi thức cúnggiỗ theo truyền thống dân tộc thì thực hiện theo thứ tự sau đây

1. CHUẨN BỊ ĐỒ CÚNG

Sau khi dọn thức ăn, mọingười tề tựu nghiêm trang, chủ lễ cầu nguyện trên của cúng.

2. LỜI NGUYỆN TRÊN CỦA CÚNG

Nhân danh Cha và Con vàThánh Thần

Lạy Cha là Chúa Trời Đất, làCội Nguồn duy nhất và là Hạnh Phúc đích thật của muôn loài. Chúng con cảm tạCha đã ban những lương thực này để nuôi sống chúng con như đã nuôi sống nhữngngười đi trước chúng con. Giờ đây những người đã khuất không còn cần đến những lươngthực này nữa nhưng trước khi chúng con cùng nhau dùng bữa tưởng nhớ (người thâncủa chúng con/họ/các ngài),  chúng conmuốn bày tỏ niềm kính trọng, mến thương và hiệp thông qua dấu hiệu thân thươngcủa bữa ăn. Nhờ đó, chúng con cảm thấy người đã khuất vẫn hết sức gần gũi vớichúng con. Nếu (người thân của chúng con/họ/các ngài) còn vướng mắc những lỗilầm thiếu sót, cúi xin Cha thương sớm hoàn tất cuộc thanh tẩy để (người thâncủa chúng con/họ/các ngài) sớm được hưởng Tiệc vui đời đời. Cúi xin Cha cũngthương cho tất cả chúng con đây một ngày kia được chung hưởng niềm vui NướcTrời với Cha và với những người thân yêu đã đi trước chúng con. Chúng con cầuxin, nhờ Đức Kitô, Con Cha, là Thiên Chúa và là Chúa chúng con, là Đấng hằngsống hằng trị cùng Cha và Chúa Thánh Thần đến muôn thở muôn đời. Amen.

(Nếu có sẵn nước thánh, chủlễ nói những lời sau đây trước khi rảy:

- Thưa anh chị em, chúng tacảm ta Chúa đã ban bí tích Thánh Tẩy để tái sinh chúng ta làm con cái Chúa.Nước thánh chúng ta dùng đây là nước tự nhiên nhưng chúng ta đã xin Chúa chúclành để thành dấu hiệu nhắc chúng ta nhớ đến ơn làm con cái Chúa qua bí tíchThánh Tẩy. Có những người chưa được lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy bằng nước,nhưng lòng đã hướng về Chúa và đã cố gắng sống ngay chính theo lương tâm, thìcũng được Thiên Chúa thanh tẩy trong máu Chúa Kitô. Với nước thánh này rảy trêncủa cúng, chúng ta cảm tạ Chúa đã cho tiền nhân được làm người và hơn nữa, cònđược làm con cái Thiên Chúa và được chung phần hạnh phúc đời đời với Chúa.

(chủ sự rảy nước thánh trêncủa cúng) 

Mọi người cùng đọc chungKinh Lạy Cha.

 

3. VĂN KHẤN

(Văn khấn đọc trước bàn thờ,nên viết ra giấy thật rõ ràng, bỏ những chữ thừa, để khi đọc không lẫn lộn, mấtnghiêm túc)

VĂN KHẤN VỚI MỘT NGƯỜI ĐÃKHUẤT TRONG NGÀY GIỖ RIÊNG

Ông(Bà/Cha/Mẹ/Bác/Chú/Thím/Cô/Dì/Cậu/Mợ/ Anh/Chị/Em) kính mến (hay thân mến),

Hôm nay là ngày giỗ (đầynăm) của Ông (Bà/Cha/ Mẹ/Bác/Chú/Thím/Cô/Dì/Cậu/ Mợ/Anh/Chị/Em). Tất cả chúngcon (chúng tôi) quy tụ về đây để tưởng nhớ.

Chúng con (chúng tôi) khôngquên được hình ảnh của (Ông/Bà/Cha/Mẹ/Bác/Chú/Thím/ Cô/Dì/Cậu/Mợ/Anh/Chị hoặcEm). Dù nay còn phải buồn sầu xa cách vì sự chết, nhưng mai kia chúng ta sẽ lạisum vầy bên nhau trong cõi lòng của Thiên Chúa Tình Yêu. Là con cái Chúa, chúngta biết rằng sự sống thay đổi chứ không mất đi và thời lưu ngụ dưới trần chấmdứt là để nhường chỗ cho hạnh phúc vĩnh cửu trên trời. Chúng con (chúng tôi)họp nhau cầu xin Thiên Chúa là Cha, nhờ công ơn cứu chuộc của Đức Giêsu Kitô,Con Ngài, sớm hoàn tất những thanh luyện cần thiết cho(Ông/Bà/Cha/Mẹ/Bác/Chú/Thím/Cô/Dì/Cậu/Mợ/ Anh/Chị/Em) và đưa về hưởng phúc muônđời. Chúng con (chúng tôi) cũng xin(Ông/Bà/Cha/Mẹ/Bác/Chú/Thím/Cô/Dì/Cậu/Mợ/Anh/Chị/Em) nhớ đến chúng con (chúngtôi), chuyển cầu cho chúng con (chúng tôi) trước nhan Chúa để chúng con (chúngtôi) được mọi ơn lành phần hồn và phần xác, sống xứng đáng là con cái Chúa, bâygiờ và mãi mãi. Amen.

VĂN KHẤN VỚI TỔ TIÊN TRONGNGÀY GIỖ CHUNG (GIỖ TẾ HIỆP)

Hôm nay là ngày … tháng…năm… Tất cả chúng con cùng quy tụ nơi đây để tưởng nhớ toàn thể tiên nhân trongGia tộc, Tổ tiên, Ông Bà, Cha Mẹ, các Bác, các Chú, Thím, Cô, Dì, Cậu, Mợ vàcác Anh Chị Em đã hoàn tất hành trình dương thế trước chúng con.

Thiên Chúa Toàn Năng là ChaTrên Trời, là Cội Nguồn duy nhất, là Đấng Tạo Hóa đã thương tạo dựng nên tấtcả, cho sống trên cõi đời này rồi lại thương gọi về cho hưởng phúc đời đời với Ngài.

Chúng ta yếu hèn tội lỗi,nhưng Chúa Cha giàu lòng thương xót đã cho Con Ngài là Chúa Kitô đến hy sinh,chịu nạn chịu chết trên cây thánh giá mà cứu chuộc và ban ơn tha thứ; nhờ đó,chúng ta được thoát ách sự chết và được sống luôn mãi cho Thiên Chúa là Cha.

Hôm nay chúng con họp nhaucùng cảm tạ, chúc tụng và ngợi khen Thiên Chúa về những hồng ân ấy. Chúng concầu xin cho tất cả những ai đang cần ơn giải thoát, sớm được Thiên Chúa hoàntất những thanh luyện cần thiết và đưa về hưởng phúc muôn đời.

Chúng con cũng xin các bậctiền nhân nhớ đến chúng con, chuyển cầu cho chúng con trước nhan Chúa để chúngcon được mọi ơn lành phần hồn và phần xác, sống xứng đáng là con cái Chúa, bâygiờ và mãi mãi. Amen.

Sau phần văn khấn, chủ sựđọc lời nguyện lễ giỗ và lời nguyện báo hiếu:

Chúng ta dâng lời cầu nguyện.

Lạy Chúa, chúng con xin ngợi khen cảm tạ Chúa nhân từ đã thương đưa cácbậc tổ tiên chúng con về hưởng hạnh phúc với Chúa. Chúng con cũng xin Chúa đoáithương đến những linh hồn đã qua đời đang cần tới lòng từ bi vĩnh cửu của Chúa,xin đoái thương cho họ sớm được hợp đoàn cùng các thánh Chúa. Chúng con cầu xin, nhờ Đức Kitô, Chúachúng con.

Lạy Chúa là Cha rất nhân từ.Chúa dạy chúng con phải giữ lòng hiếu thảo. Hôm nay chúng con họp nhau để kínhnhớ tổ tiên. Xin Chúa trả công bội hậu cho những bậc đã sinh thành dưỡng dụcchúng con, và giúp chúng con luôn sống cho phải đạo đối với các ngài. Chúng concầu xin, nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con.

Để kết thúc phần nghi thức,chủ sự xướng cho mọi người đáp như sau:

- X: Chúng con cậy vì DanhChúa nhân từ, xin cho các đẳng linh hồn được lên chốn nghỉ ngơi

 - Đ: Hằng xem thấy mặt Đức Chúa Trời sáng lángvui vẻ vô cùng. Amen.

4. NIỆM HƯƠNG

Từng người đến khấn và váitrước bàn thờ gia tiên và bàn thờ của vị được tưởng nhớ trong ngày giỗ.

Cầm hương trong tay và khấnthầm hoặc nói lớn rồi thinh lặng, lâu hay mau tùy ý tùy lòng, rồi cắm hương lêncác bàn thờ. Sau đó có thể vái, lạy hoặc phủ phục, rồi lui xuống, nhường chỗcho người khác.

Ghi chú vềviệc niệm hương:

Theo tập tụcViệt Nam,với người sống, ta lạy hai lạy và vái hai vái; với người đã khuất còn quàn tạinhà, cũng kể là còn sống nên ta lạy hai lạy và vái hai vái (khi phúng điếungười ở vai vế thấp hơn mình, người ta chỉ vái chứ không lạy). Từ sau khi hạhuyệt, mới kể là đã chết, thì lạy bốn lạy và vái bốn vái. Trong lễ giỗ, tatưởng nhớ người đã khuất nên cũng lạy bốn lạy và vái bốn vái. Những con số hai vàbốn ấy chỉ có ý nghĩa tương đối theo nguyên lý âm dương. Là người Công giáo, tacó thể làm theo tập tục ấy, mà cũng có thể vái ba vái trong tâm tình cầu nguyệnvới Thiên Chúa Ba Ngôi cho người đã khuất.


06
TÂM TƯ NGƯỜI NĂM MƯƠI NĂM THỜ CÚNG TỔ TIÊN
 

 

Dấn thân tìm cách đem Tinmừng của Chúa đến cho người đồng tộc, tôi được biết một đại biểu nọ được BanChấp hành Dòng họ Tỉnh giao trách nhiệm chuẩn bị Đại hội Dòng họ tại địa bànhuyện. Ông vận động rất nhiệt tình nhưng lắm người nghi ngại không tham gia.Ông dẫn chứng rằng đây là một sinh hoạt đang được đồng tộc cả nước quan tâm, cảnhững người Công giáo cũng đang nhập cuộc. Một người phản bác:

- Coi chừng lại bị mấy anhCông giáo “phỉnh” theo đạo.

Câu nói đặc thù rất phổ biếnvà khá tiêu biểu. Hình như anh chị em người lương dị ứng, xem việc tin theoChúa như một việc tệ hại cần đề phòng!

Sự kiện ấy dễ hiểu. Thử hìnhdung xem, một kẻ ác ý nào đó dùng tin nhắn điện thoại phát đi liên tục nhữngđiều vu khống bịa đặt về bạn một cách có hệ thống và bạn không thể thanh minhbiện hộ gì cả. Mà dù muốn thanh minh biện hộ cũng chẳng biết những điều bôi nhọấy đã phát tán tới tận những ai. Có thể càng thanh minh, chuyện càng gây chú ýầm ĩ, bạn đành thinh lặng. Chỉ sau một tháng thôi, cả thôn cả xã xầm xì đủ điềuvề bạn. Bạn chẳng bị thân bại danh liệt thì cũng thấy mặc cảm đủ điều. Đàng nàynhững chuyện bịa đặt bôi nhọ Đạo Chúa kéo dài từ cuối thế kỷ XIX đến nay với đủthứ thêu dệt truyền miệng thật hấp dẫn, thậm chí còn diễn thành tiểu thuyết vàphim ảnh. Dân chúng chỉ được nghe mãi một chiều, “mưa dầm thấm lâu”, họ sẽ nghĩgì về Đạo Chúa? Tôi đề nghị tổ chức ngày truyền thống từng dòng họ và mời anhchị em lương dân tới chính là để họ có thể thấy tận mắt mọi sự ngược hẳn điềuhọ đã hiểu lầm từ tấm bé.

Không kể những sách báo phimảnh bài xích Kitô giáo đã gây ấn tượng lệch lạc sâu đậm trong tâm trí ngườidân, việc truyền giáo ào ạt và hời hợt cuối thập niên 1950 đầu 1960 có thể đãkhiến quần chúng như bị chích vác-xanh “phòng dịch”, đẩy lùi sự xâm nhập củahạt men Kitô giáo. Cả việc dạy giáo lý dự tòng vội vã chiếu lệ nhiều nơi hiệnnay cũng đang gây nên tác dụng hiểu lầm ấy.

Rất nhiều người tẩy chay, từchối không cầm đến sách vở và băng đĩa Công giáo. Ý thức tình trạng ấy, tôikhông phân phát sách vở Công giáo hàng loạt. Chỉ một số người đã có tình thânhoặc cảm tình rồi, tôi mới tặng sách. Ngoài ra, chỉ những ai xin, tôi mới tặng.Nếu thấy họ có vẻ muốn đọc, tôi gợi ý để họ xin rồi mới tặng. Chính Chúa Giêsuđã ân cần dặn môn sinh phải dè dặt, đừng tạo cớ cho người ta giày đạp “củathánh” và “ngọc quý” (x. Mt 7,6).

Tuy nhiên, tôi lại cũng cómột ghi nhận khác. Đang khi từ chối sách vở và băng đĩa Công giáo thì người talại trân trọng tấm lòng. Có thể lúc đầu họ ngập ngừng, nhưng sau khi đã trắcnghiệm và thấy rõ sự chân thành của ta, họ rất quý mến. Người ta quý mến vìthấy tôi không chăm chăm nói chuyện Đạo, chỉ nói chuyện họ hàng. Tuy nhiên, khiđược mời thắp hương thì tôi cho họ thấy lòng tin Kitô giáo của tôi. Tôi ghi dấuthánh giá chậm và rõ, rồi cầu nguyện lớn tiếng. Tôi nguyện kinh Lạy Cha và dânglời tạ ơn Thiên Chúa là Cha chung của mọi người, xin Ngài ban ơn lành cho bàcon đồng tộc tại địa phương. Sau đó, tôi dâng lời cầu nguyện với các bậc Tổtiên đồng tộc tại từ đường, xin các vị bầu cử trước nhan Thiên Chúa Tạo Hóa chocon cháu được mọi điều may lành.

Ở một số trường hợp, sau khitôi cầu nguyện như thế, người ta đã nêu những câu hỏi và tôi trả lời. Đúng làtôi không tuyên truyền về đạo nhưng chỉ trả lời thắc mắc của họ.

Cũng có một cơ hội thườnggặp khác mà tôi có thể dựa theo để nói lên quan điểm Kitô giáo cách hồn nhiên.Đó là khi người ta than phiền về tình cảnh suy đồi đạo lý, với những bản tin cụthể, lặp lại từ báo, từ đài… Tôi chia sẻ với họ rằng đây chính là lý do khiếntôi dấn thân cho trào lưu nối kết dòng họ. Là linh mục, tôi xác tín rằng cầnphải kết hợp mọi lời kêu gọi thành một bản hợp ca. Có nhiều cơ quan đoàn thểlên tiếng, các gia tộc lên tiếng và chức sắc các tôn giáo lên tiếng. Dù tất cảđều lên tiếng cùng một lúc nhưng không có sự đồng thuận và hỗ trợ lẫn nhau thìsẽ không tạo được kết quả. Chẳng khác nào nhiều người đơn ca cùng một lúc, màmỗi người hát một bài riêng hay một kiểu riêng, thì tất cả chỉ tạo nên một tạpâm gây khó chịu cho người nghe. Có thể số người hát ít hơn nhưng phối hợp hàihòa với nhau thì sẽ tạo được âm hưởng tốt, thông điệp sẽ mạnh mẽ hơn.

Để phát triển xã hội, Singapore bắt đầu từ giáo dục và Bộ Giáo dục Singaporeyêu cầu mỗi học sinh phải theo một trong năm tôn giáo lớn, trong đó có Phậtgiáo, Công giáo và Tin lành. Tựa như phong trào Hướng Đạo quốc tế, đạt được kếtquả giáo dục cao là nhờ luôn đòi hỏi mỗi đoàn viên đều phải thực hành một tôngiáo. Nam Hàn cũng đang làm điều tương tự. Họ đã phát triển nhờ dân chúng cólòng tin tôn giáo sâu sắc: Phật giáo, Tin lành, Công giáo. Để mọi người dân đềutích cực xây dựng quê hương đất nước, Nam Hàn không những phát huy tinh thầndân tộc qua Thái Cực Đạo mà còn hỗ trợ các tôn giáo đóng góp hữu hiệu vào côngcuộc giáo dục.

Việt Nam không có Thái Cực Đạo nhưng cótinh thần uống nước nhớ nguồn, đồng tộc yêu thương đùm bọc, biết nhắc bảo nhau,và đồng thời cũng có tôn giáo. Trước thảm trạng nền đạo đức đang lao nhanhxuống vực thẳm, muốn phục hồi lại lòng tốt, muốn tái tạo lại lương tâm, chỉriêng dòng tộc hay chỉ riêng tôn giáo thôi không đủ. Cần kết hợp cả hai.

Những lý do thời cuộc khiếnnhiều người ngại nói đến hai chữ truyền giáo, nhưng theo tôi, đã đến lúc cầnmạnh dạn nêu rõ sự cần thiết của yếu tố tôn giáo trong việc giáo dục lương tâmcho người dân, cách riêng là các bạn trẻ.

Với những tâm tư ấy, tôiviết loạt bài chia sẻ này không riêng cho các linh mục và anh chị em đồng đạonhưng chung cho hết mọi người Việt Nam đang tha thiết với việc phụchưng tấm lòng cho đồng bào, cách riêng là cho lớp trẻ. Ước gì mọi người Công giáođều nhập cuộc tìm hiểu lại Đạo Hiếu cách nghiêm túc và ước gì mọi anh chị emngoài Kitô giáo hãy một lần cầm lấy Kinh Thánh, đọc và nghiền ngẫm, để hiểu rõvà xác tín rằng cả đôi bên đang cùng bước chung một đường.

 


07
NGỎ LỜI VỚI BẠN ĐỌC NGOÀI KITÔ GIÁO

 

Có thể bạn, người đang đọcnhững bài này, là một người ngoài Kitô giáo. Nếu thế, tôi xin được gửi đến bạnmột lời chào chúc đặc biệt. Thân ái cầu chúc bạn sớm nhận ra tình Cha của ThiênChúa. Tôi không giấu giếm rằng tôi đang khao khát và nôn nóng muốn chia sẻ vớibạn niềm hạnh phúc chúng tôi đang có, niềm hạnh phúc được làm con Thiên ChúaTạo Hóa Tối Cao, Chí Thánh, Nhân Hiền và Hằng Sống.

Tôi đang chia sẻ với bạn mộtTin mừng, một niềm vui. Nếu bạn nghĩ rằng tôi đang làm công tác truyền giáo thìcũng chẳng sao. Bởi lẽ truyền bá một tôn giáo tốt lành thì chẳng có gì xấu xa.Lắm người làm như thể khi chúng tôi bảo nhau truyền giáo là chúng tôi đang âmmưu làm một chuyện gì đen tối, bậy bạ, chẳng khác nào đang lén lút rủ nhau phạmnhững tội ác gì quái gở! Ô không, bạn thấy đó, chúng tôi chỉ muốn chia sẻ vớimọi người một thông tin quan trọng và hữu ích: Đó là, tất cả chúng ta đều cóchung một người Cha là Thiên Chúa Tạo Hóa, chẳng phải vì chúng ta xứng đáng gìđể được làm con Ngài, nhưng chính Ngài đã yêu thương chúng ta đến nỗi đã tặngban người Con duy nhất của Ngài là Chúa Giêsu Kitô cho chúng ta, đến làm Anh Cảcủa nhân loại, cho tất cả chúng ta thành em của Người Anh Cả ấy và thành concái của Cha trên trời.

Có thể những Kitô hữu bạngặp là chúng tôi đây còn có rất nhiều khuyết điểm, nhiều điều đáng trách, khôngxứng danh là con cái Thiên Chúa. Dù vậy, chúng tôi vẫn luôn cố gắng đổi mớichính mình và, trong nỗ lực ấy, chúng tôi chân thành chia sẻ với bạn về Đấng làCha chung của chúng ta.

Đức Giêsu Kitô, Con ThiênChúa, đã xuống thế làm người để những ai tin vào Ngài thì sẽ nhờ Ngài mà đượctrở nên con cái Thiên Chúa. Những ai nghĩ rằng đó là chuyện đùa, sẽ không baogiờ biết được sự thật. Còn những ai nhận biết được sự thật này, sẽ vô cùng hạnhphúc. Có những người cảm thấy sung sướng được làm con một thủ trưởng, một thủtướng, một vị vua... Nỗi sung sướng ấy làm sao sánh được với hạnh phúc của bạnkhi nhận ra mình là con của Thiên Chúa... Nếu tới đây bạn vẫn chưa nhận ra điềuấy thì bạn nên dành vài phút thật thinh lặng, gạt bỏ hết mọi suy nghĩ và âu lo,rồi khẽ thưa với Thiên Chúa: “Lạy Thiên Chúa Tạo Hóa, nếu quả thật Ngài là Chacủa con, xin hãy tỏ cho con biết điều đó”. Mỗi tối, hãy dành dăm phút thinhlặng để ngỏ lời như thế, rồi bạn sẽ thấy... Đừng sợ mất dăm phút để đổi lấy mộtcuộc đời, hơn nữa, đổi lấy cả một cuộc sống đời đời…

Khi đi tìm những cội nguồnnhân loại, người ta quý từng trang viết chắp vá, từng chi tiết nhặt nhạnh đâykia, từng dấu vết mờ nhạt của người xưa. Quyển sách nói về cội nguồn chung củanhân loại, là bộ Kinh Thánh, hình thành từ thế kỷ XIII trước Công nguyên đếncuối thế kỷ I của Công nguyên, cho đến nay vẫn còn nguyên vẹn nội dung thuở banđầu. Bạn hãy thử đọc một lần để nhận ra sự thật kỳ diệu về cả nhân loại và vềchính mình... Tại sao không?

Nhiều trường hợp con cháukhông biết tên tuổi, cuộc đời và sự nghiệp vị thủy tổ có ghi trong gia phả,hoặc vì do kiêng cữ hay là do tôn trọng không dám nhắc đến, hoặc vì lười lĩnhkhông bao giờ chịu mở gia phả. Bộ gia phả của gia tộc là thế mà bộ sách viết vềThiên Chúa cũng thế. Nếu ta không bao giờ đọc đến thì cũng chẳng thể nào biếtđược Thiên Chúa là ai và Ngài đã làm gì cho ta.

Toàn bộ Kinh Thánh được tómtắt nơi câu chuyện Người Cha nhân hậu ở sách Tin Mừng theo Thánh Luca 15,11-32:“Một người kia có hai con trai. Người con thứ nói với cha rằng: ‘Thưa cha,xin cho con phần tài sản con được hưởng.' Và người cha đã chia của cải cho haicon. Ít ngày sau, người con thứ thu góp tất cả rồi trẩy đi phương xa. Ở đó anhta sống phóng đãng, phung phí tài sản của mình... Thế nhưng rồi giữa đau thươngbuồn tủi, anh ta nhận ra lỗi của mình và đã quay về với Cha.”

Một khi bạn đã nhận ra mìnhlà con của Trời Cao, bạn hãy thưa chuyện với Cha theo lời kinh mà chính ChúaGiêsu Kitô là Con Duy Nhất đồng bản tính với Thiên Chúa Cha đã dạy:

“Lạy Cha chúng con ở trêntrời, chúng con nguyện danh Cha cả sáng, nước Cha trị đến, ý Cha thể hiện dướiđất cũng như trên trời.

Xin Cha cho chúng con hômnay lương thực hằng ngày. Và tha nợ chúng con, như chúng con cũng tha kẻ có nợchúng con. Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ, nhưng cứu chúng con cho khỏisự dữ. Amen.”

Được làm con cái Trời Cao làước mơ sâu thẳm tận đáy lòng mọi người và là điều đã được Con Một của Trời Caolà Chúa Cứu Thế Giêsu đến loan báo và thực hiện cho nhân loại. Thế nhưng cóngười không dám tin vì vinh dự ấy đòi hỏi họ phải sống một cuộc sống mới. Cũngcó người tin nửa vời, chỉ mang danh nghĩa con cái Thiên Chúa mà không thực sựsống như thế. Nhận biết tình Cha của Thiên Chúa là một ơn lớn của Chúa ban, dođó, ta cần tha thiết xin Chúa ban cho ta ơn ấy.

Được biết Thiên Chúa là Cha,bạn sẽ sung sướng nhận ra rằng người Cha ấy ôm ấp trong lòng Ngài cả bản thânbạn và Tổ tiên bạn. Bạn trả lời cho tôi xem, mỗi khi nghĩ đến Ông Bà Tổ Tiên,bạn hình dung thấy họ ở đâu? Ở với Nguồn Cội nào? Nơi họ ở tối tăm hay rựcsáng? Nếu rực sáng thì ánh sáng ấy do đâu?

Phần tôi, nhờ được Chúa mạckhải trong Kinh Thánh, tôi biết chắc chắn không sợ sai lầm chút nào, tôi biếtrất rõ rằng: “Họ sẽ được nhìn thấy tôn nhan Ngài, và thánh danh Ngài ghi trên trán họ.Sẽ không còn đêm tối nữa, họ sẽ không cần ánh sáng của đèn, cũng chẳngcần ánh sáng mặt trời, vì Đức Chúa là Thiên Chúa sẽ chiếu sáng trên họ, và họsẽ hiển trị đến muôn thuở muôn đời” (Khải huyền 22,4-5). Mỗi lần gặp thử tháchtrên đường phục vụ, tôi mau chóng tìm lại được bình an khi nhớ đến Chúa và tấtcả những người đã đi trước tôi đang ở trong Chúa và đang đợi chờ tôi nơi nhàđời đời của Thiên Chúa. Tôi nghĩ đến chị Hai tôi, các em dâu tôi, Cha tôi, cácChú Thím, Cậu Mợ, Cô Dì, những Linh mục đàn anh và các Bạn hữu... đã hoàn tấtcuộc đời và đang được no thỏa, mỗi người một vẻ, trong nhà Cha Chung trên trời.Tôi thấy tràn ngập mến thương và mong sớm tới ngày đoàn tụ với tất cả. Trongtôi như có một nỗi giằng co êm dịu, một đàng mong sớm về Nhà Cha là quê hươngđích thật, một đàng lại khao khát được mãi mãi hiến dâng cuộc sống để đem biếtbao anh chị em chưa nhận biết Thiên Chúa về với Tình Cha muôn thuở.

Mời bạn tiếp tục đọc các bàichia sẻ của tôi. Không riêng tôi, nhiều người đang nghĩ đến bạn và đang nguyệnxin Thiên Chúa ban muôn ơn lành cho bạn và gia đình. Cầu chúc bạn ngày càngnhận ra mình là con của Trời Cao và sống thật xứng với danh nghĩa ấy.

 


.3
TRONG
CHÚA GIÊSU KITÔ

01
NHỮNG CỘI NGUỒN ẢO

 

Tuần Thánh năm 2010, tôiđược đi thăm huyện đảo Lý Sơn. Những bia mộ ở đây có một nét đặc biệt. Tất cảcác mộ họ Võ dù thuộc nhánh nào cũng bắt đầu bằng ba chữ “Thái Nguyên Quận”. HọNguyễn là “Trần Lưu Quận”, họ Bùi là “Hà Đông Quận”, họ Trần là “Vĩnh XuyênQuận”, họ Trương là “Thanh Hà Quận”, họ Dương là “Hoàng Nông Quận”, họ Lê là“Kinh Triệu Quận” và họ Phạm là “Cao Bình Quận”. Phần đông cư dân trên đảo chorằng đó là tên những châu quận trên đất liền mà các dòng họ này phát xuất. Tôirất ngạc nhiên vì một vài địa danh rất lạ, mới được nghe lần đầu, và vì khôngcó thời nào trong lịch sử đất nước đã được trực tiếp chia thành quận thay vìtỉnh. Khi đến thăm chùa Từ Quang ở An Hải, tôi nêu câu hỏi và thầy Thích HànhHỷ đã cho một câu trả lời khá thỏa đáng. Theo thầy, việc ghi châu quận như thếchỉ áp dụng cho người chết chứ không cho người sống. Tập tục này được ghi trongquyển Lịch Vạn Niên. Một phụ lục của quyển này liệt kê 510 dòng họ, mỗi dòng họcó kèm theo tên một châu quận và một số dòng họ có chung châu quận. Người tahình dung địa lý cõi âm có nhiều châu quận khác nhau, khi sống người ta có thểtrôi dạt bất cứ đâu trên trái đất, nhưng khi chết thì ai về châu quận nấy. Nhưthế, ba chữ “Thái Nguyên Quận” trên bia mộ người họ Võ không phải là địa chỉ xuấtphát nhưng là địa chỉ đến.

Tôi đã có dịp đến thăm cụ VũHiệp tại tư gia ở đường Lý Tự Trọng, quận I. Là một nhà nghiên cứu nổi tiếng vềgia phả và các dòng họ Việt Nam. Theo cụ, gốc gác 510 dòng họ trước khi đượcxem như bản đồ địa lý cõi âm, thì đã là tư liệu địa lý nhân văn có thật tạiTrung Quốc. Cụ cũng đồng thời lưu ý rằng việc gán ghép các dòng họ Việt Namvào những nguồn gốc ấy của Trung Quốc là chuyện cần xét lại. Trước thời Bắcthuộc, tên gọi của người Việt giản dị như của đồng bào các sắc tộc ít ngườihiện nay, thường gồm một từ để chỉ nam hay nữ và một từ chỉ là tên gọi. Ngay cảnơi tên hai bà Trưng thì chữ Trưng không phải là tên một dòng họ (ngoài hai bà,ta không gặp một nhân vật nào khác có chữ Trưng đi trước tên gọi) mà chỉ là têncủa làng Chưng, một làng sống bằng nghề chưng kén, kéo tơ, dệt lụa. Kén nhấtđược gọi là kén Trắc, kén hạng hai được gọi là kén Nhì hay khén Nhị. Như thế,Trưng Trắc có nghĩa là cô Nhất ở làng Chưng và Trưng Nhị là cô Nhị ở làngChưng.

Theo ông Vũ Hiệp, do nhu cầuquản lý nhân khẩu để đô hộ, người Tàu đã bắt người Việt phải đi vào một hệthống dòng họ. Do những điều kiện cụ thể từng nơi, từng thời điểm, người dân ởmột khu vực nào đó được ghép vào một số dòng họ nhất định nào đó. Sự kiện nàycũng đã xảy ra đối với một số cộng đồng sắc tộc ít người, chẳng hạn nơi thôngtin sau đây trên trang Văn Hóa Học:

“Cácdân tộc ở miền núi Quảng Ngãi vốn có tên mà không có họ, vì thế không có thuậtngữ riêng để chỉ dòng họ. Mỗi người có tên gọi riêng và kèm theo đó là một bổngữ chỉ giới tính…

Vàothời nhà Nguyễn và Pháp thuộc, để dễ theo dõi hộ tịch, hộ khẩu và số đinh trongcác làng nóc miền núi Quảng Ngãi, các dân tộc miền núi trong tỉnh đều được đặthọ Đinh (theo họ cha), tức có nghĩa là thằng, đứa (con trai), dần dần con gáicũng theo họ cha mà ghi trong hộ tịch, hộ khẩu, hoặc kê khai đi học là họ Đinh (8).

Năm1969, khi Bác Hồ mất, hầu hết người Cor ở Trà Bồng đổi sang họ Hồ. Số đôngngười Hrê ở Ba Tơ lấy họ Phạm (họ của đồng chí Phạm Văn Đồng), phần lớn đồngbào người Hrê ở Sơn Hà, Minh Long, đồng bào Ca Dong ở Sơn Tây vẫn còn giữ họĐinh.”

http://www.vanhoahoc.vn/nghien-cuu/van-hoa-viet-nam/van-hoa-to-chuc-doi-song-tap-the/2284-quan-he-gia-dinh-lang-xom-cua-nguoi-quang-ngai.html

Trường hợp họ Vũ Võ lúc đầucũng thế. Bàn về ông Vũ Hồn (804-853), người được coi là thủy tổ họ Vũ-Võ tạiViệt Nam, cụ Vũ Hiệp nêu một nhận xét lý thú rằng cả gia phả, tộc phả và thầnphả đều không nói Vũ Hồn có một người con nào. Tác giả Tiến sĩ Vũ Huy Thuận,trong bài “Giới thiệu sách cổ văn hoá làng Mộ Trạch” (http://hovuvovietnam.com/ Gioi-thieu-sach-co-van-hoa-lang-Mo-Trach) cũng có viết: “Ngọc phả làngMộ Trạch kể lại rằng: Cụ Vũ Hồn (804-853) sau khi từ quan (843-844) đã đến nơiđây lập trang trại đặt tên là “Khả Mộ trang”... Khi cụ mất (853), dân Khả Mộtrang lập miếu thờ cụ như vị sáng lập thôn Khả Mộ (đến triều Trần 1226 được đổitên là Mộ Trạch). Để tưởng nhớ công lao của cụ, dân trong làng đều mang họ củacụ. Họ Vũ. Cũng từ đó, Cụ không chỉ được thờ như vị thành hoàng làng, mà cònđược coi là thủy tổ họ Vũ Mộ Trạch.”

Gần đây người ta phát hiệnra đền thờ hai nhân vật họ Vũ sống nhiều thế kỷ trước ông Vũ Hồn: đền thờ bà VũThị Thục, nữ tướng của Hai Bà Trưng và đền thờ nhà giáo Vũ Thê Lang, được cholà của thời Hùng Vương. Dù vậy ông Vũ Hồn vẫn được đa số người họ Vũ-Võ ngàynay dành cho danh hiệu thủy tổ họ Vũ-Võ ở Việt Nam, và theo tôi, điều ấy chínhđáng, bởi một lẽ duy nhất là đại chúng đương thời đã vì cảm mến ông mà cải sanghọ Vũ-Võ, coi ông như tổ phụ.

Có những người gốc họ Võnhưng nhiều thế hệ qua đã mang một họ khác. Lại cũng có những người mang họ Võnhưng thật ra là từ một dòng họ khác cải sang. Việc khám phá ra chuyện cải họcó thể khiến nhiều người bị hụt hẫng. Khi hoàn thành bài viết về họ Võ tỉnh PhúYên, trong đó có thông tin về một nhánh họ Võ ở xã Hòa Thắng trước kia là họLê, tôi gởi cho một người con gái nhánh này xem. Cô hồi âm cho tôi như sau:

Chào bác ! Con đã đọc bài viết về họ Võ mà bác đãtrải qua không ít công sức để truy tìm về cội nguồn của dòng họ Võ. Con thật sựbất ngờ về một sự thật mà lâu nay con thuộc thế hệ trẻ nên không biết được, đólà con thuộc về nguồn gốc họ Lê chứ không phải họ Võ. Điều này làm con có mộtchút ngậm ngùi.

Trong ý nghĩcủa con lại đặt ra một dấu hỏi.

Quá khứ củalịch sử là một sự bí ẩn chưa có sự khẳng định nhất định. Ví như trước thời ôngCao tổ của con thuộc về dòng họ Lê, vậy các đời trước hơn nữa liệu các cụ caotổ thuộc về họ gì ? và những biến đổi của nó như thế nào ? điều này làm conphân vân. Nhưng rồi con suy nghĩ rằng dù con mang dòng họ nào thì con vẫn biếtơn các cụ tổ đã sáng lập ra các dòng họ để con cháu ngày nay được mang tên dònghọ của các cụ lưu truyền lại. Và điều này đã làm con cảm thấy vui bác à, conmong rằng sau này con sẽ có nhiều cơ hội được hiểu về nguồn gốc đích thực củacác cụ tổ mà hiện đang là một dấu hỏi rất lớn trong suy nghĩ của con bác ạ!.

Võ Thị Kim Đoan                 (sđt: 0988-234-828)

Nữ độc giả của tôi là mộtPhật tử ăn chay trường, nên sớm nhận ra ngay mọi sự đều vô thường và tương đối.Tôi muốn nói thêm với cô rằng, khi phải giấu họ Lê, ông Cao của cô đã chọn họVõ chứ không phải một họ nào khác, hẳn là do ông cảm kích lòng tốt của một vàingười họ Võ nào đó. Tương tự, nếu có người họ Võ nào đó phải thay tên đổi họ vàđã chọn họ Lê chứ không phải họ khác, thì chắc hẳn vì ông thấy người họ Lê đángmến. Nếu các vị tổ phụ nhân loại hướng lòng ta đến vị Cha Chung trên trời thìnhững thực tế về quan hệ họ hàng máu mủ dẫn ta đến cảm nghiệm anh em bốn biểnmột nhà. Điều thứ hai này bắt nguồn từ điều thứ nhất: Mọi người trên thế giớikhông thể là anh em với nhau nếu không có chung một người Cha.

Chúng ta đọc thấy trên nhiềubia mộ cụm từ sau đây: “Mộ thủy tổ họ…”, “Mộ cao tổ họ…”. Vị nằm ở đó được coilà “thủy tổ” nhưng người ta không biết tên, mặc dù có khi chỉ là người sống cuối thế kỷ XIX. Gia tộc phía nội tôi cũng nằmtrong trường hợp này, vị tổ khuyết danh sống vào giữa thế kỷ XIX. Việc truy tìm thủy tổ một dòng họ quả là chuyện mịtmờ vô vọng nhưng cũng có cái hay là đánh thức nơi mọi người mối bận tâm đi tìmnguồn cội đích thực và cuối cùng của nhân loại là chính Thiên Chúa Tạo Hóa.

Hiểu như thế, ta sẽ tiến tớimột thái độ trung dung về vấn đề gia phả. Một đàng, ta tâm đắc với lời ThánhPhaolô dạy ở đầu thư thứ nhất gửi cho Timôthê: “Đừng chú ý đến những chuyệnhoang đường và những gia phả dài dòng; những cái đó chỉ gây ra tranh luận, chứkhông đóng góp vào kế hoạch của Thiên Chúa mà đức tin cho chúng ta biết” (1Tm1,4). Một đàng, vì ích lợi giáo dục, ta sẽ cổ võ đồng tộc và đồng đạo xây dựnglại bản gia phả giới hạn với những bậc Tổ Tiên hiện còn biết được, bởi lẽ đâylà một công việc mang tính sư phạm, có tiềm năng đóng góp vào sự phục hồi tấm“lòng lành”, cõi lòng hướng thiện cho thế hệ trẻ giữa dòng cuồng lưu của sự suyđồi đạo lý.

Trong bài tiếp sau về “tâmtư của người loan Tin mừng cho người cùng dòng họ”, tôi sẽ chia sẻ thêm về điềuấy.

 

02
GIA PHẢ, CHÌA KHÓA MỞ LÒNG ANH EM

 

Ngày truyền thống đồng tộcCông giáo mở ra một cánh cửa giao lưu, để ta có thể mời anh chị em đồng tộcngười lương đến với mái từ đường của trăm họ. Tình thân cần được tiếp nối quasự thăm viếng. Giáo xứ nào cũng có những nhóm thăm viếng các bệnh nhân, ngườineo đơn hoặc già cả. Giờ đây, sẽ thêm một đối tượng nữa là những gia đình cóthiện cảm với Đạo Chúa qua việc tham dự ngày truyền thống đồng tộc tại nhà thờCông giáo. Mỗi lần đi ngang nhà, ta nhớ ghé thăm.

Câu chuyện có thể không baogiờ cạn là chuyện chia sẻ những thông tin về gia phả. Sau chiến tranh hầu hếtchứng từ bị mai một, việc dựng lại gia phả riêng từng cụm từng nhóm lắm khi hếtsức khó, khiến nhiều người nản lòng bỏ cuộc. Việc tìm tòi liên hệ nói kết giữanhững nhánh đã đứt đoạn hằng thế kỷ và đã trôi dạt tới những địa phương khácnhau, mặc dù lý thú, càng là chuyện chẳng có mấy hy vọng. 

Xưa gia phả dòng họ thườngđược bảo quản trong một hộp sơn son thếp vàng đặt trên bàn thờ của từ đường.Hằng năm vào dịp tế đầu xuân (xuân thủ) hoặc dịp giỗ chung của gia tộc, ngườita thỉnh gia phả xuống và ghi tên những người đã khuất trong năm qua. Việc chépgia phả gắn liền với ngày giỗ chung, cho nên khi việc cúng giỗ đứt đoạn, giaphả cũng đứt đoạn.

Bên cạnh những khó khăn vìchiến tranh ly loạn, còn có một khó khăn đến từ tấm lòng thành kính của concháu đối với tổ tiên. Ngay cả khi ở từ đường vẫn còn gia phả ghi rõ tên vị thủytổ, phần đông trong gia tộc vẫn không biết vị thủy tổ tên gì, chỉ vì các thế hệcon cháu hết sức kính trọng tên của tổ tiên, có thể vìsợ “phạm húy”, không bao giờ nhắc tới. Đàng khác, gia phả được ghi bằng Hán Nôm, con cháu có mở ra cũng không đọc được.

Tòa Thánh đã giải tỏa lệnhcấm về việc thờ cúng Tổ Tiên từ nửa thế kỷ, nhưng mãi đến nay, thành kiến"theo Đạo bỏ ông bỏ bà" vẫn chưa được gột sạch. Để hóa giải nhữnghiểu lầm đã quá ăn sâu, thiết tưởng người tín hữu Công giáo cần nhập cuộc vàonỗ lực tìm nguồn cội của dòng họ mình. Mất gia phả là thảm trạng chung cả chongười lương lẫn người giáo. Bao nhiêu năm chiến tranh loạn lạc, nay ít gia tộccòn giữ được gia phả lâu đời. Do thời thế đổi thay, nhiều bi ký, bút tích và sửliệu đã thành tro bụi, những chứng cứ tìm được thật hiếm hoi, không đủ rọi sángnhững khoảng tối và những tồn nghi lịch sử. Người ta đành hài lòng với nhữngsuy diễn và phỏng đoán. Chẳng ai nỡ trách ai.

Một giải đáp chung hiện đangđược các gia tộc cố gắng làm xong sớm, là chuyển các bản gia phả bằng Hán Nômsang chữ quốc ngữ. Càng ngày số người thông thạo Hán Nôm càng hết sức hiếm hoi,việc chuyển dịch các gia phả sang quốc ngữ càng trở thành một việc khẩn cấp. Đólà những đề tài mà những ai quan tâm tới cội nguồn có thể nói mãi không hết.

Một phương tiện khác là hỏihan chia sẻ qua điện thoại. Nếu ta có lòng với người đồng tộc, thì sẽ sớm cóhàng chục và hàng trăm số điện thoại. Nếu máy có 2 sim, ta cho những số điệnthoại này vào một sim. Nếu chỉ có một sim, nên lưu rõ cả họ và tên để máy sẽ tựđộng xếp những người đồng tộc vào một chuỗi. Khi liên hệ đồng tộc vượt ranhgiới làng xã, cũng cần ghi thêm vài chi tiết sau tên của mỗi người, để khi họgọi đến, ta nhận ra ngay đó là ai.

 

03
GIA PHẢ CHÚA GIÊSU KITÔ

Câu chuyện về gia phả có thểgiúp bạn nhập đề vào Tin mừng của Chúa rất sớm, bởi lẽ câu đầu tiên của bộ Tinmừng bàn về gia phả: “Sách gia phả của Đức Giêsu Kitô…”

Tùy lúc, câu chuyện về giaphả có thể là thông tin vắn tắt qua điện thoại, hoặc chia sẻ tại bàn ăn, mạnđàm bên tách cà phê.

Bản gia phả Mátthêu giúp tatrình bày thật hồn nhiên phần lịch sử ơn cứu rỗi từ ông Abraham tới Chúa Giêsu,với 42 đời, được Thánh Matthêu tỉ mỉ ghi chú là 3 lần 14, tức là 6 lần 7 đời,và gián tiếp nói rằng chỉ một mình Chúa Giêsu là bộ bảy thứ bảy, là đỉnh cao vàlà sự toàn bích…

Người nghe sẽ rất lý thú khiđược biết bản gia phả thứ hai của Chúa Giêsu Kitô, ghi trong sách Luca, phănngược lên đến tận Ađam: “Ađam bởi Thiên Chúa”. Thiên Chúa là Cội Nguồn của mọicội nguồn.

Điều ấy đem lại an ủi chonhững người gốc họ này nhưng nhiều thế hệ qua đã mang một họ khác. Người takhông còn bị hụt hẫng vì chuyện cải họ. Dù có chuyện cải họ hoặc dù chỉ phụchồi gia phả được một số đời ít ỏi, thì ta vẫn biết chắc chắn rằng có một ThiênChúa duy nhất là Cha của Chúa Giêsu Kitô và là Cha chung hết mọi người. Bốn bểlà anh em vì tất cả đều là con cái của cùng một Cha trên trời.

Về điểm này, có một chi tiếtcần lưu ý. Hiện đang nở rộ trào lưu nói về Cha Trời của những người hòa đồngtôn giáo. Ngôn từ có vẻ giống nhau nhưng sự thật hoàn toàn khác. Nơi mạc khảiKitô giáo, ta được biết Thiên Chúa là Cha chính là nhờ được Con một Ngài là ĐứcGiêsu Kitô đến tỏ cho biết (Ga 1,18). Chúng ta được gọi Thiên Chúa là Cha chínhlà nhờ Đức Giêsu Kitô ban Thánh Thần để Thánh Thần thốt lên trong lòng ta:“Abba!”, thân thiết như em bé: “Ba ơi, Bố ơi!”. Thiên Chúa Cha nơi Kitô giáokhông lẻ loi một mình nhưng hiệp nhất với Con Ngài và Thánh Thần Ngài thành ThiênChúa duy nhất trong Ba Ngôi.

Lần giở Kinh Thánh, ta sẽthấy lý thú về chuyện gia phả. Đang khi những bản gia phả nhân loại chưa được200 năm hầu hết đều đã tan vào hư vô thì những bản gia phả cổ trong bộ KinhThánh đã hơn 3000 năm qua vẫn được bảo trì. Nơi quyển đầu tiên của bộ KinhThánh, sách Sáng Thế Ký, bản gia phả ở 11 chương đầu mang tính dã sử. Từ chương12 trở đi, câu chuyện bắt đầu với một người đồng thời với các vua Hùng đầu tiêncủa ta là ông Abraham. Ta chỉ biết về các Hùng Vương ở con số 18 vị vua, mấy aibiết được tên 18 vị vua ấy. Lạc Long Quân, Âu Cơ, Lục Tộc, Hùng Vương Thứ Sáu,Tiết Liêu, Hùng Vương Thứ Mười Tám, Mỵ Nương, Sơn Tinh, Thủy Tinh… Tất cả nhữngtruyền thuyết ấy lãng đãng mơ hồ… được kể lại theo truyền khẩu vỏn vẹn trongdăm trang. Đang khi đó, ông Abraham đã trở thành một gia tộc rồi một dân tộc,với những trang gia phả chính xác. Chỉ bốn thế hệ đầu tiên của lịch sử ơn cứurỗi đã lấp đầy gần bốn mươi chương của sách Sáng Thế Ký, từ chương 12 đếnchương 50. Nhờ đâu mà những trang gia phả ấy và cả bộ sách Kinh Thánh dày cộmđược bảo tồn không suy suyễn qua thời gian đằng đẵng?

Một sự kiện khác cũng dễkhiến người nghe phải suy nghĩ: Người ta thường trân trọng những nguồn cội biếtđược cách bấp bênh qua những trang phả liệu mù mờ, đang khi ấy nguồn cội đầutiên mà Kinh Thánh giới thiệu vẫn sờ sờ nơi cuộc sống thường nhật thì người talại thản nhiên gạt bỏ.

04
THIÊN CHÚA CHA MẠC KHẢI QUA KINH THÁNH

Nhữngngười rao giảng về Cha Trời bảo rằng Cha Trời giáng cơ dạy người ta ghi lạinhững bài giáo lý. Sách Koran của Hồi giáo cũng bảo rằng Đấng Allah đọc choTiên tri Mahômét viết lại những lời Ngài dạy. Đang khi đó, Kinh Thánh của DoThái giáo và Kitô giáo thì khác. Đây là câu chuyện về một gia đình, một gia tộcrồi một dân tộc và cả nhân loại. Thiên Chúa can thiệp vào lịch sử rồi sau đómới cho người viết lại lịch sử ấy để giúp mọi người hiểu Ngài yêu thương nhânloại và yêu thương mỗi người tới mức nào.

Từcâu chuyện gia phả, ta nên sớm giới thiệu cho người ta quyển Kinh thánh, cả Cựuước và Tân ước, đồng thời tóm tắt cho họ nội dung Kinh Thánh sau đây để họ cóthể đọc Kinh thánh với tâm trạng hồn nhiên của một người đi tìm sự thật.

Thiên Chúa đầy tình yêu thương đã tạo nên mọi loài mọivật để chúng chia sẻ sự tốt lành của Ngài. Cách riêng, Thiên Chúa đặc biệt yêuthương con người. Ngài đã tạo nên họ giống hình ảnh Ngài, ban cho họ có khảnăng nhận biết và yêu mến Ngài, đồng thời đặt họ làm chủ mọi thụ tạo trên tráiđất để họ cai trị và sử dụng chúng mà ngợi khen Ngài.

Tiếc thay, con người không vâng phục Thiên Chúa. Conngười muốn đi tìm một thứ hạnh phúc ngoài Thiên Chúa. Hậu quả là tình nghĩa vớiThiên Chúa bị cắt đứt, con người phải xa lìa Thiên Chúa, bị đau khổ, phân rẽ,và cuối cùng là phải chết. Tuy nhiên, Thiên Chúa đầy yêu thương vẫn không bỏmặc con người trong nỗi tuyệt vọng. Ngài hứa sẽ ban Đấng Cứu Thế đến để cứu vớtcon người.

Để thực hiện lời đã hứa, Thiên Chúa đã chọn cụ Abrahamđể qua ông, Ngài gầy dựng một dân tộc là dân Israel, chuẩn bị cho Đấng Cứu Thếra đời. Qua Môsê, Thiên Chúa đã cứu dân Israel khỏi ách nô lệ Ai cập, trongbiến cố Vượt qua và Xuất hành, cũng quaMôsê, Thiên Chúa còn ban cho dân Israel Giao ước và Lề luật để họ trởthành dân riêng của Ngài. Qua các ngôn sứ, Thiên Chúa dạy dỗ họ đón nhận Đấng CứuThế.

Khi tới giờ đã định, Thiên Chúa đã cho Đấng Cứu Thế rađời. Chúa Giêsu Kitô, Đấng Cứu Thế, chính là Con Một của Thiên Chúa đã trởthành con người để làm cho ta trở thành con Thiên Chúa. Ngài đã đến sống giữachúng ta để cho ta biết tình thương của Chúa Cha và để dẫn đưa chúng ta về cùngChúa Cha trong một gia đình là gia đình con cái Thiên Chúa, tức Hội Thánh. Ngàiđã chết để hoà giải ta với Thiên Chúa, và đã sống lại để ban cho ta sự sống mớilàm con Thiên Chúa.

Sau khi Chúa Giêsu về trời, Chúa Cha và Chúa Giêsu đãgửi Chúa Thánh Thần đến, để hướng dẫn Hội Thánh tiếp tục công việc của ChúaGiêsu, mà đem ơn cứu rỗi đến cho mọi người bằng lời rao giảng và việc cử hànhcác bí tích. Chúa Thánh Thần ở với ta, làm cho ta được kết hợp nên một với ChúaGiêsu. Ngài soi sáng và thúc đẩy ta sống mến Chúa yêu người như Chúa Giêsu dạy,để ta xứng đáng là con cái Cha trên trời, theo như chương trình yêu thương màThiên Chúa đã dành cho ta.

Cùng với mọi người trong HộiThánh, ta góp phần hoàn tất lịchsử, đợi ngày Chúa Giêsu tỏ bày vinh quangcủa Ngài và của những người được cứuchuộc. Ngày ấy Chúa Giêsu sẽ tiếp thu mọi sự, biến đổi thành vũ trụ mớimà dâng lên Thiên Chúa Cha.

Qua ba giai đoạn mặc khải, dần dần ta được biết ChúaCha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần là Ba Ngôi Thiên Chúa. Cũng nhờ Thiên Chúa mặckhải, ta biết Ba Ngôi khác nhau ấy hợp nhất thành một Thiên Chúa mà thôi. Đó làmầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi.

Kinh Thánh không phải là một quyển sách giáo khoanêu nguyên tắc rồi hướng dẫn áp dụng thực hành. Nó là quyển sách ghi lại côngtrình tình thương của Thiên Chúa, qua một lịch sử chưa hoàn thành nhưng đã cóđoạn kết. Nó được hình thành từ cuối thế kỷ 13 trước Công nguyên và kết thúcđầu thế kỷ thứ hai sau Công nguyên, do hằng trăm ngòi bút thuộc những trình độvà thời đại khác nhau họp lại, mà đọc xong lại thấy từ đầu tới cuối hết sứcthống nhất, chẳng khác nào một tác phẩm do cùng một người phác thảo và thựchiện, do cùng một người đề ra ý chính, các phần đoạn của thân bài rồi viết từnhập đề đến kết luận.

Điều đó cho thấy Kinh Thánh được thực hiện do mộttác giả thần linh vượt trên toàn bộ lịch sử. Tác giả đích thật ấy là chínhThiên Chúa, còn tất cả những người đã cống hiến tài năng chấp bút diễn tả chỉlà những dụng cụ.

Một khi đã quen, bạn sẽ từ câu chuyện đang nói đểchuyển sang Kinh Thánh rồi lại từ Kinh Thánh chuyển sang cuộc kiếm tìm của bạnvà người đồng tộc.

05
ĐẠO HIẾU TRONG LỜI NGUYỆN PHỤNG VỤ

Trong lịch sử, việc thờ cúngtổ tiên theo truyền thống Việt Namkhông chỉ gây hao tốn giấy mực tranh cãi giữa các nhà truyền giáo, nhưng cònkéo theo một thực tế bi hùng. Nhiều người ngoài Công Giáo thà mất Nước Trời hơnlà bỏ ông bỏ bà, như câu thơ tha thiết của nhà yêu nước Nguyễn Đình Chiểu:

Thà đui giữ lấy đạo nhà,

Còn hơn có mắt ông cha khôngthờ.

Đang khi đó người Công Giáothì chọn lựa ngược lại. Có đến trên 130.000 Kitô hữu đã chấp nhận chết vì dànhcho đạo hiếu đối với Cha Cả trên trời sự ưu tiên vượt trên đạo hiếu đối với tổtiên dưới đất.

Phía trên bàn thờ gia tiêncủa nhiều gia đình Công Giáo có trưng bày ảnh các Thánh Tử Đạo Việt Nam.Thật rất ý nghĩa khi gắn liền Đạo Hiếu với các vị tổ phụ trong đức tin. Ngày lễCác Thánh Tử Đạo Việt Nam,24-11, nằm trong tháng các đẳng linh hồn nhưng hình như không nói được gì vớingười Việt Namvề Đạo Hiếu.

Trước kia, khi các vị Tử ĐạoViệt Nam chưa được tuyên phong hiển thánh, chỉ có một lời nguyện cho nội bộGiáo Hội Việt Nam, vỏn vẹn ba dòng nhưng hết sức sâu sắc về Đạo Hiếu. Trong dịpphong thánh, khi viết bộ lễ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam, người ta đã vất bỏ một viênngọc mà không ngờ. Thiết tưởng tổng cộng các lời ca, lời nguyện, kinh tiền tụngvà toàn bộ các giờ kinh phụng vụ của ngày lễ 24-11 vẫn không nói được nhiều hơnlời nguyện ngắn của ngày lễ 1-9 trước đây. Lời nguyện bị lãng quên ấy như sau:

"Lạy Chúa, Chúa đã làmcho xuất hiện trên toàn cõi Việt Nam rất nhiều chứng nhân anh dũngcho Chúa: Vì lời các đấng ấy bầu cử, xin Chúa thương ban cho mọi dân tộc nhậnbiết chỉ có Chúa là Cha thật và phụng sự Chúa với hết tình con thảo." (Lờinguyện số 1)

Chỉ vài dòng ngắn ngủi đủghi lại cả một lịch sử bi hùng và lý do sâu xa nhất cho việc tuyên xưng đức tincủa người Công Giáo Việt Nam.Nó là một lời nguyện hết sức đại đồng chứ không mang tính cục bộ như lời nguyệnhiện hành trong sách lễ Rôma tiếng Việt: "Lạy Chúa, Chúa đã ban cho HộiThánh Việt Nam nhiều chứng nhân anh dũng biết hiến dâng mạng sống để hạt giốngđức tin trổ sinh hoa trái dồi dào trên quê hương đất nước chúng con. Xin nhậnlời các ngài chuyển cầu mà cho chúng con biết noi gương các ngài để lại: luôncan đảm làm chứng cho Chúa và trung kiên mãi đến cùng." (NXB 1992, trang736 - Lời nguyện số 2).

Không hiểu tại sao lờinguyện ấy lại khác với lời nguyện trong sách lễ Rôma tiếng Anh và tiếng Ý, cóthể dịch như sau: "Lạy Thiên Chúa là nguồn gốc mọi tình phụ tử, Cha đã giữcho Thánh Anrê và các đồng bạn tử đạo được trung thành với thập giá của Con Chađến đổ máu đào. Nhờ lời các ngài chuyển cầu, xin cho chúng con biết tỏa chiếutình yêu Cha giữa anh chị em chúng con để chúng con đáng được gọi và thực sự làcon cái Cha." (Lời nguyện số 3)

Đang khi tưởng nhớ các vịtuẫn đạo Việt Nam, Giáo Hội cầu nguyện cho mọi dân tộc nhận biết Thiên Chúatuyệt đối là Cha thật duy nhất của mọi người và là nguồn gốc mọi tình phụ tửtrên trời dưới đất. Lời nguyện số 1 trên đây vừa đầy ắp kỷ niệm về Đạo Hiếu,vừa vạch ra được một linh hạnh cho người Việt và cả một trách nhiệm rất lớn vớihai chiều kích: Phải sống thật tuyệt vời cả về đạo hiếu trần gian lẫn đạo hiếutrên trời, để giúp cho cả đồng bào người Việt lẫn các dân tộc trên thế giớinhận biết tình cha của Thiên Chúa. Ước gì hạt ngọc quý báu ấy sớm được đem lạivào phụng vụ, ít ra là cho giờ Kinh Chiều I.

Tới đây cũng xin nhắc đếnmột đóng góp khác rất đáng trân trọng đã bị quên mất, cần được phục hồi. Nơicác Kinh nguyện Thánh Thể (Kinh tạ ơn) trong bản dịch Sách Lễ Rôma 1992 có haiđiểm khác hẳn bản dịch trước đó:

- Khi thưa với Ngôi Cha, mọichữ "Domine" đều được chuyển thành "Cha" thay vì dịch sátchữ là "Chúa".

-  Ở lời nguyện cầu cho kẻ chết của các Kinhnguyện Thánh Thể 1, 2 và 3 đều có thêm mệnh đề: "Đặc biệt xin Cha nhớ đếncác bậc Tổ tiên và thân bằng quyến thuộc chúng con đã lìa cõi thế".

Đó là hai đóng góp của linhmục đoàn Giáo phận Kontum được Ủy Ban Phụng Tự trực thuộc HĐGMVN lúc ấy tiếpnhận. Nay trong bản dịch (xxxxx) đóng góp thứ hai vẫn còn được duy trì, cònđóng góp thứ nhất bị quên mất. Thiết tưởng đây là một đóng góp hết sức ý nghĩa,có tác dụng lớn trong việc loan báo Tin mừng và xây dựng  lòng đạo cho Dân Chúa.

 

06
ĐÀO TẠO NGƯỜI CHỨNG TRẺ

Chúa dạy hãy đi khắp thếgiới loan báo Tin mừng. Do đó, việc loan Tin mừng không khép kín lại với mộtnhóm người cùng Dòng họ, nhưng nhóm người ấy chỉ đóng vai một nhúm men giúp cảkhối bột dậy men. Gạch nối để Tin mừng lan từ họ này sang họ khác là nhữngngười con dâu và con rể, những người có quan hệ thông gia.

Các gia đình cũng như cộngđoàn giáo xứ cần quan tâm đào tạo cho con em mình có một đức tin đầy bản lãnh,thấm đều mọi mặt cuộc sống, để khi họ lên đường về nhà chồng hoặc nhà vợ, họthực sự là những chứng nhân của Hội Thánh Chúa. Nhiều cha mẹ người lương thíchcho con cái lập gia đình với người Công giáo bởi họ thấy đa số người Công giáochung thủy trong hôn nhân. Thế nhưng đã có một số trường hợp rất đáng tiếc,chính bên người Công giáo gốc thiếu thiện chí, khiến hôn nhân tan vỡ. Nhữngtrường hợp đau lòng ấy đòi hỏi chúng ta phải nghiêm túc kiểm điểm lại việc giáodục đào tạo của chúng ta. Cần giúp bạn trẻ đi sâu vào cầu nguyện để có được đứctin, đức cậy và đức mến nồng nàn mãnh liệt, nhờ đó, dù phải qua đau thương thửthách tới đâu vẫn quyết một lòng trung thành với Luật Chúa dạy và làm chứng choChúa.

Thực tế của quá khứ cho thấyrất đông những người theo Đạo để lập gia đình có một đức tin không sâu và khôngbền, khiến nhiều phụ huynh Công giáo ái ngại khi thấy con em mình thương ngườingoài Công giáo. Tuy nhiên không thiếu những trường hợp những người trở lạitrong dịp kết hôn lại có một đời sống đức tin còn mẫu mực hơn nhiều người Cônggiáo đạo dòng. Sự khác biệt thật ra là do cách đào tạo và chăm sóc. Thành kiếnxem thường ơn đức tin của người trở lại nhân dịp kết hôn, có thể khiến người tadạy giáo lý cách sơ sài vội vã cho xong chuyện. Nhiều bậc phụ huynh cố ngăn cảntình duyên của con cái mình, cho tới lúc không ngăn cản được nữa, nhượng bộ chocon cái thì thời giờ học giáo lý không còn nhiều. Thêm vào đó, chuyện tin ngàygiờ tốt xấu, kiêng kị tuổi tác nhiều khi cũng khiến người ta tiến hành hôn nhânvội vã, không kịp học giáo lý cho thật sâu.

Chúng ta cần nhìn vấn đềdưới ánh sáng đức tin. Nếu  một sợi tóctrên đầu ta rơi xuống không ngoài ý Chúa thì sự kiện ánh sáng Tin mừng đến vớirất đông bạn trẻ qua con đường hôn nhân không phải là chuyện ngẫu nhiên. Đó lànhững nén bạc quý báu Chúa đang trao cho Giáo hội ở thời đại này, mọi thànhphần Dân Chúa đều cần biết trân trọng góp phần sinh lợi, không để một nén bạcnào bị vùi lấp oan uổng.

Các bậc làm cha mẹ cần biếttin cậy vào tình thương Thiên Chúa, trân trọng ơn đức tin Chúa đang ban chongười con dâu hay con rể của mình và tôn trọng sự chọn lựa của con cái, để ứngxử sát thực tế hơn. Một khi thấy con cái đã quyết, cha mẹ cần sớm chấp thuận vàhướng dẫn cho việc học giáo lý được tươm tất và đức tin kịp thấm sâu và nẩy nở.

Các vị dạy giáo lý cần vữngtin vào ơn Chúa, dù thời gian rất ngắn cũng đừng vội vã. Hãy bước những bướcđầu thật chính xác và chắc chắn. Hãy mở đầu bằng việc giúp học viên ngỏ lời vớiThiên Chúa là Cha, và cứ như thế cho tới lúc họ thực sự cảm nghiệm rằng Chađang ở trong họ, đang ủ ấp họ và đang dẫn dắt họ trên mọi bước đường. Đức tinđến từ sự gặp gỡ Thiên Chúa cách thân tình và đầy yêu mến, chứ không đến do sựnhồi nhét một mớ hiểu biết. Những hiểu biết giáo lý rất quan trọng và cầnthiết, nhưng ta đừng vội. Một khi học viên bắt đầu nếm cảm được Chúa, chính họsẽ kiếm tìm và chỉ một khám phá nhỏ họ nhận được dưới ánh sáng của Chúa đủkhiến họ miệt mài trên đường theo Chúa. Các vị hãy sớm trao Kinh Thánh vào tayhọc viên và giúp họ khám phá từng chút một bằng sự suy nghĩ, cầu nguyện và đổimới đời sống theo Lời Chúa. Cũng hãy mạnh dạn khuyến khích học viên chia sẻ ơnhọ đang nhận được với đồng bạn trong lớp giáo lý và cả với những người chưatin. Một đức tin được chia sẻ sẽ tựa như lửa, cháy lan và cháy bùng lên.

Một thiếu sót lớn của cộngđồng Công giáo Việt Namlà hiện chúng ta không có những sách vở cần có cho các dự tòng và tân tòng.Sách vở Công giáo Việt Namngày nay phát triển hỗn độn, đang khi có những thứ thừa mứa thì sách cho trẻ emvà sách cho những người muốn tìm hiểu Đạo Chúa lại quá thiếu. Cả Kinh Thánh,chúng ta có những bản dịch tốt, những sách in rất trang trọng, nhưng tìm mộtquyển Tin mừng theo Thánh Luca in rời để trao cho dự tòng thì không có.  Chúng ta đã có bản Tân Ước loại chữ lớn, ướcgì sẽ có cả 11 chương đầu Sáng thế ký, in rời, với những chú dẫn thích hợp vớingười muốn tìm hiểu.

Tệ hơn nữa, khi các bạn trẻmuốn mua một quyển sách thích hợp để tặng cho bạn trai hoặc bạn gái của họ, thìkhông biết tìm ở đâu. Giáo hội Phật giáo có một tổ in ấn và phát hành thuộcthành hội TPHCM và từ đó sách vở Phật giáo lan tỏa đến mọi miền đất nước. Giáohội Cao Đài cũng có một hệ thống phát hành tương tự. Phải chi Giáo hội Cônggiáo Việt Nam có một cơ sở tổng phát hành, rồi mỗi Giáo hạt có một bộ phận cungứng sách cho các giáo xứ trong Hạt, các bạn trẻ sẽ dễ dàng trao tặng cho bạn bècủa họ những băng đĩa và sách vở giới thiệu Tin mừng với hình thức thích hợpvới tuổi trẻ. Họ có thể thành tông đồ cho những người bạn chưa tin, rồi nhữngngười bạn này khi đã được ơn đức tin, lại thành chứng nhân giữa gia đình và giatộc của mình. Đây là trách nhiệm của các hội doanh trí tại các giáo phận. ĐiềuDân Chúa đang mong chờ nơi các hội doanh trí có lẽ không chỉ là đóng góp xâythêm nhà thờ nhưng là sự suy tư, động não và tích cực góp phần thiết thực đểđào tạo cho Giáo hội những chứng nhân trẻ giàu tâm huyết và khả năng, mà trướcmắt là cung ứng dồi dào thức ăn tinh thần cho họ. Nếu quý vị băn khoăn tìm mộtdự án tông đồ mang tính trí thức, tôi nghĩ dự án ưu tiên nhất cần được chọn làxây dựng cho Giáo phận của quý vị một hệ thống phát hành sách.

Tuy nhiên trách nhiệm lớnnhất trong việc đào tạo người chứng trẻ thuộc về các mục tử. Khi một cha sởgiành lấy cho mình việc chăm sóc những tín hữu mới, chắc hẳn ngài sẽ có hàngngàn sáng kiến. Năm 1990 khi được gặp Đức Cha Phaolô Maria Phạm Đình Tụng tạiBắc Ninh, rồi mấy năm sau được thăm ngài tại Tòa Tổng giám mục Hà Nội, tôi rấtcảm kích vì chính ngài đích thân lo cho các dự tòng trí thức. Tôi cũng gặp đượcmột bản sao y hệt nơi người kế vị ngài là Đức Cha Giuse Maria Nguyễn QuangTuyến. Cả hai vị đều là bản sao của nhóm 12 Giám mục thuở ban đầu, và hơn nữa,bản sao của chính Chúa Kitô, Đấng đã thức thâu đêm để trao đổi với một ngườitrí thức là Nicôđêmô. Rồi cả khi đã mỏi mệt vì đường xa, ngồi bệt bên bờ giếng,Ngài không ngại dành bận tâm cho một phụ nữ đến lấy nước ở đó. Điều an ủi là cảhai đều đã trở thành những chứng nhân cho Ngài…

07
DẠY GIÁO LÝ THEO KINH LẠY CHA

Tiếp tục đề tài đào tạonhững người chứng trẻ trên đường loan Tin mừng cho Dòng họ, tôi xin lưu ý quýgiảng viên giáo lý thêm một chút về việc dùng sách giáo lý, để học viên thấy rõmình đang được đón nhận một Tin mừng tươi mới và diễm phúc, thay vì xem việchọc giáo lý như một gánh nặng bất đắc dĩ.

Ngày nay khoa sư phạm giáolý dự tòng đã đúc kết được những lược đồ khác nhau cho tiến trình dạy/học giáolý dự tòng: lược đồ kinh Tin kính, lược đồ Lịch sử cứu rỗi, lược đồ Phụng vụ,lược đồ Tin mừng. Đó là những kinh nghiệm thuận lợi cho việc đào tạo đức tin.Đang khi ấy, các bản hỏi đáp, cũng gọi là sách bổn (sách phần, sách thiên) haysách giáo lý xưa nay thường chia nội dung giáo lý thành bốn phần: tín lý, luânlý, bí tích và cầu nguyện. “Bản hỏi thưa Giáo lý Hội Thánh Công Giáo” do Ủy banGiáo lý Đức Tin thực hiện năm 2013 cũng thế. Cấu trúc ấy dễ khiến người ta hiểulầm rằng dạy/học giáo lý cũng giống như dạy/học những kiến thức. Việc chiathành bốn phần rất thuận lợi để dùng sau khi học xong giáo lý, để ghi nhớ nhữngđiều đã học theo một hệ thống có thứ tự lớp lang, nhưng nó không được sắp xếptheo những bước phát sinh và nẩy nở của đức tin. Muốn giúp đức tin nẩy nở vàlớn lên cách thuận tự nhiên, nên trình bày theo những giáo trình biên soạn chocác dự tòng, không nên dạy tuần tự từng câu theo sách hỏi đáp. Nói cách khác,nên trình bày theo từng bài trong sách dự tòng rồi cuối bài cho ghi nhớ bằngcác câu tương ứng trong sách giáo lý hỏi đáp.

Bốn sách Tin mừng là bốnquyển giáo lý đầu tiên của Hội Thánh cho thấy rõ việc dạy giáo lý không phải làtruyền đạt kiến thức nhưng phải là đào tạo cho người tín hữu mới có được mộtđức tin sâu xa.

Với bối cảnh văn hóa nặngtính Đạo Hiếu tại Việt Nam, thiết tưởng lược đồ của sách Tin mừng Luca, cũng cóthể gọi là lược đồ Kinh Lạy Cha, dễ giúp người tín hữu mới tiếp cận và đào sâugiáo lý Đạo Chúa cách hồn nhiên, và sau đó dễ chia sẻ lại với anh chị em và bàcon trong dòng họ. Thật vậy, Tin mừng Luca khởi đầu với khung cảnh gia đình vàgia tộc (x. Lc 1,5.36.39-45.57-66), với Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa Tối Cao(x. Lc 1,35), Đấng đến để lo việc của Chúa Cha và ở lại trong nhà Cha (x. Lc2,49), Đấng thuộc về đại gia đình nhân loại, gia phả Ngài phăn ngược lên đếntận cội nguồn đầu tiên (x. Lc 3,23-38), Ngài luôn sống đẹp lòng Cha, Ngài nêurõ bước tiến từ quan hệ huyết thống đến quan hệ Nước Trời (x. Lc 8,19-21;9,57-61; 12,51-53),  Ngài dạy ta cầu nguyệnvới Thiên Chúa là Cha (x. Lc 11,1-4), dạy ta tin tưởng vào tình Cha quan phòng của Thiên Chúa (x. Lc12,22-32). Nổi bật nhất là câu chuyện về tình Cha (x. Lc 15,11-32) và tâm tìnhcủa Chúa Giêsu trên thập giá phó thác linh hồn trong tay Chúa Cha (x. Lc23,46).

Dạy giáo lý theo Kinh LạyCha có nghĩa là mời gọi học viên ngỏ lời với Thiên Chúa là Cha ngay từ khi mớitiếp nhận những thông tin đầu tiên về Ngài, như con nhỏ thưa chuyện cùng Chamình, với hết tình con thảo. Phần tín lý là câu chuyện tình thương của ThiênChúa, Cha của Đức Giêsu Kitô, dành cho chúng ta. Câu chuyện này được kể chủ yếuvới Tin mừng theo Thánh Luca và bổ sung bằng các sách khác: Chúa Cha mặc khảicho những người bé mọn (Lc 10,21), Chúa Cha và Chúa Con (Lc 10, 22), Tình Chaquan phòng (Lc 12,22-32), giàu lòng thương xót và tha thứ (Lc 15,12-32). Ngàilà Cha Đức Giêsu Kitô (Lc 21,41-44), đã trao Vương quốc cho Con mình (Lc22,28-30), Đấng luôn làm theo ý Cha (Lc 22,41-44), phó thác mọi sự trong tayCha (Lc 23,46) và là Đấng đã làm cho Đức Giêsu từ cõi chết sống lại (Lc 24,46)và ban Thánh Thần cho môn đệ (Lc 24,48). Chúa Giêsu Kitô đã chết và sống lại đểquy tụ Gia đình con cái Thiên Chúa là Hội Thánh.

Đời sống luân lý tập trungvào nghĩa vụ của người con Thiên Chúa, với điều răn lớn nhất là mến Chúa yêungười (Lc 10,25-28), và “hãy có lòng nhân từ, như Cha anh em là Đấng nhân từ”(Lc 7,36). Một khi biết được có Đấng Tuyệt Đối đang âu yếm dõi nhìn ta mọi nơimọi lúc, thì dù không được ai ở đời này khen thưởng hay nhìn nhận, ta vẫn luônsống xứng đáng là con cái của Ngài. Với sự quảng đại ấy, dần dần người ta sẽđược ơn nhận biết rằng "vị Thiên Chúa ấy đã yêu thế gian đến nỗi đã bantặng Con Một Ngài để tất cả những ai tin vào Người Con ấy thì không bị hư mấtnhưng được sống đời đời" (Tin mừng theo Thánh Gioan 3,16). Chính Người Conấy đã đến trần gian để dạy ta biết làm con cái trong gia đình trần thế và làmcon của Trời Cao. Từ chỗ là Con Thiên Chúa Hằng Sống, Ngài đã trở nên "Concủa người", "Con của nhân loại" và cũng là người con hiếu thảotrong một gia đình (x. Luca 2,51) để ban cho nhân loại Tinh Thần của ơn nghĩatử, tức là Thánh Thần của Thiên Chúa, Đấng dạy cho mỗi người biết sống như conthảo của Cha trên trời. Bốn biển chỉ có thể là anh em một nhà khi cùng nhìnnhận một Người Cha duy nhất, quy tụ quanh một Người Con duy nhất đồng bản tínhvới Thiên Chúa Cha, là Đức Giêsu Kitô, được Cha sai đến trần gian làm Đấng CứuĐộ duy nhất của nhân loại, hôm qua cũng như hôm nay và như vậy mãi đến muôn đời(x. Thư Hípri 13,8).

Các bí tích là những nhịpsống của người con Thiên Chúa, từ khi được tái sinh bởi nước và Thánh Thần (Lc3,16) cho tới ngày trở về với Thiên Chúa.

Trong chương trình Giáo lýDự tòng, sau khi nói về mạc khải, nên trình bày ngay bài học về Đạo Hiếu vàviệc thờ cúng Ông Bà theo quan điểm Công giáo, để hóa giải thắc mắc về điểm nàyngay từ đầu, trước khi đi vào toàn bộ mạc khải.

08
ĐÀO SÂU LINH ĐẠO LÀM CON THẢO

Như đã nói, dạy giáo lýkhông chỉ là truyền đạt những hiểu biết về Thiên Chúa và chương trình tìnhthương của Ngài, nhưng là dẫn vào một nếp sống mới, dưới sức tác động của ChúaThánh Thần, tức là sống theo linh đạo của người làm con Thiên Chúa. Nói mộtcách giản dị, đó là sống theo Kinh Lạy Cha.

Ngày nay ở Việt Nam dườngnhư sự phục hưng tinh thần gia tộc, với việc xây dựng từ đường, tôn tạo mồ mảcha ông đi đôi với sự phát triển những tin tưởng về phong thủy. Ngoài việc xemphương hướng, coi ngày giờ, người ta còn dùng những đồ vật trấn phong thủy nhưla kinh, la bàn, đá phong thủy đồ thị, đồng tiền cổ của các đời vua, xương thúvật, cẩm thạch, đá thạch anh, bùa chú, châu sa thần sa… Các cửa hàng phong thủylớn nhỏ mọc lên nhan nhản ở các thành phố, với những món hàng giá lên đến vàichục triệu đồng, cũng có những món hàng cao cấp lên đến tiền tỉ. Nhưng phần lớncác món hàng phổ thông được bán với giá vài trăm ngàn đồng tới vài chục triệuđồng là bán chạy nhất và nhiều người ưa chuộng hơn cả. Trước đây việc phát huyTây học, cuộc vận động của Tự Lực Văn Đoàn và các tác giả cùng thời cũng nhưảnh hưởng Kitô giáo qua môi trường giáo dục đã đẩy lùi các tin tưởng và thựchành phong thủy, nhưng vài chục năm trở lại đây người ta lại đua nhau chạy theophong thủy, mong nhờ đó mà mình và con cháu làm ăn phát đạt.

Thách đố lớn trong việc loanTin mừng cho người cùng Dòng họ, là nêu lên được tính lừa dối của quan niệmphong thủy. Chính các con cái Chúa phải bước đi vững vàng trong tinh thần siêuthoát và giúp các tín hữu mới bước đi như thế, thoát khỏi não trạng ham mê tiềnbạc vật chất. Muốn vậy, cần giúp họ xác tín và sống mãnh liệt các ý lực củaKinh Lạy Cha.

Kinh Lạy Cha giúp người tínhữu thoát ra khỏi chính mình. Những ý nguyện nơi phần thứ nhất của kinh này dạyta đặt mục đích đời mình nơi Thiên Chúa chứ không phải nơi tiền bạc. Ý nguyệncủa phần thứ hai nhắc ta sống phó thác vào tình thương quan phòng của ThiênChúa. Chính trên những cơ sở ấy mà ta có thể sống yêu thương, hiệp thông, thathứ và quên mình vì ích chung (x. Mt 6,25-34).

Để chữa lành bệnh dịch bạolực và gian dối đang lan tràn hiện nay, cần phải giúp mọi người nhận ra mình làcon cái của Thiên Chúa Tạo Hóa Tối Cao và là anh em của mọi người. Nếu khôngbiết đến vị Cha Chung đầy nhân ái của muôn loài, Đấng thấu suốt cõi lòng và ânthưởng cả những điều quảng đại bé nhỏ nhất (x. Mt 10,41-42) thì quả là khó màquảng đại quên mình vì ích chung. Ích chung đòi phải quên lợi riêng, cho nên aicũng ngại. Nhờ nhận biết mình là con Thiên Chúa, người tín hữu sẽ quả cảm sốngtinh thần vì ích chung, bắt đầu từ chính mình. Chính tinh thần vì ích chung sẽgiúp ta dám sống công bằng và chân thật, là những giá trị đang trở nên hiếm hoigiữa một xã hội đang quay cuồng chạy theo vật chất.

Muốn xây dựng một thế hệ hàohùng, thượng võ và quả cảm quên mình vì đồng loại, trước hết cần dạy cho họbiết hiếu thảo với Cha Cả trên trời, Đấng đang liên lỉ ngỏ lời với con cái mìnhcách thầm lặng nơi lương tâm họ. Việc giáo dục này chúng ta có thể thực hiệnđược bằng cách cố gắng thêm một chút để sống trọn lý tưởng hiệp thông của Tinmừng và chia sẻ với các tín hữu mới lý tưởng chính chúng ta đang sống. Đây làvấn đề và thách đố đặt ra không phải cho những người đồng tộc nhưng là cho cộngđồng tín hữu Công giáo, ở bình diện giáo xứ cũng như giáo phận. Với kinh nghiệmbản thân về giáo hội Việt Nam,tôi nghĩ rằng đó là điều có thể làm được.

Tôi đã giữ được một kỷ niệmrất êm đềm và thánh thiện về Đà Lạt, là đã được sống tại đó trong thời giangiáo phận này được chuyển mình triệt để nhờ mọi người cùng nhau suy tư, cầunguyện và tập sống theo khôn mẫu Giáo đoàn Giêrusalem tiên khởi. Hiệp thông,quả là Nước Trời giữa trần gian, dĩ nhiên là đang còn bất toàn với bao đấutranh cần thiết. Tiếp đó, cuối năm 1990, được về Bắc Ninh và Phát Diệm, rồinhững năm sau đó được trải qua một vài tuần chầu lượt tại Giáo phận Vinh, tôiđược nhìn thấy thêm một phiên bản thực hành, không cần lý thuyết.

Về sau, tôi còn được nhìnthấy sự thể hiện tình hiệp thông tuyệt vời tại đơn vị hàng xóm: Giáo phậnKontum. Tại những nơi tôi có dịp sống và làm việc như Nha Trang, Sài Gòn, cũngnhư tại Giáo phân mẹ Qui Nhơn, tôi vẫn luôn được đầy an ủi do tình hiệp thôngcủa bề Trên cũng như của anh em chung quanh. Tuy nhiên, cung cách thể hiện củacộng đoàn Công giáo tại Kontum, như tôi được nghe và được thấy, quả là một bảochứng để khẳng định rằng lý tưởng hiệp thông trong Công vụ Tông đồ là điều khảthi ngay ở thời đại này và theo cách của thời đại này. Tôi chỉ được thấy ĐứcCha Paul Seitz một vài lần. Tôi chỉ được gặp gỡ nói chuyện với Đức Cha AlexisPhạm Văn Lộc và Đức Cha Phêrô Trần Thanh Chung một vài lần, còn Đức Cha MicaeHoàng Đức Oanh và anh em linh mục Kontum thì nhiều lần hơn. Điều khiến tôi xúcđộng là qua đó khuôn mẫu của các vị Thừa Sai nghèo, quên mình cho Tin mừng vàcho Dân chúng vẫn còn được “sao y bản chánh” cho đến nay. Hiệp thông và hiệpnhất, quả là sức hút và chất men của Nước Trời.

09
HƯỚNG TỚI THẾ HỆ TRẺ

Loan Tin mừng qua con đườngdòng họ không chỉ là chuyện có tính giai đoạn nhân kỷ niệm 50 năm huấn thị“Plane compertum est”. Lệnh truyền của Chúa là loan báo Tin mừng đến tận cùngthế giới, từ thế hệ này qua thế hệ khác cho tới ngày Chúa lại đến. Như thế, vaitrò các thế hệ trẻ rất quan trọng.

Nơi phong trào tìm nguồn cộicủa người lương cũng như người giáo, thoạt đầu, chỉ những người về hưu mới quantâm. Nay giới phụ huynh trẻ 35-45 tuổi bắt đầu nhập cuộc nhiều. Những người trẻhơn thường ít bận tâm hơn. Do đó, cần nỗ lực đào tạo ý thức cội nguồn cho thếhệ trẻ.

Trước tình cảnh sự học sasút, năm 1990, chúng tôi đã thiết lập việc khuyến học trong phạm vi gia tộc,lấy ngày giỗ ông nội làm "ngày truyền thống gia tộc" đồng thời cửhành ngày này theo dương lịch cho các bạn trẻ dễ nhớ.

Một số phụ huynh trẻ thấychương trình khuyến học khá hữu ích, tích cực theo đuổi và việc phát thưởngnhân "ngày gia tộc" vẫn tiếp tục cho tới ngày nay. Trong ngày nàychúng tôi ưu tiên quy tụ các cháu nhỏ, không mời người ngoài, chỉ tập trung loxây dựng trong nội bộ. Giá trị vật chất của các phần thưởng không đáng kể nhưngvẫn là một cái gì háo hức đối với các cháu mẫu giáo và các lớp nhỏ. Ngày giatộc cũng lôi cuốn với các học sinh lớn nhờ đó là dịp để các cháu đi chơi. Dochúng tôi không có từ đường, ngày này được tổ chức lưu động tại bất cứ gia đìnhnào đăng cai tổ chức. Cả những gia đình trẻ và cả những cháu ngoại cũng đượcquyền đăng cai tổ chức. Nhà nào lo giỗ năm sau sẽ rước di ảnh Ông Bà về lohương khói trong một năm. Bù lại trong năm mọi người được nhắc nhở cầu nguyệncho gia đình ấy. Như thế chúng tôi có một từ đường lưu động hằng năm, đi theodi ảnh Ông Bà. Các gia đình trong dòng tộc chúng tôi ở tại ba tỉnh miền Trungvà cả ở Sài Gòn, hằng năm các cháu đều có dịp quy tụ ở những địa phương khácnhau. Hơn nữa, dù tổ chức ở đâu, ngoài thánh lễ, buổi phát thưởng và bữa ăn giatộc, còn có chương trình dã ngoại hoặc du lịch tham quan. Thêm vào đó, vì khôngcó ruộng hương hỏa hoặc một nguồn lợi tức nào để chi dùng cho việc gia tộc,chúng tôi xây dựng quỹ hương hoa bằng sự quyên góp hằng năm, ngay trong ngàygia tộc. Một phần được giữ lại cho quỹ học bổng, một phần được giao cho giađình đăng ký tổ chức ngày gia tộc năm sau.

Trong cuộc họp mặt đầu tiênvề gia phả dòng họ năm 1996 tại hội trường Viện Sử Học Hà Nội, nhiều đại biểucũng tỏ ra đồng cảm với điều tôi chia sẻ. Tôi lưu ý mọi người rằng tìm lại quákhứ là để phục vụ tương lai. Trong thâm tâm những người nhiệt thành với nguồn cội,ai cũng biết rằng công việc của mình trước hết là nhằm ích lợi tinh thần chocon cháu. Xu thế suy thoái đạo lý trên thế giới thật đáng lo ngại: Phim ảnh bạolực và tình dục cộng với bao nhiêu tệ nạn khác của văn minh hưởng thụ sẽ cànglúc càng phá hỏng những nền móng của đạo đức cá nhân, gia đình và xã hội. Việcdựng lại gia phả, nêu cao tình gia đình và gia tộc là một phương thế có thể gópphần hữu hiệu vào việc giáo dục đạo lý cho con cháu. Từ góc nhìn của một linhmục, tôi thấy ngày nay muốn chấn hưng đạo đức cho lớp trẻ, chỉ riêng nỗ lực củagia tộc hoặc của tôn giáo thôi không đủ, cần có sự hợp tác của cả đôi bên.Chính vì thế mà tôi tham gia nghiên cứu về gia phả dòng họ. Dù chưa thu thậpđược đầy đủ các chi tiết cần thiết, dù còn bất toàn và đầy hạn chế, bản gia phảvẫn là một phương tiện có tác dụng rất lớn trong việc đào tạo lòng biết ơn tiềnnhân, gây ý thức tự trọng và tạo tinh thần cầu tiến.

Gia tộc chúng tôi cũng tìmcách để biến gia phả thành một phương tiện thu hút sự chú ý của các cháu nhỏ vàđào tạo tình gia tộc cho các cháu. Xưa tại Việt Nam, chỉ những người đã khuất mớiđược ghi vào gia phả. Nay chúng tôi ghi vào gia phả cả những cháu nhỏ mới sinh.Hiện chúng tôi đang thí nghiệm phiên bản CD của gia phả, đã thực hiện cách naynăm năm. CD này sẽ cập nhật năm năm một lần, có hình từng gia đình và từngcháu, các cháu có thể bấm tìm như trên một website. Qua thử nghiệm, các cháunhỏ tỏ ra rất thích thú khám phá nhiều điều về dòng họ, gia tộc và họ hàng trênmàn ảnh vi tính. Chúng tôi cũng mong tìm người thiết kế một trò chơi điện tử vềgia phả và dòng họ để đưa vào CD này cho các cháu nhỏ thêm hào hứng.

Việc đào tạo ý thức về ĐạoHiếu còn được thực hiện qua việc hành hương về nguồn cội. Năm 2005, kỷ niệm 50năm cuộc di cư, chúng tôi đã đưa các cháu về cử hành ngày gia tộc tại gốc tổ HàTĩnh. Một vài vị cao niên, một số phụ huynh trẻ và một linh mục trong gia tộcdẫn đầu đoàn hành hương về phát thưởng tại một gia đình ngoài ấy, dâng lễ tạinhà thờ xứ và thắp hương niệm tổ tại từ đương bên làng lương.

 

Nhà giáo Võ Tá Tương đangdiễn giải cho các bạn trẻ hành hương 2005 hiểu những nếp xưa


 

 

.4
LOAN TIN MỪNG
CHO DÒNG HỌ

 

01
PHONG TRÀO LIÊN KẾT DÒNG HỌ

 

Cuộc kỷ niệm 50 năm huấn thịPlane compertum est là dịp để người Công giáo Việt Nam hòa nhịp với trào lưu chungkhắp nơi. Sau ngày đất nước thống nhất, biết bao người lặn lội tìm lại tôngtích người thân, bà con họ hàng và tìm lại gia phả. Đầu những năm 1990, nhiềuban liên lạc dòng họ ra đời và các cuộc gặp gỡ ngày càng nở rộ. Thoạt đầu lànhững nhóm liên lạc ở các thành phố lớn. Mấy năm sau những ban liên lạc địaphương đã nối kết với nhau thành ban liên lạc cả nước, rồi tiến đến thành lậpHội Đồng Dòng Họ cả nước. Ngày càng nhiều những đại hội toàn quốc của các dònghọ, có dòng họ còn phát hành cả thẻ hội viên...

Cùng lúc, trước tình cảnhviệc học sa sút, nhiều gia tộc đã tổ chức việc khuyến học cho con em; nhiều từđường được tôn tạo hoặc xây mới; nhiều tác phẩm nghiên cứu riêng về từng dònghọ được ấn hành. Những sự kiện từ dưới lên đã cộng hưởng với các ban liên lạchoặc Hội đồng Dòng tộc từ trên xuống, tạo nên một luồng văn hóa lôi cuốn cả sựchú ý của tổ chức UNESCO.

Vào Google và gõ: "giaphả - dòng họ - nguồn cội", chỉ trong 6 trang, ta đã đọc thấy 18 trang webriêng của các dòng họ:

trinhtoc.com,hovuvovietnam.com,donghoninh.wordpress.com,nguyendac.com,hophamlangnhuong.com,hodinhvietnam.com,hothaicamlo.info,hodangbinhnghi.com,hodovietnam.vn,hohoanghuynhvietnam.vn,hopham.org,mactoc.com,hokhuatvietnam.org,hothan.org,danggia.org,hotvietnam.org,dangtocvietnam.com,trandang.net

Ngoài những trang web riêngcác dòng họ, có những trang web chuyên đề nghiên cứu về gia phả hoặc lo dịch vụlàm gia phả: www.giaphavietnam.com, www.phahe.vn,vanhoadongho.vn, ...

Ta có thể gõ tìm "nguồngốc họ ..." và dễ dàng tìm được thông tin của cả những họ ít gặp như họTrình, họ Lữ, họ Lại, họ Thân, họ Kiều...

Gõ "ban liên lạc (các)dòng họ" hoặc "đại hội dòng họ...", ta còn khám phá ra rằng việcliên kết các họ tộc không dừng lại trên các phương tiện thông tin mà còn đi vàohoạt động thực tế khá rầm rộ.

Phong trào liên kết dòng họphát triển hết sức nhanh. Mở trang mạng một dòng họ nào đó và bấm vào “kết nối”hoặc “liên kết”, ta sẽ thấy mỗi dòng họ không phải chỉ có một website… Đọc thửmột số thông tin, ta sẽ thấy chỉ dăm tháng sau đại hội dòng họ cấp tỉnh một nơinào đó, các đại hội cấp thành phố, huyện và thị xã đã nối đuôi theo.

Phong trào có một ưu điểm làvượt trên ranh giới địa phương, không phân biệt lương giáo. Nếu người Công giáobiết quan tâm nhập cuộc thì đây là cơ hội rất tốt để hòa đồng với bà con cùngdòng họ.

Phong trào này thúc đẩyngười ta tìm dựng lại gia phả, lập lại từ đường, tổ chức lại các ngày giỗ chung(ở miền Trung gọi là "tế hiệp"). Một số bà con ở thôn quê cảm thấy antâm vì giờ đây đã có một chỗ dựa, đã được thuộc về một tổ chức sinh hoạt vănhóa, vừa mang tính huyết tộc, vừa mang tính tâm linh. Cũng có thể vì thế họthấy không cần phải có một tôn giáo... Đây cũng là điểm đáng cho các giới chứcCông giáo suy nghĩ khi theo đuổi ước mơ chia sẻ Tin mừng với đồng bào.

Số nhà thờ dòng họ tân tạongày càng nhiều (“nhà thờ” là một kiến trúc biệt lập, dành riêng cho việc thờphụng, phân biệt với “từ đường” là gian thờ trong nhà vị trưởng tộc, thường cótính cách hạn hẹp trong vòng ba hay bốn đời). Trên địa bàn tỉnh Bình Định, từđầu năm đến giữa tháng 10-2013, chỉ riêng dòng họ Võ đã có thêm ba nhà thờ mới,hai do bà con góp sức chung công, một do những người khá giả trong gia tộc…Cùng lúc, có những nhóm đồng tộc nghèo và ít người, không sao làm nổi nhà thờriêng. Có lẽ chính cái nghèo ấy đang biến họ thành đối tượng của lòng thươngxót Chúa: “Phúc cho anh em là những kẻ nghèo khó, vì Nước Thiên Chúa là của anhem” (Lc 6,20). Chính Thiên Chúa là Cha nhân ái đang dành cho họ một mái nhàchung, nhà thờ hay từ đường trăm họ, nơi Ngài quy tụ dân nghèo của Ngài.

Trào lưu văn hóa tâm linhnày còn song đôi với sự bùng phát những tin tưởng về phong thủy, dễ khiến ngườilương thêm khép lòng lại với Tin mừng. Ngược lại, nó cũng ôm theo cả những mâuthuẫn, khiến người ta lúng túng. Nếu người Công giáo biết dấn thân nhập cuộckịp thời thì đây lại có thể thành một cơ hội mới của Tin mừng, cơ hội để truyềngiảng cho mọi người nhận ra chỉ có một Thiên Chúa là Cha Chung, là Nguồn Cộiđích thật duy nhất.

 

02
CƠ HỘI CHIA SẺ LÒNG TIN

 

Ngày truyền thống từng dòngtộc tại mỗi giáo xứ sẽ tạo cơ hội để tập thể đồng tộc Công giáo tìm hiểu lòngtin và mối chân tình của tập thể đồng tộc ngoài Công giáo đối với Tổ tiên, vàcũng là cơ hội để chia sẻ lòng tin với họ. Những cố gắng cá nhân dễ rơi vào mỏimệt, nhưng khi biến thành ý chí tập thể, sẽ trở nên bền bỉ lâu dài. Giữa một xãhội nhiều sức ép, việc từng người tiếp nhận đức tin lắm ngại ngùng, khi đức tinđược những người thân cùng chia sẻ, sẽ đầy sức mạnh.

 Nếu tại giáo xứ, dòng họ nào cũng cử hành mộtngày truyền thống dòng họ mình, người Công giáo sẽ có nhiều cơ hội để gặp gỡcác đồng tộc ngoài Công giáo và giúp họ gần gũi với giáo lý Đạo Chúa. Đó cũnglà cách thiết thực để đền ơn đáp nghĩa Tổ Tiên.

Thật vậy, tổ phụ các dòng họtại Việt Nam,tổ phụ Abraham hay tổ phụ Giacóp của người Do Thái, hoặc bất cứ tổ phụ nhânloại nào khác cũng chỉ là những hình ảnh giúp con cháu hướng về nguồn cội cuốicùng là chính Thiên Chúa Tạo Hóa, là Cha chung tất cả mọi người.

Lòng tin của người Công giáovà của anh chị em lương dân nhiều điểm thoạt nhìn có vẻ giống nhau nhưng thựcra vẫn khác biệt rất tinh vi. Ví dụ niềm tin rằng tổ tiên từ bao đời vẫn đanganh linh phù hộ cho con cháu. Người Công giáo hiểu sự phù hộ này theo nghĩa TổTiên chuyển cầu cho con cháu trước Tòa Thiên Chúa.  Mỗi ngày ta đón nhận biết bao ơn lành ThiênChúa, từ cơm ăn, nước uống, khí thở, ánh sáng mặt trời cho đến sức khỏe, tríkhôn, tình yêu và tự do; cả tiền bạc vật chất cũng là ơn lành của chính ThiênChúa Tạo Hóa; Ngài ban tất cả cho ta làm phương tiện để đáp lại tình thương củaNgài mà sống cho nên người như Ngài muốn. Tổ tiên xưa ăn ngay ở lành là nhờ ơnChúa và nay đang linh hiển hộ phù con cháu cũng là nhờ ơn Chúa. Thử nghĩ xem,mai kia chúng ta chết đi và mốt nọ cháu con ta thắp hương khẩn cầu chúng ta phùhộ, chúng ta sẽ lấy quyền phép nào và lấy từ kho tàng nào để trợ giúp chúng,nếu không phải là lúc ấy chính chúng ta sẽ chuyển cầu cho chúng trước mặt Chatrên trời để Ngài ban ơn phúc cho chúng? Người ta quên rằng chính Thiên ChúaTạo Hóa đã xét xử và thưởng phạt mọi thế hệ tổ tiên. Chỉ những tổ tiên nào đangđược hưởng phúc với Thiên Chúa thì mới có khả năng chuyển cầu cho con cháutrước thánh nhan Ngài.

Do mê tín, người ta thêu dệthình ảnh một thế giới vô hình theo mẫu thế giới hữu hình: mỗi dòng họ có châuquận riêng, chết rồi ai về châu quận nấy. Quyển Lịch Vạn Niên bên Tàu liệt kê510 châu quận ở thế giới bên kia, chỉ gồm toàn những địa danh bên Tàu, vậy thìngười Lào, người Campuchia, người Úc, người Phi, người Mỹ chết rồi đi đâu? Ngaycả người Tàu, chết rồi sẽ về châu quận của cha hay của mẹ? Rồi những người đãcải từ họ này sang họ khác, sẽ đi về đâu? Những chuyện ấy chẳng khác nào câuhỏi lẩm cẩm của nhóm Sađốc xưa về chuyện dựng vợ gả chồng bên kia thế giới (x.Mt 22,23-33).

Quỷ dữ hết sức tinh quái.Xưa nó đã dám dùng lời Kinh Thánh để tìm cách dẫn dụ Chúa Giêsu rời xa ý muốncủa Thiên Chúa Cha (x. Mt 4,6). Nay nó cũng dùng đủ các chiêu bài hết sức tốtlành để dẫn dụ người ta chối bỏ Thiên Chúa là Cha Chung. Trên đường làm côngtác nối kết Dòng họ, tôi được biết không ít những chuyện đau buồn khá giốngnhau. Có những nơi hầu hết bà con đồng tộc đều tập trung sum họp trong ngày tếhiệp nhưng riêng một nhóm nào đó, dù có liên hệ gia phả rất rõ và rất gần, vẫnkhông chịu về. Vì một lý do nào đó, ba bốn đời trước đây, người đứng đầu nhánhấy đã tự tách ra, chẳng những không còn về tế hiệp mà còn lưu truyền cho concháu những lý giải thiếu trung thực, đáng buồn, vẽ nên hình ảnh không đẹp vềgốc tổ. Ở một chừng mực nào đó, khi chỉ quan tâm tới những bậc Tổ tiên mươi đờitrở lại đây mà lãng quên Nguồn Cội đích thật và đời đời, người ta cũng đangtheo đuổi một sự chia cắt đáng buồn như thế. 

Trực giác về sự "quytiên" (chết là về với tổ tiên nguồn cội) sẽ rực sáng lên khi người ta nhậnbiết Đấng Tối Cao là cội nguồn cuối cùng, duy nhất và đích thực, đồng thời cũnglà đích điểm cuối cùng mọi loài phải vươn tới. Mọi thế hệ tổ tiên đều đã, vàmọi thế hệ con cháu đều sẽ trở về với nguồn cội cao nhất, từ đó loài người đãphát xuất ra (x. Ga 13,3). Chỉ một mình nguồn cội ấy, chỉ một mình Thiên ChúaChí Thánh, mới đáng cho ta yêu kính hết dạ hết lòng và nhiệt thành phụng sự đếnhy sinh mạng sống. Mọi thụ tạo, cá nhân cũng như tập thể, đều có thể khiếnnhững kẻ dấn thân phụng sự nó bị vỡ mộng, chỉ một mình Thiên Chúa mới hoàn toàntrung tín, không để cho kẻ tin thờ Ngài phải thất vọng bao giờ.

Những hạn chế về gia phả sẽgiúp ta vượt khỏi tầm mức bé nhỏ cục bộ để vươn tới tình huynh đệ đại đồng...Những hạn chế trên đường về nguồn cội sẽ thức tỉnh ta hướng về cội nguồn cuốicùng và đích thật.

 

03
NHÂN HÒA – ĐỊA LỢI - THIÊN THỜI

 

Tới đây, tôi xin phép đượcchia sẻ một vài kinh nghiệm rất riêng, để anh chọ em đồng đạo có thêm chất liệucụ thể, tiện đối chiếu, suy tư và tìm kiếm trong lãnh vực dòng họ.

Ngày đất nước thống nhất,tôi được 28 tuổi. Việc thống nhất tạo thuận lợi cho việc đoàn tụ nhiều gia đìnhvà gia tộc. Tôi quan tâm tìm sao chép lại bản gia phả đã được cụ trưởng tộcphiên âm sang chữ Quốc ngữ và cất giữ, thì được biết đã bị mối mọt ăn hư mất.Tôi tiếc ngẩn ngơ và mong sớm có ngày được về quê để đến kính viếng từ đườngcủa Dòng họ nằm ở làng ngoài Công giáo gần bên và xin tham khảo bản gia phả.Trong lúc chờ đợi, tôi vào thư viện tìm đọc và sao chụp những trang sách có nóivề họ Võ và lịch sử họ Võ... Đọc được một số sách và bài có nói về nguồn gốcdòng họ Võ ở Mộ Trạch, tỉnh Hải Dương cũng như ở Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh, tôicàng háo hức sớm có dịp về Bắc tìm kiếm. Mãi mùa thu 1990, mộng mới thành.

Cha Giuse Lê Viết Phục, DòngChúa Cứu Thế, lúc ấy đã 70 tuổi, là một người cha và một người anh tôi hằngngưỡng mộ. Biết được ước nguyện của tôi, ngài đã mời tôi theo ngài hành hươngGiáo hội phía Bắc trong vòng 3 tuần. Ngài hứa đưa tôi thăm hầu hết các Tòa giámmục phía Bắc và đặc biệt sẽ đưa tôi về làng quê An Nhiên và về gốc tổ Mộ Trạch.Quả là một món quà hết sức bất ngờ.

Sáng ngày 11-09-1990, chúngtôi về tới làng quê nơi tôi sinh trưởng là An Nhiên. Xế chiều tôi tìm đến thămcụ tộc trưởng họ Võ huyện Thạch Hà (tỉnh Hà Tĩnh) ở làng bên để thắp hương báitổ. Sau ngót ba trăm năm xa cách về mặt tinh thần, tôi phập phồng không biết sẽnói năng làm sao. Thế nhưng tôi đã được cụ tộc trưởng và con trai cụ là một nhàgiáo dang rộng vòng tay đón nhận. Nhà giáo này nhanh nhẹn thu xếp mọi sự đểchiều hôm sau tôi dâng thánh lễ cầu bình an cho dòng họ tại sân nhà cụ tộctrưởng.

Cuối thế kỷ 17, cụ tổ đờithứ sáu của họ Võ ở Thạch Hà là Hiển Dương Hầu Võ Tá Cảnh được ơn tin Chúa CứuThế Giêsu Kitô và dọn nhà sang sinh sống tại làng Công giáo, cách khoảng mộtcây số đường chim bay. Người em trai út của ông là Cường Lộc Hầu Võ Tá Trọng đãđưa vai cáng đáng việc từ đường, nhờ đó mà việc tế tự truyền thống vẫn kéo dàimãi đến nay.

Cuộc chia tay để lại vếtthương khó lành trong tâm khảm. Con đường từ thị xã Hà Tĩnh xuống cảng Hộ Độgần như là ranh giới chia đôi, những làng Công giáo ở phía Bắc và những lànglương dân ở phía Nam.Những hoàn cảnh lịch sử đã khiến hai bên trở thành xa lạ với nhau, rất ít khigiao thiệp. Thế mà chiều ngày 12-9-1990, khi tôi cử hành thánh lễ tại sân nhàcụ tộc trưởng Võ Tá Quê, thì có đến gần một trăm người cả lương lẫn giáo cùngtham dự. Chưa đầy hai ngày ở quê nhà, tôi được Thiên Chúa cho thấy bức tường vôhình đã sụp đổ.

Sau thánh lễ, tất cả cùngngồi lại ăn bánh ngọt chia sẻ tâm tình. Tôi đã dự tính về xin tham chiếu giaphả nhưng tôi không còn kịp hỏi han gì đến chuyện ấy vì có một cái gì ở trênvừa ập xuống còn lớn lao hơn nhiều. Nhà giáo Võ Tá Tương cảm tác một bài đườngluật bát cú ghi nhớ cuộc "sum họp". Bài thơ ấy đã mở màn cho cuộcxướng họa "sum họp". Đất nước thống nhất là địa lợi, lòng người cùngkhắc khoải tìm kiếm như nhau là nhân hòa; và hơn thế nữa, còn có cả thiên thời.Vâng, nhờ ơn Chúa, đúng một tuần sau hôm dâng lễ ở từ đường, tôi tìm được ngôimộ ông nội của vị tổ thế kỷ thứ IX mà cha tôi và các chú tôi thường nhắc đến,trên cánh đồng huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương. Trong cùng một buổi chiều ấy, hếtsức bất ngờ, tôi còn tìm được cả những trang gia phả hơn 800 năm trước tại nhàmột vị trưởng lão có tên là Thiên Hựu – Trời xếp đặt. Tôi gửi các bài họa củatôi cùng với hình chụp ngôi mộ và bản đồ chỉ đường  đến đó. Những chi tiết ấy đã tạo thêm cảmhứng cho nhiều người. Có đến gần 40 bài họa của nhiều anh em các nhánh họ Võkhác nhau tại Hà Tĩnh, Nghệ An và cả Hà Nội. Những bài thơ này được chép tay,đánh máy, photocopy, phát tán không riêng trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh mà còn lanđến một số tỉnh thành phía Bắc và phía Nam, góp phần làm dậy nên sức sống chotình đồng tộc...

Kinh nghiệm ở đây, từ chuyệnxướng họa thơ Đường giữa những người luống tuổi, tôi muốn gợi ý với các bạn trẻsử dụng những phương tiện truyền thông ngày nay vào việc xây dựng tình đồng tộcvà loan báo Tin mừng: email, chat, nhắn tin, nhạc chờ, blogs, facebook...

Chuyện thiên thời đối vớitôi còn có nghĩa là những ơn lạ, lặp đi lặp lại nhiều lần trên hành trình tìmvề nguồn cội, giúp tôi tìm ra được cả những manh mối nối liền được một số nhómbị đứt đoạn về gia phả suốt mấy trăm năm qua, như tôi đã kể lại ở cuối quyển VềVới Cội Nguồn. Tôi có cảm tưởng những ơn ấy là những tín hiệu siêu nhiên muốnnhắn nhủ rằng việc nối kết dòng họ đang được Thiên Chúa chúc lành như một nẻođường hồn nhiên của Tin mừng.

04
MƯỜI BÀI TÂM CA MÙA BÁO HIẾU

Tôi đã đề xuất ngày truyềnthống các dòng họ để dễ gặp gỡ anh chị em lương dân và giúp họ hiểu giáo lý đạoChúa. Điều ấy chỉ thiết thực với những ai ở gần nhà thờ, những người ở xa xôithật khó. Như tại giáo phận Qui Nhơn chúng tôi, tỉ lệ người Công giáo chỉ chiếm1,8% dân số, khắp ba tỉnh chỉ có hơn 50 ngôi nhà thờ, cả những người Công giáolắm khi cũng sống rất xa nhà thờ. Vậy thì phải làm sao đây?

Những ai trong quý độc giảthường đi xe đò, hẳn đã có lần được tặng sách báo và băng đĩa Phật giáo. Tôi đãnhiều lần thấy người ta tặng sách và đã hai lần nhận sách. Một lần có vẻ tìnhcờ, người ngồi bên cạnh tôi đọc một quyển sách song ngữ của Hòa thượng TịnhKhông, tôi hỏi chuyện và người ấy tặng luôn quyển sách. Lần kia là một phụ nữmặc áo lam, đem theo một giỏ xách đầy những đĩa CD và những cuốn sách mỏng. Bàlớn tiếng giới thiệu và tặng cho bất cứ ai muốn nhận. Tôi xin hai đĩa, một cótựa đề “Tại sao phải tu theo Đạo Phật” và một có nội dung bảo vệ sự sống.

Mỗi lần dạy giáo lý, tôithường đi in bài ở quầy photocopy của một thiếu nữ khuyết tật rất vui vẻ vàquảng đại. Thỉnh thoảng, khi nội dung bài giáo lý dễ đọc, tôi tặng cho cô mộtbản. Có lần thấy trên bàn một chồng sách mỏng hướng dẫn cách tụng kinh niệmPhật trong các dịp cúng giỗ, tôi hỏi thăm thì được cô tặng luôn một bản. Thậtbất ngờ, tên người “ấn tống” ghi ở cuối, không ai khác hơn là chính cô ấy. “Ấntống” là thuật ngữ chuyên môn có nghĩa là đóng góp để in sách Phật giáo và pháthành miễn phí.

Nhân một mùa Vu Lan, nhậnđược một CD thuyết pháp về “báo hiếu”, tôi đã tặng đáp lễ một CD mười bài “cầucho cha mẹ” của nhạc sĩ Phanxicô Nguyễn Đình Diễn. Phản hồi tích cực từ ngườibạn Phật tử ấy khiến tôi nghĩ đến việc phát hành rộng rãi CD của anh Diễn. Mườibài ca đã khiến nhiều phụ huynh rơi lệ và đã giúp nhiều bạn trẻ quyết sống tốtlành để đáp đền nghĩa mẹ tình cha, tự nó sẽ có sức lan tỏa vượt khỏi hàng ràocác giáo xứ. Tôi trao đổi với một cha phó ở miền quê, anh đề nghị nên chèn vàogiữa các bài hát một vài lời ngắn về Đạo Hiếu theo quan điểm Công giáo. Tôiviết năm lời giới thiệu chèn vào CD và tặng thử. Một số giáo dân lại đề nghịphải cho thêm hình, để người ta vừa nghe nhạc vừa xem hình ảnh.

Quả là một gợi ý hết sứchay. Một CD mười bài hát cầu cho cha mẹ, có lời dẫn về Đạo Hiếu, lại kèm thêmcả hình ảnh người Công giáo đang thắp hương cúng lễ gia tiên, sẽ len lỏi vàomọi ngõ ngách để nói cho người lương hiểu giáo lý Công giáo về Đạo Hiếu. Tôigọi cho nhạc sĩ Phanxicô. Anh đồng ý cho tôi thực hiện. Lúc ấy trên mạng DũngLạc đã có mấy bài được anh Xuân Minh làm thành slideshow. Tôi liên lạc với anhMinh và anh nhận lời làm thêm mấy bài. Một nhiếp ảnh gia ở giáo xứ Tân Phước,Sài Gòn, là anh Phong nhận làm giúp những bài còn lại. Sau bốn tháng, tôi đã cóđược DVD mong đợi với tựa đề: “Tâm ca mùa báo hiếu”. Cả bà con người giáo vàngười lương đều rất thích.

Hy vọng trong dịp kỷ niệm 50năm áp dụng huấn thị về Tôn kính Tổ Tiên, nhạc sĩ Phanxicô sẽ chính thức xinlại giấy phép xuất bản đĩa nhạc này để phát hành rộng rãi trong mọi thành phầnlương, giáo.

Ước gì sẽ có đông đảo anhchị em giúp ấn tống hoặc mua tặng cho bà con lương dân nhân dịp đám giỗ, đámtang, đám cưới, mùa Vu lan, Giáng sinh hoặc Tết Nguyên đán. Nếu các linh mục vàcả giáo dân không có dịp gặp gỡ những người ở xa để hóa giải thành kiến “theoĐạo bỏ Ông bỏ Bà” thì DVD Tâm Ca Mùa Báo Hiếu sẽ làm thay. Khi mỗi gia đìnhCông giáo đều quan tâm mua DVD này tặng cho những gia đình lương dân mình quenrồi chú tâm cầu nguyện cho họ thì có thể nói chương trình mỗi gia đình một tiểutổ truyền giáo đã khởi sự cách nhẹ nhàng.

05
ĂN GIỖ VÀ CẦU NGUYỆN CHO NGƯỜI ĐÃ KHUẤT

Kỵ giỗ khiến bà con lươngdân chạm phải một bí ẩn: Một đàng trực giác thấy người thân chưa siêu thoát,còn phải được thanh luyện (đến hết đời thứ năm), một đàng lại thấy có thể xinhọ độ trì? Làm sao họ có thể độ trì được ai khi họ chưa siêu thoát….

Trước những khó khăn gâylúng túng, sự nhập cuộc của người Công giáo có thể góp thêm hơi ấm. Hơn nữa,với giáo lý minh bạch của Đạo Chúa, họ còn có thể đem lại ánh sáng và bình angiúp bà con đồng tộc vượt khỏi một số khó khăn bế tắc.

Tháng Mười Một, tháng cầunguyện cho các đẳng linh hồn và cũng là tháng kính nhớ Tổ Tiên. Người Công giáovẫn tự hào mình nhớ đến Tổ tiên không chỉ trong ngày giỗ hay ngày mùng hai Tếtmà suốt tháng Mười Một, và cả trong thánh lễ hằng ngày của bất cứ tháng nào. Rõlà người Công giáo không bỏ ông bỏ bà tí nào!

Tuy nhiên ta cần lưu ý đểkhông giản lược khái niệm "kính nhớ Tổ tiên" vào việc "cầuhồn". Theo mục từ "Giỗ" trong từ điển Vi.Wikipedia, ngày giỗthường (từ năm thứ ba trở đi) được duy trì đến hết năm đời, sau năm đời thìđược siêu thoát, không cần "giỗ" riêng nữa. Ngày "giỗ" cóliên quan với việc "cầu hồn" tuy nhiên nó lại vượt xa hơn việc cầuhồn. Xin lược trích:

"Trong thờ cúng tổ tiên,có 3 ngày giỗ: Giỗ Đầu, Giỗ Hết, Giỗ Thường.

Giỗ Đầu gọi là Tiểu Tường,là ngày giỗ đầu tiên sau ngày người mất đúng một năm, nằm trong thời kỳ tang,là một ngày giỗ vẫn còn bi ai, sầu thảm. Thời gian một năm vẫn chưa đủ để làmkhuây khỏa những nỗi đau buồn, xót xa tủi hận trong lòng của những người thân.Trong ngày Giỗ Đầu, người ta thường tổ chức trang nghiêm không kém gì so vớingày để tang năm trước, con cháu vẫn mặc đồ tang phục. Lúc tế lễ và khấn Giatiên, những người thân thiết của người quá cỗ cũng khóc giống như ngày đưa tangở năm trước.

Giỗ Hết gọi là Đại Tường, làngày giỗ sau ngày người mất hai năm, vẫn nằm trong thời kỳ tang. Thời gian hainăm cũng vẫn chưa đủ để hàn gắn những vết thương trong lòng những người cònsống. Trong lễ này, người ta vẫn tổ chức trang nghiêm, con cháu vẫn mặc đồ tangphục và vẫn khóc giống như Giỗ Đầu và ngày đưa tang, vẫn bi ai sầu thảm chẳngkém gì Giỗ Đầu.

Sau ngày lễ này hết haitháng, đến tháng thứ ba người ta sẽ chọn ngày tốt để Trừ phục (còn gọi là Đàmtế) tức có nghĩa là Bỏ tang, người thân sẽ đốt hết những áo quần tang, gậychống. Sau đó, người đang sống sẽ trở lại cuộc sống thường nhật, có thể tổ chứchay tham gia các cuộc vui, đình đám và người vợ mới có thể đi bước nữa (nếuchồng mình mất). Đây là một buổi lễ vô cùng quan trọng, vì nó là một bước ngoặtđối với người đang sống và vong linh của người đã mất.

Giỗ Thường còn gọi là ngàyCát Kỵ, là ngày giỗ sau ngày người mất từ ba năm trở đi. Cát kỵ nghĩa là Giỗlành. Trong lễ giỗ này, con cháu chỉ mặc đồ thường phục, không khóc như ngàyđưa ma nữa, không còn cảnh bi ai, sầu thảm, là dịp cho con cháu người quá cốsum họp để tưởng nhớ người đã khuất, không còn mời khách rộng rãi như hai lễTiểu Tường và Đại Tường.

Ngày giỗ thường được duy trìđến hết năm đời. Đến sau năm đời, vong linh người quá cố được siêu thoát, nênkhông cần thiết phải cúng giỗ nữa mà nạp chung vào kỳ xuân tế. Nhưng quan trọnghơn là con cháu còn nhớ đến tổ tiên và người đã khuất, thể hiện lòng thànhkính. Cúng giỗ không nhất thiết phải quá đắt đỏ, linh đình hay quá cầu kỳ, nhànghèo chỉ cần có đĩa muối, bát cơm úp, quả trứng luộc thì cũng đã giữ được đạohiếu với tổ tiên.

Ngày này, khách đến ăn giỗkhông còn quá đau buồn như hai lễ Tiểu Tường và Đại Tường trước, có thể mặctrang phục bình thường."

Giỗ là dịp để ta chia sẻ cáinhìn về đời sau theo quan điểm Kitô giáo.

Một số người lành thánh đượcTòa Thánh tuyên phong hiển thánh hoặc chân phước, còn ở các trường hợp khác takhông thể võ đoán về tình trạng của người đã khuất. Với đức tin khiêm nhường vàlòng yêu mến dành cho người quá cố, ta kéo dài việc cầu xin cho họ sớm đượchưởng Nhan Thánh Chúa.

Ta phải nghĩ đến sự côngthẳng của Thiên Chúa nhưng không được vì thế mà quên mất lượng từ bi thương xótkhông bến bờ của Thiên Chúa, quên mất rằng người gian phi nọ chỉ thưa với Chúamột lời bày tỏ đức tin thì ngay hôm ấy đã được ở với Chúa trên thiên đàng. Đứctrông cậy dạy ta phải lạc quan tin tưởng vào tình thương tha thứ và thanh tẩycủa Chúa.

06
ĐẾN VỚI LƯƠNG DÂN

Hiện nay có nhiều gia đìnhvà gia tộc Công giáo đang cố gắng tiếp tục triển khai một bản gia phả còn maymắn giữ được hoặc đang gom góp tư liệu để dựng lại gia phả. Đó là sáng kiến quývà là một khởi đầu tốt. Với viễn tượng loan báo Tin mừng, việc này không nêndừng lại trong nội bộ những gia đình đã theo Chúa nhưng cần quyết tâm mở rộngtới anh chị em ngoài Công giáo. Nhiều trường hợp đôi bên còn giữ được liên hệqua việc giỗ chạp. Anh chị em lương dân thường khá kỹ lưỡng trong việc lưutruyền gia phả. Ta có thể nhờ đó mà tìm lại được thông tin về những thế hệ xưa.

Việc mời nhau trong dịp giỗchạp nay đã bình thường. Những ngày truyền thống từng gia tộc tại các nhà thờCông giáo là dịp để mời anh chị em đồng tộc bước tới nhà Chúa, và cũng là dịpđể họ đáp lễ bằng cách mời ta đến thăm từ đường của họ trong các dịp giỗ. ĐứcThánh Cha Phanxicô thật chí lý khi nhấn mạnh đến viếng thăm và gặp gỡ.  Chính sự gặp gỡ sẽ hóa giải những hiểu lầm.

Ở quê tôi, trước kia hailàng lương và giáo rất ít qua lại, thậm chí còn tránh mặt nhau. Thế nhưng sau thánhlễ cử hành tại từ đường bên làng lương tháng 9-1990, người dân hai bên dần dầntrở nên thân thiện. Ngày giỗ Thanh Minh, khi được mời đến dự, bà con đồng tộcCông giáo đem theo hương đèn, hoa quả (Thật ra chỉ mấy năm đầu khi mới tái lậpquan hệ mới cần mời, về sau, việc về thắp hương và đóng góp trong ngày giỗkhông phải đợi ai mời nhưng là một bổn phận).

. Khi tôn tạo từ đường, anhchị em Công giáo cũng đóng góp tiền bạc. Bù lại, khi giáo xứ xây dựng nhà thờmới, anh chị em lương dân quan tâm thăm hỏi, đóng góp. Ngày khánh thành nhà thờxứ, có một đoàn bên làng lương đến mừng. Một gia đình ở đó còn công đức cả hệthống âm thanh và đèn cao áp cho nhà thờ mới.

Sự gặp gỡ cảm thông giúpthay đổi cái nhìn. Bài ca tế Thanh Minh trước kia nhận định rằng “Đức HiểnDương vốn dòng trưởng chánh, việc từ đường vắng tạnh khói hương”, nay đã đổithành: “Hiển Dương Hầu ở ngôi cháu trưởng, đổi sang đường tín ngưỡng Kitô”.Thay vào sự phiền trách là  sự ghi nhậnkhách quan, có phần trân trọng. Có thể nói theo Đạo Chúa không còn là bỏ Ông bỏBà.

Sự có qua có lại này ngàycàng thắm thiết. Bản thân tôi là linh mục cũng cố gắng để khắc sâu mối thântình. Mỗi lần có dịp về thăm quê, tôi đều dành thời giờ thăm vị Tộc trưởng vàngười bạn tâm giao là nhà giáo Võ Tá Tương. Tôi đến thắp hương ở từ đường vàkhi có điều kiện, tôi dâng thánh lễ ở đó. Dù xa xôi ngàn dặm, hàng năm đến giỗThanh Minh, vị tộc trưởng đều gọi điện mời tôi. Một vài lần tôi đã vượt khókhăn để về dự. Một số lần khác, tôi đã gọi điện về xin cha xứ hiện diện thaytôi. Cha Phêrô Nguyễn Đại, khi là chính xứ An Nhiên, đã hai lần đến thắp hươngtại từ đường Hà Hoàng và được mời phát biểu trước hàng mấy ngàn người về dự đạitế.

Sự nhập cuộc của các linhmục được anh chị em người lương quý chuộng cách riêng. Vì thế, mỗi khi bắt liênlạc được với một dòng họ nào, tôi đều cố gắng giới thiệu một cha thuôc dòng họấy. Tại Lý Sơn, cha Phạm Đức Thanh DCCT đã cùng tôi đến thắp hương ở từ đườnghọ Phạm; tại Qui Nhơn, cha Văn Ngọc Anh đã cùng tôi đến thăm nhà cụ trưởng lãohọ Văn đang hoàn thiện bản gia phả dòng họ.

Đã có những linh mục ghi nhớngày giỗ dòng họ mình và tích cực đến hiệp thông, thắp hương. Tại Hải Dương,hằng năm tới ngày lễ hội họ Vũ, Đức Giám mục Hải Phòng Giuse Vũ Văn Thiên vẫncó lẵng hoa gửi về. Trong năm 2012, có lần ngài đã cùng với 18 anh em linh mụcmang họ Vũ về tổ đường này dâng thánh lễ đồng tế.

Đức Giám Mục HảiPhòng dâng lễ tại nhà khách dòng họ Vũ Võ ở Mộ Trạch.

Với những người đã tham dựngày truyền thống dòng họ tại nhà thờ giáo xứ, ta nên quan tâm lui tới thămviếng. Mỗi giáo xứ thường có sẵn những nhóm anh chị em lo thăm viếng, cụ thể làcác anh chị Legio Mariae, vẫn thường thăm người neo đơn, bệnh tật, vv…  ta nên liên kết nhờ họ cùng đi thăm để việcthăm viếng được nhịp nhàng đều đặn hơn. Những người cao niên thường nghĩ nhiềuvề đời sau, và cũng không còn vướng mắc xã hội, ta nên mạnh dạn chia sẻ về đứctin và cầu xin Chúa mở lòng cho họ. Ngày giờ của họ càng lúc càng ngắn ngủi,cần được ta quan tâm giúp hoàn tất cuộc đời đúng như Chúa mong chờ cho họ. Khimột vị lão thành tin nhận Chúa, con cháu người ấy sẽ dễ hướng lòng về Chúa hơn.

Cần lưu ý rằng việc loan Tinmừng của anh em Tin Lành kết quả nhiều là nhờ họ thăm viếng nhiều. Có một đôibạn từ Trung Quốc theo học một Đại học Công giáo tại Mỹ để nghiên cứu về Kitôgiáo. Khi ra trường, họ bày tỏ nỗi ngạc nhiên:

- Tại trường Đại Học này, córất nhiều linh mục, tu sĩ và nữ tu Công giáo, nhưng hơn ba năm ở đây không cóbất cứ một ai đến thăm chúng tôi, ngược lại mỗi ngày Thứ Sáu đều luôn có ngườiTin Lành đến nói về Kinh Thánh cho chúng tôi nghe.

Có lẽ câu nói ấy phải khiếnchúng ta tự vấn nhiều trước anh em và trước nhan Chúa.

 

07
KHÓ KHĂN VÌ GIÁN ĐOẠN PHẢ LIỆU - NHỮNG ĐƯỜNG DẪN CO DÃN

 

Khi mở rộng vòng giao lưutới anh chị em đồng tộc ngoài Công giáo, ta sẽ thấy khó khăn trong việc phụchồi gia phả là chuyện chung của các gia tộc hiện nay, không riêng gì lương haygiáo.

Bản gia phả chi tộc chúngtôi đã được chuyển dịch sang chữ Quốc ngữ khoảng năm 1950. Tiếc thay nó đã bịmối mọt phá hủy. Sự kiện ấy giúp tôi đồng cảm với những nhóm mất hẳn gia phả,do chiến tranh, nghèo đói, không được đi học...

Hiện nay ở huyện quê nhà củatôi có nhiều gia đình Công giáo mang cùng họ và cùng chữ lót với gia tộc chúngtôi, chưa kể nhiều gia đình cùng họ nhưng khác chữ lót, cũng bị mất gia phả nhưchúng tôi. Mỗi nhóm chỉ có thể quy tụ quanh những vị tổ gần đây hiện còn biếtđược nhưng khó mà xác định liên hệ thế thứ giữa vị tổ nhóm mình với những vị tổcác nhóm khác. Về mặt tâm tình đồng tộc, họ không ngần ngại nhận mình phát xuấttừ cùng một vị trưởng tộc đã theo Công giáo cách nay khoảng 300 năm, là HiểnDương Hầu Võ Tá Cảnh, nhưng do thiếu phả liệu nên không sao nối kết thành mộthệ thống chung.

Từ đó, tôi đề ra khái niệm"đường dẫn co dãn", có nghĩa là những gia đình nào muốn đều có thểtiếp tục viết bản gia phả của chính mình, bằng cách nối một đường dẫn co dãn từtổ Võ Tá Cảnh đến vị tổ cao nhất mà gia đình ấy hiện còn biết được. Ví dụ nơigia phả phía cha tôi, đường dẫn ấy sẽ nối từ tổ Võ Tá Cảnh cho đến tổ Võ TáDinh (tôi là cháu đời thứ năm), còn phía họ Võ của các cậu tôi và mẹ tôi đườngdẫn sẽ nối thẳng từ tổ Võ Tá Cảnh đến tổ ngoại tôi là cụ Luca (tôi là cháu đờithứ tư).

Khi tôi mới nêu giải phápnày vào năm 1997, nhiều người còn ngần ngại. Thế nhưng, dịp tế Thanh Minh 2010,hầu hết các nhánh họ Võ tại giáo xứ quê tôi đều đã có mặt tại từ đường đại tôn(do bà con người lương đảm nhiệm) ở Hà Hoàng.

Nếu mỗi gia đình hiện nayđều có thể tự mình nối một đường dẫn co dãn như thế để tiếp tục viết gia phả,thì ai có thẩm quyền thừa nhận rằng gia đình ấy đúng là người trong họ? Theotinh thần anh em về họp mặt trong những năm qua, sẽ không ai đặt vấn đề thừanhận, ngược lại ai nấy đều vui mừng mỗi khi có thêm những anh em đồng cảm cảtrong tâm tình đối với tổ tiên và tâm tình đối với hậu thế. Nói cách khác, bêncạnh những nỗ lực tìm ghi lại quá khứ, hiện còn có một xu thế coi trọng một giaphả tinh thần ít ra cũng ngang hàng với một gia phả bằng chữ viết.

Thật vậy, nếu phục hồi đượcnhững chứng liệu về một chuỗi liên hệ huyết thống đầy đủ và xác thực thì quýbiết bao. Thế nhưng có lẽ đó không phải là mục đích duy nhất của việc thực hiệngia phả và, đàng khác, nhiều khi đó là điều không thể làm được. Ta liên kết làđể thêm tình thêm nghĩa, chứ chẳng có gì để gọi là quyền lợi hay bổn phận. Nếucứ khăng khăng phải tìm cho được chứng liệu liền mạch, chắc hẳn sẽ đến lúcngười ta đành phải chia tay vì không thể nào còn giữ được những chứng liệu nhưthế.

Ngày nay, ai cũng hiểu rằngchuyện một mẹ trăm con chỉ là huyền thoại chứ không phải là gia phả thật. Côngdụng của câu chuyện là tạo cơ sở để bất cứ gia đình nào cũng có quyền nối chínhmình vào cội nguồn Âu Lạc.

Đường dẫn co dãn là chuyệnbình thường trong gia phả học Kinh Thánh. Tại Trung Đông, xã hội du mục hơn3000 năm trước đây đòi các bộ lạc phải nương vào nhau để sinh tồn. Các bộ lạcyếu tìm liên kết với các bộ lạc mạnh. Người ta thường khẳng định liên hệ giữahai bộ lạc bằng một đường dây gia phả nào đó. Nghiên cứu kỹ, người ta khám phára rằng nhiều bản gia phả có phần nhập đề rất giả tạo, mối dây liên kết các bộlạc trong thời điểm viết gia phả rất lỏng lẻo. Dù vậy, mối dây ấy cần thiết đểbiện minh cho sự liên kết và để tạo cho thành viên đôi bên cái tâm lý "máuloãng còn hơn nước lã" và thật sự quan tâm đến nhau.

Vấn đề trước mắt của chúngta là với những mảnh vụn gia phả còn may mắn giữ được, làm sao để tìm ra nhữngmối liên hệ thân tình giữa các nhánh cùng dòng họ? Và hơn nữa, làm sao có thểnối kết khi người ta chẳng còn một mảnh vụn nào? Trong thực tế, tại những thônxã có từ đường một dòng họ nào đó, ngay bên cạnh từ đường có thể vẫn có nhữnggia đình đồng tộc đã gián đoạn liên lạc không biết từ bao giờ, lại cũng cónhững gia đình đồng tộc từ đâu khác mới đến được vài ba đời... Có nơi người phụtrách từ đường đã chủ động đến thăm và mời những gia đình lẻ loi như thế cùngđến dự tế hiệp, vì dù nhiều hay ít, cách này hay cách khác, vẫn có một liên hệđồng tộc.

Nếu giấy trắng mực đen cònđó và chỉ một số ít gia đình nối được tên mình vào chuỗi gia phả thì số ít nàydễ gặp nguy cơ kiêu hãnh, tự hào mình là “của thật”, những anh em khác là “củagiả”. Nay cái giấy trắng mực đen kia thành cát bụi, mọi người đều lạc mối nhưnhau thì cũng đều có thể tự nối với gốc tổ một cách bình đẳng và đồng thời cũnglà một cách khiêm nhường, theo tình chứ không theo lý.

Những liên hệ có tính tươngđối như thế sẽ giúp người trong cuộc tự hỏi tại sao không đi xa hơn, nối tiếpnhững đường dẫn co dãn cho tới con người đầu tiên của lịch sử, cho tới nguyêntổ Ađam để gặp được Cội Nguồn tuyệt đối là Cha Cả trên trời?

Như thế ta có thể tìm được ởđây thêm một minh họa cho học thuyết của các vị Tiến sĩ Hội thánh thuộc DòngCát Minh về sự thanh tẩy chủ động và sự thanh tẩy thụ động. Ông Abraham đã tựnguyện lìa bỏ quê cha đất tổ, lên đường theo tiếng Chúa gọi và gặp được ThiênChúa là Cội Nguồn và Đích Điểm. Ông tự nguyện thanh tẩy khỏi những vấn vươngtrần thế. Còn chúng ta, dù tha thiết với những cội nguồn nhân loại đến mấy cũng không sao tìm lại được; ThiênChúa đã dùng ngoại cảnh, cắt đứt chúng ta với những cội nguồn ấy, rồi khi tađang hụt hẫng bơ vơ thì Ngài lại soi sáng cho ta nhận biết Ngài là Cội Nguồnđích thật. Chính Thiên Chúa thanh tẩy và tước đoạt. Nếu ta thuận tình chiềutheo sự dẫn dắt ấy của Ngài, Ngài sẽ đích thân đưa ta về với Ngài. Nhu thế, cảthái độ tự nguyện lẫn thái độ thuận tình đều giúp nhận được đức tin.

08
MỤC TIÊU, ĐỊNH HƯỚNG VÀ KINH NGHIỆM SINH HOẠT LIÊN KẾT DÒNG HỌ

Năm 2009, cụ Võ Huề ghé thămtôi. Cụ là hậu duệ của tiền hiền Võ Lực, mộ hiện ở nghĩa trang giáo xứ Phú Hữu,huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định. Tôi chia sẻ với cụ về sinh hoạt liên kết họ Võhiện nay ở khắp trong nước và hải ngoại. Cụ thấy ngay đó là một nỗ lực rất tíchcực có thể góp phần giáo dục hữu hiệu cho lớp trẻ. Do đó, cụ đã năng nổ liênlạc và vận động để có được cuộc họp mặt một số bà con Công giáo họ Võ vào dịpsinh nhật Tổ Võ Hồn, ngày mùng 8 tết Canh Dần, 2010.

Cuộc họp mặt đã đề cử ra mộtban liên lạc họ Võ Công giáo tỉnh Bình Định, chuẩn bị cho những cuộc họp mặt vềsau. Thế rồi chúng tôi đã có ngày Võ Tộc Công Giáo Bình Định lần thứ hai, vàomùng 8 tết Tân Mão, 2011 và lần thứ ba vào mùng 8 tết Nhâm Thìn, 2012.

Trong cuộc sinh hoạt lần thứhai, trước các đại biểu cả người giáo và người lương, ông Trưởng ban Liên lạcVõ tộc Công giáo tỉnh Bình Định đã nêu lên những mục tiêu rất thiết thực củaviệc liên kết dòng họ:

- Mục tiêu thứ nhất là đểđộng viên nhau sống tốt, không làm ô danh tổ tiên. Đây là điều quan trọng vàcần thiết trong hoàn cảnh giáo dục đầy khó khăn ngày nay.

- Mục tiêu thứ hai là đểnhắc nhau xây dựng tình gia đình và gia tộc thật ấm cúng đậm đà. Đây cũng làđiều rất quan trọng. Do ảnh hưởng văn minh tiêu thụ, chạy theo tiền bạc, nhiềugia đình dễ tan vỡ. Cùng với lời dạy và sự nâng đỡ tinh thần của Hội Thánh,chính các gia tộc phải tích cực nhắc nhở nhau và giúp nhau vượt qua khó khăn đểbảo đảm hạnh phúc gia đình.

- Mục tiêu thứ ba là để giatăng tình thân ái với các anh chị em đồng tộc trong cũng như ngoài Hội ThánhChúa, để từ chỗ chu toàn đạo hiếu dưới đất với tổ tiên, chúng ta sống trọn đạohiếu thảo với Cha Cả trên trời là Cha chung của hết mọi người. Trước kia, ngườiCông giáo bị gián đoạn việc thờ cúng Ông Bà theo cách cổ truyền, suốt hơn 200 năm, khiến nhiều người lươnghiểu lầm rằng theo Đạo là bỏ ông bỏ bà. Nay những khó khăn đã qua, Giáo Hội đãcho phép người Công giáo Việt Namlập lại việc thờ cúng cổ truyền, ta cần giao lưu gặp gỡ để giải tỏa sự ngộ nhậnđáng tiếc.

Theo hướng ấy, chúng tôi đềxuất những điểm sau đây để chúng ta cùng trao đổi cho sáng rõ thêm.

1. Trong năm nay, cố gắnggiới thiệu sinh hoạt của chúng ta tới bà con đồng tộc trong giáo xứ. Cụ thể làmượn sổ của giáo xứ, lọc ra một danh sách các gia đình Võ tộc.

2. Gặp riêng từng người, kểvề sinh hoạt của chúng ta hôm nay và cùng thảo luận hướng tới tương lai.

3. Xin photocopy tờ hướngdẫn làm gia phả và phát cho các gia đình. Qua chiến tranh, gia phả hầu hết bịthất lạc và gián đoạn. Mỗi gia đình nên chủ động xây dựng lại gia phả, sớm ngàynào hay ngày đó, vì càng để lâu, các bô lão qua đi, ta sẽ không biết hỏi ai.

4. Anh chị em Võ tộc cùnggiáo xứ nên xin cha sở một thánh lễ cầu cho kẻ sống và kẻ chết trong Võ tộc địaphương mình, rủ nhau đi thật đông.

5. Sau thánh lễ ấy, có thểgặp gỡ sinh hoạt và bầu ra một ban đại diện. Ban đại diện nên chọn người trẻ, cóuy tín nhờ khả năng và tư cách đạo đức.

6. Chú ý mời gọi lớp trẻtham gia sinh hoạt Võ tộc tại giáo xứ cũng như liên xứ. Chính lớp trẻ sẽ làtương lai của dòng họ.

7. Có nhiều chị em con gáivà con dâu họ Võ rất nhiệt tình với sinh hoạt dòng họ. Xin đặc biệt lưu tâm vàmời những người ấy giúp việc chung của dòng họ.

8. Gặp gỡ người phụ trách từđường Võ tộc tại địa bàn giáo xứ, tại xã hoặc huyện mình, không phân biệt lươnghay giáo, để xin sao chụp gia phả, phiên dịch và tham khảo để tìm nguồn cội.

Tại mỗi giáo xứ, hằng nămnên có một ngày sinh hoạt, tốt nhất là vào ngày lễ một vị thánh trong dòng họ.Nên mời tất cả các gia đình đồng tộc trên địa bàn giáo xứ, cùng con dâu và conrể. Nên mời cả bà con đồng tộc ngoài Công giáo cùng tham gia, đồng thời cũng nêntích cực nhận lời mời tham gia các sinh hoạt đồng tộc của các anh chị em ngoàiCông giáo.

Nội dung chính là thánh lễvà giờ gặp gỡ trước hoặc sau thánh lễ.

Nhiều làng có hương ước,nhiều nhánh tộc họ có tộc ước. Các quy ước thành văn có cái hay của nó nhưngcũng có lắm điều phức tạp. Sinh hoạt của chúng ta chỉ giản dị là động viên lònghiếu thảo và hiếu học, vì thế nên tránh viết thành nội qui với những điều lệrắc rối. Cần giữ cho sinh hoạt luôn mang tính tự do, không ràng buộc.

Chỉ cần đề cử một ban liênlạc để tổ chức và nhắc anh chị em tham gia. Ban liên lạc làm việc với tinh thầntự nguyện, vô vụ lợi.

Không nên gây quỹ. Mỗi lầnsinh hoạt sẽ xin bà con đóng góp tùy hảo tâm. Nếu bị hụt thì xin thêm cho đủ,nếu dư thì ban liên lạc sẽ quyết định sử dụng vào việc gì có ý nghĩa nhất,trong thời gian sớm nhất, không giữ lại.

PHỤ LỤC
CÁCH KHỞI THẢO GIA PHẢ

 

Đời 1

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Đời 2

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Đời 3

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Đời 4

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Đời 5

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Đời 6

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Đời 7

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

BẢNHƯỚNG DẪN XÂY DỰNG GIA PHẢ
Bước đầu

Xin lưu ý:

Bản hướng dẫn này giúp bạnthực hiện phần chính yếu trong gia phả của bạn, tức là phần trực hệ (cha, ôngnội, ông cố, ông can,…). Sau khi có kinh nghiệm, bạn sẽ bổ sung các phần bànghệ (chú, bác…)

Nếu bạn muốn lập gia phảphía mẹ bạn, thì phải làm một bản khác (mẹ, ông ngoại, ông cố ngoại, ông canngoại…).

Các bước thực hiện:

1. Ghi các tổ phụ (nam giới)hàng dọc từ cha của bạn trở lên, cho tới vị trên cùng mà bạn biết được. Nếu vịnày có những anh chị em mà bạn biết tên tuổi, còn thân phụ của các vị bạn khôngrõ họ tên, bạn sẽ gọi vị tổ cao nhất này là vị tổ khuyết danh.

2. Ghi tên vị tổ cao nhất(hoặc vị “khuyết danh”) đã tìm thấy vào ô đậm ở hàng “đời 1”. Bạn không cònbiết vị này có anh em hay không, cho nên trước tên của vị này không ghi số thứtự nhánh. Hàng “đời 1” chỉ có một ô là vì thế.

3. Các vị tổ đời thứ hai trởđi, mỗi vị có mấy anh em trai thì đời ấy có mấy nhánh. Bạn ghi tên các anh chịcủa vị tổ vào các ô bên trái, các em trai và em gái của vị ấy vào các ô bênphải, theo thứ tự. Sau đó bạn đánh số thứ tự các nhánh vào trước tên nhữngngười nam.

4. Tên phu nhân các vị tổ sẽbổ sung sau.

5. Bạn vạch những mũi tên từmỗi vị tổ đến các người con của họ, rồi xóa những ô trống.

6. Phần gia phả của cácnhánh khác ở mỗi đời sẽ bổ sung sau. Tốt nhất, bạn giao phần của mỗi nhánh chongười phụ trách nhánh đó, rồi cuối cùng sẽ tổng kết lại.

7. Bạn trao đổi với nhữngngười có kinh nghiệm trong vùng để tiến hành những bước tiếp theo.

8. Tại các nhà sách, có mộtsố bản mẫu sổ gia phả – Khi đã có số liệu, bạn có thể tham khảo những sách ấyđể trình bày theo cách nào bạn thấy tiện nhất.

 

09

DƯỚI MÁI TỪ ĐƯỜNG CỦA TRĂMHỌ

 

Loạt bài này khá dài, những ai không có giờ, chỉ cần đọc bài này và mộtvài bài kế tiếp. Những ai muốn nhặt nhạnh thêm kinh nghiệm có thể đọc tiếpnhững điều Chúa đã cho tác giả trải nghiệm hơn 20 năm qua, giúp hiểu ý nghĩamột trào lưu văn hóa và vận hội nó đang đem lại cho sứ vụ loan Tin mừng củaGiáo hội.

Việc thực hành rất đơn giản, bất cứ giáo xứ hay giáo họ nào cũng làmđược.

Sau tết Quý Tỵ 2013 vừa qua tại giáo xứ Song Mỹ thuộc giáo phận NhaTrang, một số bạn trẻ họ Võ đã có sáng kiến xin cha sở một thánh lễ cầu nguyệncho những người cùng họ còn sống và đã qua đời. Với bức tâm thư trang trọng gửiđến mọi gia đình họ Võ trong giáo xứ, đã có trên 100 người đến dự lễ. Sau thánhlễ hơn 50 người đã ở lại gặp nhau tại hội trường giáo xứ. Họ chia sẻ tâm tìnhthật chan hòa rồi thảo luận sôi nổi và đi đến bốn quyết định: Thứ nhất, đề cửra một ban liên lạc họ Võ Công giáo của giáo xứ; thứ hai, mỗi lần có người họVõ trên địa bàn giáo xứ qua đời, sẽ tặng một vòng hoa phúng điếu ghi dòng chữ:"Ban Liên lạc họ Võ Công giáo giáo xứ Song Mỹ thành kính phân ưu";thứ ba: anh chị em đồng tộc Công giáo sẽ nhắc nhau sống tốt hơn để khỏi phụlòng bà con đồng tộc ngoài Công giáo; Thứ tư: Từ đây về sau, mỗi năm tới ngàynày, đều xin lễ như thế và mỗi gia đình họ Võ Công giáo sẽ mời một gia đình họVõ người lương đến dự thánh lễ. Có thể lắm người được mời sẽ không đến nhưngnhiều người khác sẽ đến. Họ sẽ hiểu thế nào là gia đình con cái Chúa, sẽ hiểucách người Công giáo tôn kính và cầu nguyện cho ông bà tổ tiên.

Điều nhóm anh chị em ấy đã làm, thiết tưởng bất cứ nhóm đồng tộc nàotại mỗi giáo xứ, dù đông người hay ít người, cũng đều có thể làm được. Sau baonăm ly loạn, khi hòa bình lập lại, đa số người mình, lương cũng như giáo, hiệnkhông còn gia phả, không còn từ đường, lắm khi không còn nhớ ngày giỗ của dònghọ mình. Thế nhưng khi ta nhận biết Thiên Chúa là Cha, Ngài đã cho lại chúng tatất cả và còn hơn thế nhiều. Không còn gia phả, nhưng chúng ta biết rõ mình làanh em con một Cha trên trời. Không còn từ đường nhưng chúng ta lại có chungmột nhà Chúa là từ đường của muôn dân, bởi lẽ hai chữ từ đường trong tiếng Hándịch sang tiếng Việt không gì khác hơn là nhà thờ. Có thể không còn nhớ ngàygiỗ của dòng họ nhưng chúng ta có ngày lễ của những vị thánh tử đạo cùng dònghọ. Trong số các thánh tử đạo người Việt, có 28 vị ta không rõ thuộc họ nào;còn 69 vị khác thuộc về 17 dòng họ: họ Bùi (2), họ Đặng (1), họ Đinh (3), họ Đỗ(3), họ Đoàn (3), họ Hà (2), họ Hồ (1), họ Hoàng/Huỳnh (1), họ Lê (7), họ Nguyễn(24), họ Phạm (5), họ Phan (3), họ Tạ (1), họ Tống (1), họ Trần (4), họ Trương(2), họ Vũ/Võ (6).

Thử hình dung xem, mỗi năm trong mái ấm từ đường của trăm họ tại giáoxứ liên tiếp có ngày giỗ Công giáo của họ Lê, họ Nguyễn, họ Phạm, họ Phan, họTrần, vv… và các bà con đồng tộc người lương cùng đến dự. Rồi tới ngày tế hiệpcủa họ, họ lại mời các đồng tộc Công giáo và cả vị thủ từ của từ đường muôn dânlà cha xứ đến dự. Dòng họ là con đường thật hồn nhiên để ta đến với anh em vàđưa anh em đến với Chúa. Ta có những cơ hội tốt nhất để giải thích cho bà conlương dân hiểu giáo lý của Hội Thánh Công giáo về Đạo Hiếu và việc thờ cúng TổTiên để giúp họ nhận biết và thờ phượng Cội Nguồn muôn đời muôn thuở là Chatrên trời.

Từ năm này sang năm khác, sự giao lưu gặp gỡ lương giáo sẽ ngày càngthêm dày và thêm thân tình. Chắc hẳn sau năm, bảy năm, không ít người sẽ nhờ đómà nhận được ơn đức tin vào Chúa Cứu Thế Giêsu.

Với hy vọng ấy, tôi tha thiết mời quý độc giả, mỗi người hãy gặp gỡnhững người Công giáo cùng dòng họ trong giáo xứ, trao đổi và thảo luận xem sẽbắt đầu công việc như thế nào. Họ nào loan Tin mừng cho họ nấy: Rủ nhau sốngtốt, hẹn nhau trong một thánh lễ truyền thống hằng năm, và mời bà con đồng tộcngười lương cùng đến dự.

Dĩ nhiên việc gieo trồng không kém phần vất vả nhưng rồi mùa gặt đến,giọng hân hoan, mặt rạng rỡ, ta sẽ ôm những bó lúa trĩu nặng trên tay mà trở vềtrong tiếng hát tạ ơn vì những bà con cùng dòng họ với mình và cả nhiều anh chịem khác đã trở nên con cái Chúa. Cúi xin Chúa chúc lành cho những ước mơ đanglớn dậy trong lòng chúng ta.

10
CÁC THÁNH TỬ ĐẠO NGƯỜI VIỆT XẾP THEO DÒNG HỌ

 

Ở bài chia sẻ 05, chúng tôi đã nêu gợi ý chủ yếu cho việc truyền giáoqua con đường dòng họ. Theo đó, mỗi dòng họ trong giáo xứ có thể tổ chức mộtngày truyền thống cho dòng họ mình. Nếu trong dòng họ có những vị thánh, có thểlấy ngày lễ kính của một vị làm ngày truyền thống. Nếu thiếu vị thánh đồng tộc,có thể chọn bất cứ vị thánh nào tại Việt Nam hoặc ở nước ngoài làm bổn mạng.

Trong danh sách các thánh người Việt dưới đây,

- 69 vị thuộc 17 dòng họ: Bùi (2), Đặng (1), Đinh (3), Đỗ (3), Đoàn(3), Hà (2), Hồ (1), Hoàng/Huỳnh (1), Lê (7), Nguyễn (24), Phạm (5), Phan (3),Tạ (1), Tống (1), Trần (4), Trương (2), Vũ/Võ (6);

- 29 vị không rõ dòng họ.

 

 

Tên thánh

Họ và

Tên

Thành phần

Lễ kính

Nicôlas

Bùi Ðức

Thể

Binh sĩ

 12.06

Ðaminh

Bùi Văn

Úy

Thày giảng TOP

 19.12

Giuse

Đặng Ðình

Viên

Linh Mục

21.08

Ðaminh

Ðinh

Đạt

Binh sĩ

18.07

Gioan B.

Ðinh Văn

Thanh

Thày giảng

 28.04

Tôma

Ðinh Viết

Dụ

Linh Mục OP

 26.11

Vinh Sơn

Đỗ

Yến

Linh Mục OP

30.06

Giacôbê

Đỗ Mai

Năm

Linh Mục

12.08

Phanxicô

Đỗ Văn

Chiểu

Thày giảng

26.06

Phêrô

Ðoàn Công

Quý

Linh Mục

 31.07

Gioan

Ðoàn Trinh

Hoan

Linh Mục

26.05

Phêrô

Ðoàn Văn

Vân

Thày giảng

25.05

Ðaminh

Hà Trọng

Mậu

Linh Mục OP

05.11

Phanxicô X.

Hà Trọng

Mậu

Thày giảng TOP

 19.12

Micae

Hồ Ðình

Hy

Quan Thái bộc

22.05

Giuse

Hoàng Lương

Cảnh

Trùm họ TOP

 05.09

Phêrô

Tùy

Linh Mục

11.10

Phaolô

Lê Bảo

Tịnh

Linh Mục

06.04

Giuse

Lê Ðăng

Thị

Cai đội

24.10

Anê

Lê Thị (Bà Ðê)

Thành

Giáo dân

 12.07

Matthêô

Lê Văn

Gẫm

Thuong gia

11.05

Phaolô

Lê Văn

Lộc

Linh Mục

13.02

Emmanuel

Lê Văn

Phụng

Trùm họ

31.07

Antôn

Nguyễn

Ðích

Binh sĩ

 12.08

Phaolô

Nguyễn

Ngân

Linh Mục

08.11

Phêrô

Nguyễn Bá

Tuần

Linh Mục

15.07

Giuse

Nguyễn Ðình

Nghi

Linh Mục

 08.11

Giuse

Nguyễn Ðình

Uyển

Thày giảng TOP

04.07

Giuse

Nguyễn Duy

Khang

Thày giảng TOP

06.12

Antôn

Nguyễn Hữu

Quỳnh

Binh sĩ

10.07

Micae

Nguyễn Huy

Mỹ

Lý trưởng

 12.08

Phêrô

Nguyễn Khắc

Tự

Thày giảng.

 10.07

Anrê

Nguyễn Kim

Thông

Trùm họ

 15.07

Vinh Sơn

Nguyễn Thế

Ðiểm

Linh Mục

 24.11

Tôma

Nguyễn Văn

Đệ

Thợ may

19.12

Ðaminh

Nguyễn Văn

Hạnh

Linh Mục OP

 01.08

Phêrô

Nguyễn Văn

Hiếu

Thày giảng

 28,04

Laurensô

Nguyễn Văn

Hưởng

Linh Mục

27.04

Giuse

Nguyễn Văn

Lựu

Trùm họ

02.05

Phêrô

Nguyễn Văn

Lựu

Linh Mục

07.04

Augustinô

Nguyễn Văn

Mới

Nông dân TOP

 19.12

Phaolô

Nguyễn Văn

Mỹ

Thày giảng

 18.12

Matthêô

Nguyễn Văn

Phụng

Binh sĩ

 26.05

Emmanuel

Nguyễn Văn

Triệu

Linh Mục

17.09

Phêrô

Nguyễn Văn

Tự

Linh Mục OP

05.09

Stephanô

Nguyễn Văn

Vinh

Nông dân TOP

 19.12

Ðaminh

Nguyễn Văn

Xuyên

Linh Mục OP

26.11

Vinh-sơn

Phạm Hiếu

Liêm

Linh Mục OP

 07.11

Phaolô

Phạm Khắc

Khoan

Linh Mục

28.04

Ðaminh

Phạm Trọng

Khảm

Quan án TOP

13.01

Giuse

Phạm Trọng

Tả

Chánh Tổng

 13.01

Luca

Phạm Trọng

Thìn

Chánh Tổng

 13.01

Simon

Phan Đức

Hòa

Y sĩ

12.12

Philiphê

Phan Văn

Minh

Linh Mục

03.07

Augustinô

Phan Viết

Huy

Binh sĩ

12.06

Martinô

Tạ Đức

Thịnh

Linh Mục

 08.11

Phaolô

Tống Viết

Bường

Quan thị vệ

23.10

Anrê

Trần An

Dũng Lạc

Linh Mục

21.12

Tôma

Trần Văn

Thiện

Chủng sinh

 21.09

Anrê

Trần Văn

Trông

Binh sĩ

28.11

Phanxicô

Trần Văn

Trung

Cai đội.

06.10

Phêrô

Trương Văn

Ðường

Thày giảng

18.12

Phêrô

Trương Văn

Thi

Linh Mục

 21.12

Luca

Vũ Bá

Loan

Linh Mục

05.06

Phêrô

Vũ Ðăng

Khoa

Linh Mục

 24.11

Ðaminh

Vũ Ðình

Tước

Linh Mục OP

02.04

Phaolô

Vũ Văn

Ðổng

Thủ bạ

03.06

Bênadô

Vũ Văn

Duệ

Linh Mục

01.08

Phêrô

Vũ Văn

Truật

Thày giảng.

 18.12

 

29 vị không rõ dòng họ

Tên thánh

Họ và

Tên

Thành phần

Lễ kính

Anrê

 

Tường

Nông gia

 16.06

Anrê

 

Phú Yên

Thày Giảng

26.07

Ðaminh

 

Mạo

Nông gia

16.06

Ðaminh

 

Nguyên

Chánh truong

 16.06

Ðaminh

 

Nhi

Nông gia

 16.06

Ðaminh

 

Trạch

Linh Mục OP

18.09

Ðaminh

 

Cẩm

Linh Mục TOP

11.03

Ðaminh

 

Ninh

Nông dân

02.06

Ðaminh

 

Huyên

Ngư phủ

 05.06

Ðaminh

 

Toại

Ngư phủ

 05.06

Gioan

 

Đạt

Linh Mục

28.10

Gioan Baotixita

 

Cỏn

Lý trưởng

 08.11

Giuse

 

Tuân

Linh Mục OP

30.04

Giuse

 

Hiển

Linh Mục

09.05

Giuse

 

Túc

Giáo dân

01.06

Giuse

 

Tuấn

Giáo dân

07.06

Laurensô

 

Ngôn

Nông dân

 22.05

Martinô

 

Thọ

Viên thuế

 08.11

Phanxicô Xavie

 

Cẩn

Thày giảng

20.11

Phaolô

 

Hạnh

Giáo dân

28.05

Phêrô

 

Ða

Thư Mục

17.06

Phêrô

 

Khanh

Linh Mục

 12.07

Phêrô

 

Dũng

Ngư phủ

 06.06

Phêrô

 

Thuấn

Ngư phủ

 06.06

Tôma

 

Toán

Thày giảng TOP

27.06

Tôma

 

Khuông

Linh Mục TOP

30.01

Vinh-sơn

 

Tương

Chánh Tổng

 16.06

Vinh-sơn

 

Dương

Giáo dân

06.06

 

11
ĐƯỜNG VỀ QUÊ HƯƠNG CÁC THÁNH

 

Hằng năm, tới ngày kỷ niệmcác vị Tử đạo, tại quê hương của từng vị vẫn có lễ hội của Giáo xứ và Giáophận. Theo hướng loan Tin mừng cho đồng tộc, ngoài thánh lễ, rước kiệu, nên cóthêm những sinh hoạt dành cho người cùng dòng họ với vị Thánh. Với sinh hoạtnày, ngày kính vị Tử đạo sẽ sớm thành lễ hội của Dòng họ và có khả năng lôicuốn người đồng tộc, giáo cũng như lương. Tại những nơi ở xa quê hương vịThánh, nếu bà con đồng tộc có điều kiện cũng nên xây dựng tượng đài hoặc đềnthánh. Những nơi này cũng sẽ có thể thành những điểm hành hương cho Dòng họ.

Ngày về viếng đền thánhPhêrô Vũ Đăng Khoa tại giáo xứ Thuận Nghĩa, Nghệ An, đứng trước tượng ngài, tôichợt có cái ao ước gặp gỡ hậu duệ của ngài đang sống quanh đó. Khi biên soạnquyển Về Với Cội Nguồn, tới phần các vị thánh đồng tộc, tôi nghĩ cần cung cấpcho độc giả những thông tin cần thiết để có thể thực hiện những cuộc hành hươnglý thú, vừa về thăm quê hương các thánh vừa giao lưu gặp gỡ với hậu duệ cácngài. Rất may, tôi đã gặp được sự giúp đỡ nhiệt thành của ông bà Phanxicô XaviêPhạm Vũ Hiệp, Hà Nội (sđt: 0949-084-494). Hai vị đã đích thân hành hương đếnquê quán sáu vị thánh họ Vũ-Võ, kính viếng các đền thánh, chụp hình và đíchthân liên lạc với hậu duệ các vị thánh để có được những số liệu chính xác vàsống động. Tôi xin được ghi lại ở đây như một gợi hứng. Ước mong rằng hậu duệcác vị thánh thuộc những dòng họ khác cũng cung cấp cho chúng tôi những thôngtin tương tự để, khi có điều kiện, chúng tôi có thể phổ biến lại cho đồng tộccủa các ngài ở khắp nơi.

 

ĐƯỜNGVỀ QUẦN PHƯƠNG – QUÊ HƯƠNG THÁNH BÊNAĐÔ VŨ VĂN DUỆ

Đền Thánh kính thánh tử vì đạo Bênađô Vũ Văn Duệ tọa lạc tại làng QuầnPhương, thị trấn Yên Định, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định, thuộc giáo phận BùiChu, cách Hà nội khoảng 150 km. Yên Định là một thỊ trẤn nhỏ, đẹp, rất gọngàng, đặc biệt đường quê ngõ xóm rất sạch. Ở đây gần biển nên không khí ấm áp,trong lành dễ chiụ. Người dân sống chủ yếu nhờ nông nghiệp. Bánh nhãn là đặcsản địa phương rất ngon và thơm. Quần Phương là giáo xứ toàn tòng công giáo.Nhà thờ chính xứ ở giữa thị trấn. Giáo xứ này là một trong ba giáo điểm (QuầnPhương Đông Cường, Trà Lũ Phú Nhai và Ninh Cường) trên quê hương Việt Nam đượcđón nhận Tin Mừng sớm nhất, từ năm 1533. Đền Thánh Bênađô nằm sau nhà thờ xứ,cách khoảng 200m, trong một khuôn viên rộng ước khoảng 2000 mét vuông. Ngoàitượng đài Cha Thánh rất lớn dựng ở bên ngoài, bên trong ngôi nhà thờ rất cổkính, khá bề thế đẹp, rất trang trọng và tôn nghiêm còn có bàn thờ Cha Thánh.Phía trước tượng đài và cũng là trước đền thờ Cha Thánh còn có một ngôi nhà 15mx 8m, cao chừng 5m, mái cong rất cổ, lợp ngói ta vừa được tu sửa, quét mầu ghisáng rất ấn tượng.            

Chi tộc họ Vũ ở Quần Phương khá đông và hiện còn giữ được gia phả lậpngày 15-11-1785. Cha Thánh Bênađô là chi thứ hai, con cụ cố Vũ Hữu Quán. Trưởngtộc hậu duệ hiện nay của Cha Thánh là Ông Vũ Hữu Ninh, 70 tuổi (năm 2010 - sđt:0350-377-5017). Ông cùng Ông Vũ Văn Đốc, 61 tuổi, trông nom đền Cha Thánh (sđt:0350-377-5577; 0169-980-188).

Hằng năm, Giáo xứ Quần Phương và hậu duệ Cha Thánh tổ chức giỗ ngài vàongày 1-8 dương lịch và giỗ chi tộc họ Vũ ở Đông Cường – Quần Anh vào ngày 15-11âm lịch.

 

ĐƯỜNGVỀ LÊ XÁ – QUÊ HƯƠNG THÁNH PHAOLÔ VŨ VĂN ĐỔNG

Thánh tử vì đạo Phaolô Vũ Văn Đổng là người làng Lê Xá. Vị thánh này cóngười con trưởng làm linh mục tên là Dương nên thường gọi theo tên con là ThánhDương..

Về mặt xã hội, Lê Xá xưa kia cùng với thôn Cao Xá và thôn Bạn Lễ thuộcxã Vực Đường. Vào thời Hậu Lê, để tiện bề cai trị, vua chia xã Vực Đường thành3 xã có tên là: Lê Xá, Cao Xá và Bạn Lễ.

Về mặt tôn giáo, trước khi vua tách xã, Vực Đường là một họ đạo thuộcxứ Cao Xá (nên hiểu Cao Xá này là tên của một xứ đạo thuộc Hưng Yên, chứ khôngphải là thôn Cao Xá như mới nói ở trên). Giáo dân của họ Vực Đường hầu hết sốngở thôn Lê Xá, nên sau khi tách xã, họ đạo Vực Đường nằm gọn trong xã Lê Xá, cònlại hai xã kia chủ yếu là người lương. Vì thế nói giáo họ Vực Đường hay giáo họLê Xá cũng là một. Vào năm 1915, giáo xứ Cao xá được tách ra thành hai giáo xứ:Cao Xá và Đan Chàng. Lúc đó, họ đạo Lê Xá (Vực Đường) thuộc vào xứ Đan Chàng.Năm 1947, họ đạo Lê Xá được nâng lên là giáo xứ Lê Xá, và kể từ đây tên gọi họđạo Vực Đường biến mất.

Năm 1954, hầu như toàn bộ giáo xứ Lê Xá di cư vào Nam. Sau đó có những gia đình gốcLê Xá từ các vùng xung quanh quay về lại. Theo niên giám 2004, hiện nay Lê Xálà một giáo xứ nhỏ, chỉ có 201 tín hữu, thuộc xã Vũ Xá, huyện Kim Động (xưa làhuyện Ân Thi), tỉnh Hưng Yên, thuộc giáo phận Thái Bình – do cha xứ Ngọc Đồngquản nhiệm.

Đường về Lê Xá: Từ thành phố Phủ Lý, đi khoảng 10km về phía bắc sẽ tớithị trấn Đồng Văn, lên cầu vượt, vào đường đi Hưng Yên và đi khoảng 8 km tớicầu Yên Lệnh , qua cầu là ngã tư Yên Lệnh, rẽ trái , đi khoảng 7 km, qua cả TPHưng Yên tới giữa trung tâm thị trấn huyện Kim Động gặp ngã ba cây xăng, rẽphải (về xã Vũ Xá và Giáo xứ Lê Xá) đi khoảng 5 km, nhìn bên trái sẽ thấy nhàthờ Giáo xứ Lê Xá. Nếu đi xe buýt từ Hà Nội thì đón xe buýt số 209 (Giáp Bát -Hưng Yên).

Khuôn viên Nhà thờ Giáo xứ không rộng lắm. Nhà thờ trước kia lợp ngói.Cột, dầm và kèo đều được làm bằng gỗ tốt, chạm trổ công phu và mỹ thuật, nhưngqua bao biến cố lịch sử, và không được coi sóc nhiều nên đã xuống cấp trầmtrọng và đã được tu sửa 2004, lợp tôn. Người chăm sóc nhà thờ hiện nay là ôngVũ Văn Cường, sđt: 0321-3826-452).

Di cư vào Nam, phần đông giáo dân Lê Xá đến định cư tại Lạc An, tỉnhBình Dương, lập thành họ đạo Lê Xá thuộc giáo xứ Mỹ Vân (Lạc An), giáo phận PhúCường. Trên đường từ Hố Nai về Sài Gòn, đến giáo xứ Hà Nội, theo đường PhátTriển, đi 12 km sẽ đến nhà nguyện họ Lê Xa tại ấp 1, xã Lạc An, huyện Tân Uyên,tỉnh Bình Dương. Cuối nhà nguyện giáo họ có tượng đài Thánh Phaolô Vũ Văn Đổng.Hằng năm, lễ mừng trọng thể được tổ chức cả ngoài Bắc và trong Nam vào ngày03-6, quy tụ bà con đồng hương khắp nơi về tham dự mừng kính vị tử đạo này.

Hậu duệ Thánh Phaolô Vũ Văn Đổng:

Ô. Tôma Vũ Đức Tín, hiện ở Xuyên Mộc, sđt: 0643-877-663; 01627-101-314.

Ô. Tôma Vũ Trọng Tế, ở giáo xứ Thánh Tâm, Hố Nai, sđt: 0613-885-590.

Lm Tôma Vũ Khắc Minh, ở giáo phận Kontum, sđt: 01679-984-138,059-3864-399.

 

ĐƯỜNGVỀ THUẬN NGHĨA – QUÊ HƯƠNG THÁNH PHÊRÔ VŨ ĐĂNG KHOA

Đền Thánh Khoa: Từ Hà Nội vào, qua khỏi km 405 gặp cầu Giát (thuộc thịtrấn Cầu Giát), đi thêm khoảng 500 mét, gặp đường rẽ bê tông phía tây, ranhgiới giữa khối phố 7 và khối phố 8, đó đường vào nhà thờ giáo xứ Thuận Nghĩa.Đền Thánh Khoa ở sát cạnh nhà thờ. Đền thờ Thánh Khoa hiện nay được xây cất năm1992. Hai bên đền thờ là hai khu đất nhỏ, nơi lưu giữ hài cốt và chôn cất cáclinh mục đã phục vụ giáo xứ. Giữa cổng và Đền Thánh Khoa là những hàng ghế đểbà con giáo dân kính viếng Ngài 

Lễ giỗ ngày 24-11 hằng năm tại Thuận Nghĩa được tổ chức rất trọng thể,rước và diễu hành đi rất xa vài ba cây số. Tại miền Nam: lễ giỗ được luân phiêntổ chức tại các xứ có đông người gốc Thuận Nghĩa; cứ mười năm một lần bà con xaxứ lại quy tụ về quê hương Thuận Nghĩa một lần (năm 2010 là lần thứ hai).

Ông Vũ Đình Hòe, hậu duệ Cha Thánh năm nay 54 tuổi, hiện đang chăm sócđền Thánh Khoa. sđt: 038-3770318; 01655403308. Cũng có thể liên hệ với ông VũVăn Sâm, sđt: 01638-687-376.

Từ Thuận Nghĩa phát xuất rất đông linh mục và tu sĩ nam nữ. Trong hànghậu duệ của Thánh Khoa có Lm Vũ Văn Trí, phó xứ Hiệp Đức, giáo phận Phan Thiết,sđt: 0933-163-556; cha Nguyễn Duy Lam ofm (họ ngoại), sđt: 0937-893-885.

 

ĐƯỜNGVỀ CHUÔN TRUNG VÀ BÚT QUAI – QUÊ HƯƠNG THÁNH LUCA VŨ BÁ LOAN

Thánh Luca Vũ Bá Loan sinh tại giáo họ Bút Quai, giáo xứ Bút Đông và antáng tại thôn Chuôn Trung xã Chuyên Mỹ – Phú xuyên – Hà nội (Hà Tây cũ). Tạiđây có Đền và Nhà Thờ kính ngài.

 Từ Hà Nội theo Quốc lộ số 1 xuôivề phía nam, tới km 38 hoặc 40, (có ba lối) rẽ phải vào đường liên huyện, đikhoảng 6 km là tới đền Cha Thánh Luca.

Chuyên Mỹ là một xã nông nghiệp trù phú, nhộn nhịp vì có nghề làm đồ gỗgiả cổ, chạm khảm lâu đời, rất uy tín. Dân toàn tòng công giáo, mộ đạo và rấttôn kính Thánh Luca Vũ Bá Loan. Kẻ Chuôn gồm ba thôn Thượng, Trung và Hạ cùngnằm ven sông Nhuệ. Trước khi Cha Luca chết, cả ba thôn đều đòi xin xác cha vềan táng. Cha đồng ý để cho Chuôn Trung lo. Họ chở xác Cha từ Cầu Giấy về trênsông Nhuệ phải đi qua Chuôn Thượng. Đoán biết giáo dân Chuôn Thượng sẽ giữ dihài cha lại để chôn, họ tổ chức đi hai thuyền. Con thuyền trống dong cờ mở mangáo quan nhưng bên trong không có di hài Cha Thánh đi trước, bị giữ lại ở Chuôn Thượng.Còn con thuyền nhỏ lặng lẽ đi sau đã đưa di hài Cha Luca về tới Chuôn Trung antoàn. Chuôn Trung ở giữa nên cả hai thôn Thượng và Hạ đều có thể đến mộ, khôngxa.

Đền và Nhà thờ kính thánh Luca Vũ Bá Loan ở Chuôn Trung rất đẹp. Bànthờ bằng gỗ quý, được chạm trổ và gắn ngọc trai hồng, trang trọng và mỹ thuật.Sau nhà thờ, trên tháp cao có tượng vị thánh tử đạo nhìn về hướng ngôi Đền kínhngài. Đền được dựng giữa một hồ nước đường kính khoảng 60m, với cây cầu nốixinh xắn. Đền xây hình lục giác, hai tầng mái cong, ở mỗi cạnh được mở bằng 04cánh cửa gỗ. Tượng Thánh Luca Vũ Bá Loan được tạc bằng đá quý.

 Sinh quán cha thánh Luca Vũ BáLoan là thôn Bút Quai – Duy Tiên – Hà Nam (thuộc Giáo xứ Bút Đông), cách ChuônTrung 20 km về phía tây nam. Ta trở lại Quốc lộ 1A, đi tiếp về phía nam, đếnthị trấn Đồng Văn, lên cầu vượt, rẽ trái vào đường sang Hưng Yên, khoảng 4kmđến chợ Lương (chợ mở bên vệ đường) qua cầu Lương, là Giáo họ Bút Quai, nhà thờcách đó khoảng 800m.

Theo bà con ở Bút Quai, con cháu trực hệ Thánh Luca Vũ Bá Loan naykhông còn ai ở làng, chỉ vài người bà con họ ngoại rất xa của Cha Thánh như vợông Trần văn Chiến, người đang coi sóc Nhà Thờ và Đền Thánh ở đây. Ông đã 77tuổi (2011 - sđt: 01696281890).

Bút Quai là một giáo họ nghèo. Đền Thờ Cha Thánh vừa được xây xongtháng 6-2010 do giáo dân tại đây, giáo dân Chuôn Trung, khách hành hương, vàmột số linh mục có liên hệ xa gần cùng góp sức xây dựng. Hàng năm, giáo họ BútQuai cũng như giáo dân Chuôn Trung cùng làm lễ giỗ Thánh Luca Vũ Bá Loan vàongày 5-6 dương lịch.

 ĐƯỜNG VỀ TRUNG LAO – QUÊHƯƠNG THÁNH ĐA MINH VŨ ĐÌNH TƯỚC

Từ Hà Nội muốn về Trung Lao, ta theo Quốc lộ 1, xuôi nam, qua Phủ Lý,tới Nam Định, đi vào trung tâm thành phố, lên cầu Đò Quan, và từ Cầu này đếnthị trấn Cổ Lễ khoảng 20 km. Khi đến gần giữa thị trấn có một cây cầu nhỏ bênphải, rộng và dài chừng vài ba mét gọi là cầu Điên Biên. Qua cầu này, là vàophố Trung Đông – Trung Lao. Sau khoảng 1 km tới cây cầu thứ tư kể từ cầu ĐiênBiên, rẽ trái là đền Cha Thánh Đa Minh Vũ Đình Tước. Đứng ở trên cầu hay trênđường cũng nhin thấy được rất rõ.

Trung Lao là một giáo xứ lớn, có trên 8000 tín hữu với 10 Họ Đạo và 18Xóm Giáo (trong đó có xóm Tây Phong là nơi Thánh Tước Chào Đời và có xây NhàNguyện kính Ngài). Nhà thờ xứ bằng gỗ, Bàn thờ sơn son thiếp vàng cổ nhất Địaphận Bùi Chu, khởi công xây dựng cách đây 123 năm (1888-2011) ngày nay vẫn còntrơ gan cùng tuế nguyệt. Ngày 1.1.2010 Đức Cha Giuse Hoàng Văn Tiệm đã về xứđạo nâng Nhà thờ Lên Đền Thánh với Tước Hiệu Maria Mẹ Thiên Chúa. tại toà vàngtrong Thánh Đuờng có Tương Thánh Tước bằng gỗ qúy to cao 2m50 được thực hiệncách nay cả 100 năm, Đế tượng có hộp dựng xương của Ngài. Ngoài ra trong khuônviên khu vực nhà thờ còn có Đài Tưởng niệm với tượng Thánh Tước đúc bằng đồng,uy nghi đứng bên cạnh Nhà Truyền thống của Giáo Xứ. Tại Trung Lao có rất đôngngười họ Vũ, rất mộ đạo và cũng rất sùng kính các Thánh tử đạo, trong đó cóThánh Đa Minh Vũ Đình Tước. Người đang coi sóc đền Thánh Tước là ông Vũ ĐìnhHàm (sđt: 0165232176), Theo ông Hàm, ở Trung Lao hiện có hơn 200 người theođuổi ơn gọi tại các chủng viện và dòng tu trên toàn quốc.

Hằng năm, bà con Trung Lao tổ chức lễ giỗ Cha Thánh Đa Minh vào ngày19/6 dương lịch, tổ chức rất trang trọng. Khách hành hương và khách mời rấtđông. Đây là ngày lễ đông vui nhất trong năm ở Trung Lao.

Trung Lao là một giáo xứ sầm uất, nhôn nhịp và trù phú. Đa số dân làmnông, một số người đóng đồ gỗ, khắc và chạm khảm tinh vi. Tại quê nhà cũng nhưkhi đi làm ăn xa, giáo dân Trung Lao sống có tổ chức, đoàn kết, biết chia sẻ vàgiúp đỡ lẫn nhau.

Còn về dòng tộc của Cha Thánh Đa Minh tại Trung Lao hiện có các ôngVinh Sơn Vũ Đình Sơn và Vinh Sơn Vũ Đình Sản, sđt: 01697149155. Cha Giuse VũThanh Cảnh - Chính xứ NamĐịnh. TP Nam Định, sđt: 090 326 3902.

Muốn tìm hiểu rõ hơn, xin mời vào trang Giới trẻ Đồng Hương Trung Lao:http://gioitretrunglao.webnode.com.


ĐƯỜNGVỀ HÀ THẠCH – QUÊ HƯƠNG THÁNH PHÊRÔ VŨ TRUẬT

Thầy giảng Phêrô Vũ Truật là vị Thánh tử đạo duy nhất của Giáo phậnHưng Hóa, quê tại giáo xứ Hà Thạch. Giáo phận Hưng hóa nằm phần lớn ở trung du,miền núi Bắc bộ đất đỏ. Giáo xứ Hà Thạch thuộc góc đông nam Thị xã Phú Thọ,tỉnh Phú Thọ; sát đường tỉnh lộ 320, ven bờ sông Hồng. Hiện tại giáo xứ này cóđền kính thánh Phêrô Vũ Truật. Tượng đài và đền thánh tọa lạc trên một khu đấtrộng. Đền thánh được khởi công xây dựng ngày 18-12-1997, do linh mục PhêrôPhùng Văn Tôn, và được Đức Hồng Y Phaolô Giuse Phạm Đình Tụng cắt băng khánhthành, dâng lễ làm phép đền và tượng, ngày 18-12-1998.

Hậu duệ của Thầy Thánh PhêrôVũ Truật hiện còn hai chi. Chi gần nhất là Ô Giuse Vũ Hữu Dụng, sinh năm 1947(sđt: 0121-3714-358). Ông là hậu duệ 6 đời của Thầy Thánh Truật. Còn 01 chi nữaở cách Đền Thánh 6km, vì lý do kinh tế nên chi này đã bỏ họ Vũ sang họ Nguyễnnhưng vẫn tụ họp ngày giỗ Thầy Thánh Truật vào 18-12 hàng năm. Trước kia bà conở đây còn giữ được ảnh chân dung Thánh Truật, có hai dòng chữ nho chạy dọc haibên. Hiện nay bà con đồng hương Hà Thạch, trong nước và hải ngoại, một số nơicòn giữ được di ảnh.
.5
GỠ BỎ
MỘT SỐ TRỞ NGẠI

01
BỮA CƠM CHAY

Trên đường tìm nối kết dòng họ, tôi có dịp gặp gỡ một số đạo hữu CaoĐài và có chung với nhau những kỷ niệm đẹp.

Trong những bản sao gia phả từ những địa phương khác nhau của Hà Tĩnh,có một vị ở đời thứ tư, ông Võ Mạnh, hầu như mọi bản sao đều ghi là "vôtự", chỉ riêng bản của từ đường La Mạc, xã Phong Thịnh, ghi rằng hậu duệcủa vị này hiện phát triển tại Phù Mỹ, Bình Định; một người trong nhánh này làChánh Quản cơ Võ Vệ đã về tìm họ. Tôi đã sao quyển gia phả này ra nhiều chụcbản và đi Phù Mỹ tìm nhưng không gặp được manh mối.

Tháng Mười, 2012, sau tang lễ một bà cụ họ Võ, ông Trưởng ban Liên lạchọ Võ Công giáo Bình Định cho biết có người nhờ ông chuyển cho tôi một bản giaphả. Người này chưa hề biết bản gia phả Phong Thịnh tôi đang phát hành. Ông tachỉ còn giữ được không đầy mười trang chắp vá rơi rớt lại từ một công trình giaphả, nay muốn nhờ tôi xem và cho ý kiến. Tôi cầm lên thì, chao ôi, ngay ở trangđầu tiên, danh tính người tôi đang đi tìm được tô đậm: Ông VÕ VỆ, thời Tự Đức.Chỉ sót lại mấy trang nhưng đủ thông tin để có thể xác lập liên quan giữa ngườiđang sở hữu gia phả với gốc tổ Hà Tĩnh. Người tặng tài liệu nhận tôi làm anh vìông tổ của tôi là trưởng tộc, còn ông tổ anh ta là em trai thứ tư.

Tiếp đó, một cụ niên trưởng người lương đã chở tôi bằng xe máy, từ sángsớm đến trưa, đưa tôi đến thăm bốn từ đường nằm trên địa bàn ba huyện khác nhaucủa tỉnh Bình Định: Tuy Phước, Phù Cát và An Nhơn. Bất ngờ lại có được mộtthông tin hết sức quý mà tôi chưa hề nghĩ tới, chưa hề mong chờ.

Nhánh thứ nhất chúng tôi đến thăm là chi tộc Võ Tấn ở thôn An Lợi, phátxuất từ tỉnh Hà Nam.Rời An Lợi chúng tôi đến thôn Vân Triêm cũng gọi là Vân Tập, thuộc xã Cát Chánhhuyện Phù Cát. Ở đây có hai từ đường họ Võ phát xuất từ Vũng Tô, phái nhất vàphái nhì. Cụ Võ Kế Đức gọi điện đến ông Võ Lục ở tận Gia Lai hỏi số điện thoạicủa vị quản lý từ đường phái nhất. Ông Lục xin chuyển máy điện thoại cho tôi vàbảo:

- Họ Võ của chúng tôi phát xuất từ huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh.

Thạch Hà là huyện quê nhà của tôi. Không dám tin vào tai mình, tôi hỏilại:

- Ông bảo sao: Từ huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh?

Một thông tin đến từ phía không ngờ, từ một người chúng gọi chỉ để xinsố điện thoại người khác. Thông tin này trở thành chủ đề cho câu chuyện của chúngtôi tại ba từ đường chúng tôi đến thăm hôm ấy. Trong bữa ăn trưa, các vị hiệndiện đã yêu cầu tôi giúp tìm gạch nối giữa tổ phụ Võ Quang Biều và gia phảThạch Hà.

Bảng tông đồ 14 đời được phục chế đang trưng bày ở nhà cụ Võ Kế Đức lêntới tổ Võ Quang Biều. Ông Võ Quang Biều và con trai ông là những võ quan chỉhuy một chiến thuyền. Vì một lý do nào đó, thuyền bị chìm, có nguy cơ bị kết ánnặng, cho nên họ đã chạy trốn vào tận Vũng Tô, một thung lũng nhỏ ven biển nằmkhuất giữa ba mặt núi (nay thuộc thôn Tân Thanh, xã Cát Hải).

Trong gia phả Hà Tĩnh những thế kỷ xa xưa không thấy có ai mang tên Biều.Tuy nhiên với chút kinh nghiệm luận giải gia phả đã học, cuối cùng tôi đã kếtluận được vị tổ ấy là ai trong bản gia phả Hà Tĩnh và tại sao hai tên gọi khácnhau chỉ là một người.

Tôi thông báo kết quả và mời các vị đại diện tới Tòa Giám mục Qui Nhơntrao đổi để soi sáng thêm cho luận giải của tôi. Ngoài cụ Đức, năm vị đại diệnba nhánh kia đều là tín hữu Cao Đài. Có thêm bốn anh em các nhánh Công giáocũng được mời tới gặp gỡ. Mọi người phấn khởi khi nối được gia phả với gốc xưa.Kết thúc đã 11 giờ. Tôi mời mọi người đi ăn trưa. Có bốn vị là chức sắc Cao Đàixua tay:

- Xin lỗi huynh, bọn đệ ăn chay. Để bọn đệ tự liệu lấy.

- Thôi mà, nể nhau một bữa, mừng ngày nhận ra nhau là anh em, phá lệ ăncơm người Công giáo nấu xem có ngon lành gì không!

- Không được. Bọn đệ đã phát nguyện ăn chay trường.

- Đùa thôi. Bây giờ đến lượt tôi phải kêu gọi các vị Công giáo, xin mờitất cả cùng đi dùng cơm chay với quý huynh đệ Cao Đài.

Tôi đã đặt sẵn cơm chay tại quán Thanh Minh ở đường Phan Bội Châu, chủquán là một ông biện giáo xứ Chính Tòa Qui Nhơn.

*

Khi tôi nêu câu hỏi tại sao Đạo Chúa có mặt ở Việt Nam đã gần 500 nămmà không thấy dòng tu nào đưa chay lạt vào chọn lựa của mình, nhiều người bảorằng vì chay lạt ôm theo lòng tin về luân hồi. Bạn có thể kiểm chứng ngay bêncạnh bạn rất nhiều người thực hành chay lạt cho dù không hề tin luân hồi. Để ýkỹ ta sẽ thấy tự thâm sâu, những người thờ cúng Ông Bà không tin vào luân hồi.Dựa trên tập tục chỉ giữ bài vị ở nhà năm đời, sang đời thứ sáu thì đem gộpchung ở từ đường hoặc đem chôn, người ta nói rằng người chết ở với con cháu nămđời rồi sau đó đi đầu thai. Trong thực tế thì dù đã sáu bảy đời hay mười mấyđời, con cháu vẫn tin rằng Tổ Tiên đang ở đó và vẫn chân thành cầu khẩn.

Quan niệm chay tịnh của người Công giáo và người lương khác nhau, mộtbên nhằm chia sẻ với những đau thương của Chúa Cứu Thế trong cuộc Thương khó,một bên nhằm phát huy lòng nhân từ, nhưng trước đó cả hai bên có cùng một điểmchung, và cũng là điểm chung với nhiều người thiện chí, muốn tiến bước trênđường “tâm linh”: Sự thanh tẩy giác quan. Việc nhịn đói, kiêng thức ăn độngvật, bỏ thuốc lá hay bỏ rượu đều là những nỗ lực nhằm làm chủ giác quan, vượt thoátnhững đòi hỏi của giác quan để bước đi trong tự do. Để đặt vấn đề loan báo Tinmừng cách nghiêm túc, để đạt kết quả, người Công giáo không thể thoái thác cuộcchạy đua trong việc làm chủ giác quan.

Bản thân tôi vẫn thường xuyên dùng thực đơn chay lạt, chẳng phải vì tôithương các con vật nhưng chỉ vì tôi rất yêu quý bà con lương dân và các Phật tửquanh tôi, khao khát đồng cảm với tâm nguyện tốt lành của họ để cầu nguyện chohọ được ơn đức tin. Không riêng tôi mà thiết tưởng hiện đang có không ít anh chịem Công giáo khác cũng cùng chung một tâm nguyện ấy. Chắc hẳn cả những anh chịem lương dân bán tín bán nghi về chuyện luân hồi, khi biết có nhiều người tinChúa thực hành chay lạt, họ sẽ hiểu ra phải tin theo bên nào mới đúng.

02
CƠM CHAY TRÊN BÀN THỊT CHÓ

 

Tết Quý Tỵ, Trung ương Dòng họ từ Hà Nội viết thư cho hai vị khác vàcho tôi, yêu cầu cả ba hợp tác xúc tiến thành lập Hội đồng Dòng họ Vũ-Võ tỉnhBình Định. Đó cũng là lúc Ban Liên lạc Võ tộc Công giáo tỉnh Bình Định đangchuẩn bị cuộc sinh hoạt lần thứ tư. Đoàn hành hương khoảng 250 người, trong đókhoảng một phần tư ngoài Công giáo, đã đi thăm bốn từ đường người lương và dừngchân dâng lễ và ăn trưa tại một nhà thờ Công giáo, nơi có mộ một vị tiền hiềnCông giáo họ Võ. Trong dịp này, vị nhận lời làm Chủ tịch Ban Chấp hành lâm thờicủa Dòng họ tại Tỉnh Bình Định đọc lá thư của Trung ương, rồi vạch phương hướngxây dựng và tổ chức Đại hội cấp Tỉnh.

Tôi nhận lời tham gia làm một ủy viên thường trực của ban Chấp hành Hộiđồng Dòng họ Vũ-Võ tỉnh Bình Định. Nhờ đó, tôi có dịp theo anh em trong Banthường trực đến dự sinh hoạt tại các huyện và được gặp gỡ thêm rất nhiều ngườicùng chung một mối đồng cảm về Dòng họ. Lắng nghe những chia sẻ tại những sinhhoạt ấy, tôi càng thấy rõ đây là thời của những cơn mưa ơn phước. Lúa chín đầyđồng và có ai đó đã gặt chất nghều nghệu hai bên bờ, chỉ còn việc đem về nhà,tiếc rằng người ta chểnh mảng không chịu đem về cho nên lũ lại cuốn trôi tấtcả.

Vị đứng đầu Ban Chấp hành Dòng họ chúng tôi tại Tỉnh này mấy lần ngỏ lờimuốn nhóm thường trực gặp nhau trong một bữa ăn tại một nhà xứ nào đó. Có lẽ vìsinh hoạt liên kết dòng họ chúng tôi ở đây do anh em Công giáo khởi xướng chonên ông muốn có một dịp bày tỏ thân tình. Tôi ở nhà hưu dưỡng, không có điềukiện. Đang khi đó, sáu trong bảy người của nhóm này có quen biết linh mục nhạcsĩ Ánh Đăng. Tôi ngỏ lời và cha Ánh Đăng sẵn sàng mời và cũng sẵn sàng đáp ứngtheo thực đơn vị ấy đề nghị: thịt chó.

Gần tới ngày hẹn, cha Ánh Đăng gọi cho tôi:

- Trong bảy người, có một phụ nữ, bà ấy ăn thịt chó được không?

- Mình không rõ, nhưng vấn đề có thể chạm đến một trong mấy người đànông: Ông ta là một dược sĩ, 65 tuổi, ăn chay lạt mỗi tháng 12 ngày.

- Làm thế nào bây giờ?

- Anh cứ giúp cái thực đơn kia, còn đồ chay, tôi sẽ nhờ người làm vàđem tới.

Tôi khá thân với vị dược sĩ. Ông rất linh động, gặp ngày chay, người tamời gì ông vẫn ăn nấy rồi ăn chay bù lại ngày khác sau. Tôi đặt đồ chay khôngchỉ để tỏ lòng kính trọng ông mà còn để ông biết trong Hội thánh Công giáo vẫncó người đồng hành với ông. Hôm ấy, người khách phụ nữ ăn thịt chó nhưng mộttài xế rất trẻ lại ăn chay. Phía ăn chay có ba người: vị dược sĩ, cậu tài xế vàmột linh mục. Phía ăn mặn có hai linh mục, một giáo dân và bốn người ngoài Cônggiáo. Bên nào cũng có nửa ký và nửa cân.

Dấn thân truyền giáo, tôi nhận ra rằng thuở ban đầu người Việt hăm hởđón chào Tin mừng cứu rỗi vì khám phá ở đó những giá trị trổi vượt hẳn những gìhọ đang có. Cả tín lý và luân lý Công giáo đều hợp lý, trong sáng và cao cả,đáng tin nhận. Chưa đầy sáu năm, nhà truyền giáo trẻ 31 tuổi làm việc tại QuảngNgãi – Marie André Garin (cố Châu) – đã rửa tội hơn 1.200 người lớn và hơn10.000 trẻ nhỏ. Họ đã theo tôn giáo của ông Tây trẻ tuổi, nói tiếng Việt trọtrẹ, vì nhận thấy ở đó những giá trị cao cả mà văn hóa cổ truyền không sao sánhđược.

Thế nhưng ngày nay mọi chuyện không còn đơn giản như thế. Những tàiliệu xuyên tạc Đạo Chúa, bắt đầu với “Tây Dương Gia Tô bí lục” và tiếp tục vớinhiều sách báo, phim ảnh và trang mạng vu khống, bôi nhọ Đạo Chúa, anh chị emlương dân hiện đang có những ấn tượng xấu rất khó phai mờ về người Công giáo. Bêncạnh đó, cuối thế kỷ XIX, sách vở Phật giáo đều bằng ngoại văn và chưa phổ biếnrộng rãi đến đại chúng; còn cuối thế kỷ XX, kinh điển Phật giáo được dịch raquốc ngữ, nhiều tác phẩm trình bày Phật giáo cách mới mẻ và lôi cuốn.

Ngôn ngữ Phật giáo xây nền trên vốn từ Hán Việt, có bề dày hàng chụcthế kỷ, càng đào bới càng sâu. Đang khi đó, ngôn ngữ của giới Công giáo có haiphần: Những kiểu nói thuần nôm sớm bị lỗi thời, những kiểu nói vay mượn của HánViệt thì chưa sàng lọc đủ, hỗn độn, không thống nhất… Cả hai đã khiến cho vănchương nhà đạo bị đẩy lùi và gạt sang bên lề dòng văn học của cộng đồng dântộc… Thay vì sức hút mãnh liệt của thuở đầu, ngày nay sách vở nhà đạo lại gâydị ứng, khó được tiếp nhận.

Thêm vào đó, Phật giáo được lan truyền bằng con đường thực hành, bằngchứng nghiệm bản thân, tạo nên cho đại chúng tín đồ một trào lưu xác tín mạnhmẽ. Những ai đã tiếp cận với thiền định và chay lạt đều cảm thấy rằng đó lànhững giá trị khó thay thế.

Đang khi đó, người Công giáo Việt Nam lại chạy đua phát triển sinhhoạt các giáo xứ thay vì chạy đua trong việc thể hiện các giá trị Tin mừng. Cácgiáo xứ tạo nên cảm giác ổn định nhưng có lẽ chính sự ổn định ấy đã vô tìnhkhiến cho Đạo Chúa bị phá giá. Thay vì là niềm vui phấn đấu của dòng người lữhành, đám dân Chúa thích định cư trên trần thế, trở thành tôn giáo của đámđông, của các hình thức lễ hội, khiến sức đổi mới cuộc sống ngày càng bị yếuđi, không toát ra được những giá trị sâu thẳm và cao vượt như thuở ban đầu. Giữalòng xã hội tiêu thụ, chủ nghĩa tương đối không bành trướng nơi các cộng đồngCông giáo Việt Namvề mặt lý thuyết nhưng hình như nó hoàn toàn thắng thế về mặt thực hành…

Trước mắt người Công giáo đang mở ra một cuộc chạy đua với anh em Tinlành và chạy đua với các tôn giáo phương Đông: chạy đua về các giá trị. Quả làmột thách đố hết sức lớn nhưng đồng thời, với ơn Chúa, đây lại đang là một cơhội có một không hai để tiến nhanh vượt bậc.

Khi biết nhìn nhận thiện chí và những kinh nghiệm của anh chị em lươngdân, như sự thinh lặng và chay tịnh, chúng ta sẽ có thêm những điều kiện mới đểsống triệt để các giá trị Tin mừng. Qua đó, anh chị em lương dân sẽ thấy rõthiện chí của chúng ta, và đến lượt họ, sẽ mở rộng cửa lòng để đón nhận ánhsáng của ơn cứu rỗi.

03
TỎA SÁNG CÁC GIÁ TRỊ

Giữa lúc xã hội quay cuồng với văn minh tiêu thụ, đang âm thầm lan tỏamột niềm khao khát các giá trị tinh thần, ngay cả nơi những bạn trẻ rất íttuổi. Trào lưu ấy đòi chúng ta, nếu muốn loan báo Tin mừng, phải có kế sách tỏasáng các giá trị Tin mừng trong cuộc sống.

Chúng  ta có những giá trị nổibật: chân thật, công bằng, bác ái, bảo vệ sự sống… Tuy nhiên có thể những giátrị ấy đang bị lu mờ do nhiều anh chị em thiếu ý thức, không còn cố gắng pháthuy. Đang khi đó, việc thực hành chay lạt đang nở rộ như một giá trị trổi vượt.

Mỗi lần tham gia bàn thảo chọn ngày họp mặt đồng tộc có chuyện ăn uốngđi kèm, tôi thường nghe người ta cân nhắc để tránh ngày rằm và mừng một, nghĩalà tránh ngày chay lạt. Tỉ lệ số người thực hành chay lạt khá  lớn. Nhiều người ăn chay để cầu phúc, để đượcthành công, buôn may bán đắt. Tuy nhiên nhiều phụ huynh khuyên con cái ăn chayvì mục đích giáo dục. Họ mong muốn cho con em biết sống thanh thoát, nhân ái,điềm đạm. Chay lạt gia tăng lòng nhân ái. Nó dạy trẻ em tôn trọng cả con muỗi,con kiến. Giống hệt tâm niệm của các hướng đạo sinh sói con: “Hướng đạo sinhyêu thương loài vật”. Nếu với những con vật bé nhỏ làm hại ta mà ta còn nhân từtha thứ, tôn trọng mạng sống của chúng thì không có lý do gì đế ta được nónggiận với người đồng loại. Nhờ ăn chay, bạn trẻ biết sống hiền lành, nói năngnhỏ nhẹ, lịch thiệp. Đó là chưa kể những lợi ích về dinh dưỡng, giúp tránhnhiều bệnh tật, đã được khoa học chứng nghiệm. Những bạn trẻ này thường khôngbiết gì về giáo lý nhà Phật nhưng họ xác tín giá trị của chay lạt và sẽ khôngchấp nhận một chọn lựa nào chống lại xác tín ấy.

Nói thật ra, có lẽ nhiều người tưởng rằng kiêng cả thịt lẫn cá là điềugì khó lắm. Trong thực tế không khó gì cả. Nhất là nếu chúng ta có tấm lòngnghĩ đến phần rỗi của anh chị em lương dân, chúng ta sẽ thấy chay lạt là điềulý thú và có lợi nhiều mặt. Còn nếu đã ngại hy sinh cố gắng thì chắc hẳn baogiờ cũng có thể vịn hết cớ này đến cớ nọ để lẩn tránh.

Trước đây, việc kiêng thịt ngày Thứ Sáu đã thành thông lệ. Người nộitrợ Công giáo nhớ ngay rằng Thứ Sáu không mua thịt. Xã hội bên ngoài cũng nhìnnhận điều ấy như một thực tế. Hằng tuần cứ tới Thứ Sáu là lượng thịt bán ở chợtự động giảm hẳn, tôm cá được bày bán nhiều hơn. Người ta lấy cớ thời chiến đểxin Tòa Thánh chuẩn miễn. Nay thì thời chiến đã lùi vào quá khứ đến gần bốnmươi năm và Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo 1992 vẫn khẳng định điều răn kiêngthịt nhưng chẳng hiểu tại sao người ta lại cứ lờ đi.

Để việc truyền giáo đạt kết quả, cần khẳng định lại việc kiêng thịtngày thứ Sáu, và đi xa hơn một bước nữa: kiêng luôn cả cá. Tại đây còn một chitiết nữa rất đáng suy nghĩ: Người lương giữ chay không do luật buộc mà do tựphát nguyện. Thánh Phaolô cũng từng phát nguyện như thế: “Phạm đến anh em vàlàm thương tổn lương tâm yếu đuối của họ là phạm đến Đức Ki-tô! Vìthế, nếu của ăn mà làm cớ cho anh em tôi sa ngã, thì tôi sẽ không bao giờ ănthịt nữa, để khỏi làm cớ cho anh em tôi sa ngã” (1Cr 8,12-13).

Vấn đề chính yếu ở đây là cần chia sẻ quan niệm về chay tịnh của phươngĐông là tôn trọng sinh mạng của muôn loài. Không phải là chay trường, chỉ cầngiữ tất cả các ngày Thứ Sáu, mỗi tháng được bốn ngày, cũng bằng ba mươi, mùngmột, mười bốn và rằm cộng lại.

Trong bài "Những nẻo đường hồn nhiên của Tin mừng - 9" giớithiệu trên mạng internet đầu năm 2010, tôi đã kể về kinh nghiệm chay lạt củabản thân tôi. Qua kinh nghiệm ấy, tôi hiểu tại sao người ta quý chay lạt. Nhữngngười đã phát nguyện ăn chay trường khó mà từ bỏ điều ấy để theo Kitô giáo.Những người chưa qua kinh nghiệm chay trường ít lâu, khó hiểu được rằng ngườicảm nhận sự thanh cao của nó và quý trọng chẳng khác nào người tu sĩ Công giáocảm nhận và quý trọng ơn độc thân khiết tịnh.

Với kinh nghiệm ấy, tôi nhận ra một lý do hệ trọng lý giải tại sao ngàynay không còn hiện tượng người Việt theo Kitô giáo ồ ạt như mấy thế đầu củacuộc truyền giáo. Xưa kia người dân ồ ạt tin theo Đạo Chúa, vì nhận thấy ở đónhững giá trị cao cả mà văn hóa cổ truyền không sao sánh được. Ngày nay anh chịem lương dân từ chối theo Đạo Chúa cũng vì lý do tương tự. Họ khám phá và xáctín sự cao quý của chay lạt cùng những hoa quả tự nhiên và tâm linh phát xuấttừ chay lạt: sự hiếu hòa, lòng từ bi nhân ái, sự từ bỏ, một thân xác và tâm hồnthanh tịnh, sự hòa hợp với thiên nhiên đã khơi nguồn và thấm sâu vào tâm hồn họnhờ chay lạt. Họ xác tín không phải do xưa bày nay làm nhưng với những sách vởvà chứng nghiệm rất rõ theo khoa học. Lập luận hết sức đơn giản: Tại sao phảibỏ một con đường có những giá trị cao cả như thế để đi theo một con đường thiếuvắng những giá trị ấy?

Tôi viết bài này không phải để đề nghị các Bề Trên trong Giáo hội buộcgiáo dân ăn chay lạt. Sự thành công và thuyết phục của chay lạt chính là ở chỗnó không phải là một luật buộc nhưng là một giá trị cuốn hút. Suy nghĩ của tôilà thế này: Khi chúng ta biết nhìn nhận và đón nhận những giá trị cao quý củaanh em, anh em sẽ nhìn nhận và đón nhận những giá trị cao quý gấp bội của Tinmừng. Tôi không chờ đợi những quyết định của các Bề Trên trong Giáo hội nhưngchờ đợi sự hưởng ứng của chính bạn, người đang đọc những dòng này.

Ước mong các đồng đạo trẻ của tôi, cách riêng là những người tận hiếntrẻ, sẽ nhập cuộc nghiên cứu vấn đề này, không chỉ trên giấy bút nhưng trướchết bằng thực nghiệm bản thân. Các bạn và tôi, không những chúng ta sẽ gặt háiđược những ích lợi phần xác và phần hồn mà còn được đón nhận cả những linh hồntuyệt vời của các anh chị em chúng ta nữa.

04
KHÔNG PHẢI VỰC SÂU NHƯNG LÀ KHÁT VỌNG

Năm 1997, cuối thánh lễ an táng một linh mục, người ta hát bài “Từ vựcsâu u tối”. Sau đó một giáo dân tâm sự với tôi:

- Con nghe bài hát mà nản lòng và bất mãn quá! Ông cha này ai cũng biếtlà rất tốt, rất đạo đức thánh thiện, tại sao vừa chết xong lại bị đày xuống vựcsâu, bị tống vào ngục tối ngay lập tức vậy?

Lời chia sẻ khiến tôi giật mình. Chính bản thân tôi cũng đã nhiều lầncảm nghiệm nhận ra sự trái khoáy ấy mà không lấy làm điều, nhưng đối với nhữngngười đang kiếm tìm đức tin thì quả tình bài ca có thể khiến họ nghĩ: Cách nhìnvề cái chết của người Công giáo thật mâu thuẫn. Có những lần tôi hiện diệntrước áo quan anh chị em mình trong tâm tình chúc mừng, mừng vì Chúa Kitô CứuThế vừa khẳng định thêm một chiến thắng không thể đảo ngược, trong lúc bên taitôi người ta đang rên rỉ câu kinh từ vực sâu ai oán. Thật hết sức lạc điệu nếugiữa tâm tình rộn rã của đêm chia tay trước khi cô dâu lên xe hoa về nhà chồng,chợt có người cất tiếng: Từ vực sâu tối tăm!... Vâng, nhiều trường hợp chúng tacầu nguyện bên người vừa nằm xuống trong bầu khí họp mừng vượt qua, và như muốntha thiết nói với Tân Lang rằng: Xin hãy cảm thông, vui lòng chờ cho chúng emđược tỏ chút luyến lưu bịn rịn; chỉ vài giờ nữa thôi, chúng em sẽ để cho Chàngtự do đưa bạn ấy lên đường…

Tôi đã hứa sẽ viết bài về vấn đề này. Giới Công giáo đã quá quen taicho nên không để ý rằng bài hát mang hình ảnh vực sâu tối tăm có thể gây phảncảm nặng nề nơi người ngoài Công giáo. Người ta đồng ý rằng người Công giáoluôn tưởng nhớ đến người đã khuất rất nhiều, nhưng cách nhớ tưởng ấy rất khácvới tâm tình người Việt. Người Việt nhớ đến Ông Bà Cha Mẹ đã khuất và xin cácngài phù hộ cho con cháu, còn với người Công giáo, hình như Ông Bà Cha Mẹ chếtxong là rơi vào thảm trạng bi thương. Hiện nay, không chỉ có một bài mà đếnbốn, năm bài hát với hình ảnh vực sâu tối tăm, từ chốn luyện hình u tối. Nhữngbài này thịnh hành đến nỗi buổi kinh hoặc thánh lễ tưởng nhớ người chết màkhông hát một trong mấy bài ấy thì dường như còn thiếu sót.

Vừa qua, sau 15 năm gặp lại người giáo dân nọ, chúng tôi nói chuyệnkhác, nhưng tôi chợt nhớ một món nợ chưa trả.

Tôi về mở quyển “Nghi Lễ An Táng và Thánh Lễ Cầu Hồn”, Ủy ban Giám mụcvề Phụng tự xuất bản, Sài Gòn 1971, dày 230 trang, thấy phản ứng của người ấyrất đúng. Quyển sách gồm có 5 lời hiệu triệu, 152 lời nguyện, 9 bài Cựu ước, 8đoạn xướng đáp và lời cầu , 26 thánh vịnh, 11 câu xướng alleluia và 20 bài Tânước chưa kể kể 19 bài Tin mừng, 5 kinh Tiền tụng, 3 Kinh nguyện Thánh Thể… Suốtbằng ấy nội dung, tiếng "vực sâu" chỉ xuất hiện trong một bản văn duynhất là thánh vịnh 129/130 được in lại 6 lần ở các trang 19, 23, 28, 56, 84 và125. Thánh vịnh này được đề nghị dùng làm đáp ca, và ở các trang 28, 56 và 84có hai câu đáp để chọn là câu 1: “Từ vực sâu, Lạy Chúa, tôi kêu lên cùng Chúa”hoặc câu 5: “Tôi hy vọng rất nhiều vào Chúa, tôi trông cậy ở lời Người”; ởtrang 19 và 23 có hai câu đáp để chọn là câu 1: “Lạy Chúa, tôi kêu lên cùngChúa”, bỏ cụm từ “Từ vực sâu”, hoặc câu 6: “Linh hồn tôi mong đợi Chúa tôi”, ởtrang 125 không có câu đáp. Như thế ở đây phụng vụ cũng đọc thánh vịnh này vớitất cả sự lạc quan tin tưởng như khi trích đọc nó trong Kinh chiều II của LễGiáng sinh.

Các nhạc sĩ Việt Namđã dừng lại ở hình ảnh vực thẳm và triển khai kịch tính của hình ảnh này khiếncho một chi tiết phụ của bài thánh vịnh lấn lướt mất nội dung chính. Điều nàycũng có phần do âm hưởng của cung giọng não nuột của kinh "Ớ Chúa tôi, tôiở chốn thẳm sâu kêu lên cùng Chúa" (Đàng Trong) tức cũng là kinh "LạyChúa tôi, tôi ở dưới vực sâu kêu lên Chúa tôi" (Đàng Ngoài).

Những bài thánh ca chủ đề vực sâu thật hay, tiếc là không đúng phụng vụcũng không sát giáo lý Công giáo. Tiếc hơn nữa là chúng đã gây những ngộ nhậnrất lớn cả cho người Công giáo lẫn người ngoài Công giáo.

Vấn nạn được nêu lên không phải là thắp nhang hay đặt đồ cúng nhưng làtheo Chúa thì mất đi cái nhìn lạc quan đầy hy vọng của Đạo Hiếu khi nghĩ vềtiền nhân! Do chưa nhận biết mạc khải, người Việt chưa diễn tả bằng ngôn từchính xác nhưng cách ứng xử cho thấy dường như đa số linh cảm rằng tiền nhânqua đi là về với Cội Nguồn tối thượng. Cùng lúc, người sống vừa cầu mong chongười chết sớm siêu thoát vừa xin người chết phù hộ. Cái nhìn ấy khá gần vớigiáo huấn trong sách "Giáo Lý Của Hội Thánh Công Giáo". Sách nàykhông hề nhắc gì đến một vực thẳm hoặc một nơi chốn. Với tựa đề "Luyệnngục: cuộc thanh luyện cuối cùng", số 1030 của sách này nói đến sự"thanh luyện sau khi chết, để đạt được sự thánh thiện cần thiết":

"Những người chết trong ân nghĩa Chúa, nhưng chưa được thanh luyệnhoàn toàn, mặc dù chắn chắc được cứu độ đời đời, còn phải chịu thanh luyện saukhi chết, để đạt được sự thánh thiện cần thiết để vào hưởng phúc Thiên Đàng.

Hội Thánh gọi việc thanh luyện cuối cùng của những người được chọn là“purgatory”. Dù ta quen dịch là luyện ngục, thuật ngữ này chỉ đơn giản là mộttình trạng thanh luyện, không phải vực, cũng không phải là ngục tối. Điều nàykhác hẳn với hình phạt đời đời của kẻ bị chúc dữ: Hội Thánh công bố giáo lý vềluyện ngục cách riêng trong các công đồng Flôrence (x. DS 1304) và Trentô (x.DS 1820; 1580). Dựa vào một số đoạn Kinh Thánh (x. 1Cr 3,15; 1Pr 1,7), HộiThánh nói về lửa thanh luyện.

"Đối với một số tội nhẹ, phải tin là trước phán xét chung có lửathanh luyện. Chúa Giêsu xác nhận: nếu ai nói phạm đến Chúa Thánh Thần người ấysẽ chẳng được tha cả đời này lẫn đời sau (Mt 12,31). Qua khẳng định này, chúngta có thể hiểu là một số tội có thể được tha ở đời này, nhưng một số tội khácthì phải đợi tới đời sau" (x. T. Grêgôriô cả, đối thoại 4,39).

Lời dạy này cũng căn cứ trên tập quán cầu nguyện cho những người quá cốmà Kinh thánh đã nói: vì thế ông Giuđa Macabêô "xin dâng lễ đền tội chonhững người chết, để họ được giải thoát khỏi tội lỗi" (2 Mcb 12,46). Ngaytừ đầu, Hội Thánh vẫn kính nhớ người quá cố và cầu nguyện cho họ, đặc biệttrong thánh lễ (x. DS 856) để một khi được thanh luyện họ có thể hưởng nhanThánh Chúa. Hội Thánh khuyên chúng ta bố thí, làm việc hãm mình và nhường cácân xá cho những người đã qua đời.

"Chúng ta hãy giúp họ và hãy nhớ đến họ. Nếu các con của ông Giópđã được thanh luyện nhờ việc hiến lễ của cha (G 1,5), tại sao chúng ta còn nghingờ là những lễ tế của chúng ta dâng lên Thiên Chúa, để cầu cho người quá cố,lại không đem đến cho họ một phần an ủi nào? Đừng do dự giúp đỡ và cầu nguyệncho những người đã qua đời"(x. T. Gioan Kim Khẩu, Bài Giảng về 1Cr 41,5).

Thánh vịnh 129/130 quả có được dùng trong sách “Nghi Lễ An Táng vàThánh Lễ Cầu Hồn”, tuy nhiên đọc kỹ, sẽ thấy ở đó Hội Thánh nhấn mạnh hai điều:hoặc là sự kiện con người không thể tự cứu mình, hoặc là niềm khát vọng sớmđược cứu thoát chứ không hề nhấn mạnh thảm cảnh “vực sâu”. Ước mong các cấpthẩm quyền của Hội Thánh sớm nghiên cứu lại để tránh tình trạng phản tác dụngcho việc loan báo Tin mừng tại Việt Nam.

Cụ thể, Ban Thánh Nhạc toàn quốc có thể giúp giải quyết vấn đề cách nhẹnhàng bằng một tuyển tập thánh ca cho lễ an táng và cầu hồn. Hiện nay trongrừng thánh ca Việt Nam, có nhiều bài rất hay cả về nhạc, về lời, về hình ảnh vàvề thần học hy vọng để cầu nguyện lúc anh chị em tín hữu lên đường về với Chúa,nhưng chỉ mới được biết đến ở một số cộng đoàn hay một số địa phương. Ước mongBan Thánh Nhạc sớm thu thập và đề cao những bài ấy để phổ biến cho mọi người,và đừng đưa những bài không chuẩn về thần học hoặc dễ gây hiểu lầm vào tuyểntập. Hy vọng như thế dần dần thói quen dùng những bài thảm sầu như nói ở trênsẽ lùi vào quá khứ.

 

05
VIỄN ẢNH LẠC QUAN CỦA SPE SALVI

Để độc giả có thêm cơ sở suy nghĩ về điều vừa chia sẻ ở bài trước, vàáp dụng vào việc loan tin mừng cho Dòng họ, tôi xin được lược tóm ở đây giáohuấn của Đức Bênêđictô XVI trong thông điệp Spe Salvi: “Được cứu rỗi trong đứctrông cậy”.

Thông điệp Spe Salvi số 45 có nhắc đến quan niệm Do Thái giáo "chorằng các linh hồn đang sống trong một hình thức bị tạm giam,… đang phải chịuphạt hay đang được hưởng một hình thái hạnh phúc tạm thời" và lập tức chorằng quan niệm ấy đã bị đầy lùi vào quá khứ. "Giáo Hội sơ khai tiếp nhậncác quan điểm này, và trong Giáo Hội Tây Phương, chúng dần dần được phát triểnthành học thuyết về Luyện Ngục. Chúng ta không cần xem xét ở đây các nẻo đườngphức tạp trong lịch sử sự phát triển ấy; mà chỉ cần hỏi xem điều này thực ra cóý nghĩa gì" (số 45).

Điểm chính yếu trong học thuyết Spe Salvi về luyện ngục, ở số 47, là sựthanh luyện trong tình yêu của Đấng Thẩm Phán và, ở số 48, mối hiệp thông trongHội Thánh khiến ta có thể cầu nguyện cho các linh hồn đang được thanh luyện.Xin trích nguyên văn số 47:

"Một vài thần học gia mới đây có ý kiến cho rằng lửa vừa thiêu đốtvừa cứu chuộc chính là Chúa Kitô, vị Thẩm Phán và là Đấng Cứu Thế. Cuộc gặp gỡvới Ngài là hành động phán xét chung cuộc. Trước ánh mắt Ngài, tất cả những gìlà giả trá sẽ tan biến. Sự gặp gỡ Ngài trong khi thiêu đốt chúng ta, lại cảibiến chúng ta, và giải thoát chúng ta, khiến cho chúng ta trở nên con ngườichính thật của mình. Tất cả những gì chúng ta xây dựng trong đời có thể chỉ làrơm rạ, rỗng tuếch và sụp đổ. Vậy mà trong cái đau đớn của cuộc gặp gỡ này, khinhững dơ bẩn, và bệnh hoạn của cuộc đời được phơi bày ra trước mắt chúng ta,thì ơn cứu độ nằm ngay ở đó. Cái nhìn của Chúa, sự va chạm của trái tim Ngàichữa lành chúng ta qua một biến cải chắc chắn là đau đớn "như đi qualửa".

Nhưng đó là một sự đau đớn được chúc lành, trong đó quyền lực cực thánhcủa tình yêu Ngài xuyên thấu chúng ta như một ngọn lửa, giúp chúng ta trở nênhoàn toàn là chính mình và nhờ đó hoàn toàn thuộc về Chúa. Bằng cách này sựtương quan giữa Công Lý và ân sủng cũng trở nên rõ ràng; cách thức chúng tasống trên đời không phải là không quan trọng, nhưng tội lỗi của chúng ta khônggây tì ố trên chúng ta mãi mãi nếu ít ra chúng ta vẫn tiếp tục vươn ra để đếnvới Chúa Kitô, đến với sự thật và tình yêu.

Thật vậy, tội lỗi đã bị thiêu đốt qua cuộc khổ nạn của Chúa Kitô. Vàolúc chung thẩm chúng ta cảm nhận và hấp thụ quyền lực vô biên của tình yêu Ngàitrên tất cả sự dữ trong thế gian và trong chúng ta. Nỗi đau của tình yêu trởnên ơn cứu rỗi và niềm vui của chúng ta. Rõ ràng là chúng ta không thể đo lường"thời gian" của sự thiêu đốt biến cải này bằng những đơn vị đo lườngthời gian của trần thế. "Giờ phút" biến cải trong cuộc gặp gỡ nàyvượt quá ước tính thế gian - đó là thời khắc của con tim, đó là thời gian củacuộc "vượt qua", để tiến đến hiệp thông với Thiên Chúa qua Mình ThánhChúa Kitô.

Sự phán xét của Chúa là niềm hy vọng, vì đó vừa là Công Lý, và vừa làân sủng. Nếu chỉ có ân sủng mà thôi, khiến cho tất cả mọi việc trên thế giankhông còn vấn đề nữa, thì Chúa sẽ mắc nợ chúng ta một câu trả lời về Công Lý -một câu hỏi quyết liệt chúng ta đặt ra cho lịch sử và cho Thiên Chúa. Nếu chỉlà Công Lý, thì cuối cùng chỉ có thể đem lại cho chúng ta sự sợ hãi. Việc ThiênChúa nhập thể nơi Đức Kitô đã nối kết Công Lý và ân sủng với nhau mật thiết đếnđộ Công Lý được thiết lập vững chắc: chúng ta đều phải lo liệu cho sự cứu rỗicủa mình "trong âu lo và run sợ" ( Pl 2, 12 ). Tuy nhiên, ân sủng chophép tất cả chúng ta hy vọng, và để vững tin đi gặp vị Thẩm Phán, Đấng chúng tabiết đến như là "trạng sư", hay parakletos ( x. 1 Ga 2, 1 ) của chúngta."

Cũng cần góp thêm vào đây cái nhìn thần học tâm linh của Dòng Cát MinhTêrêxa về sự “hiệp nhất tạo biến đổi”, được cha Marie Eugène trình bày trongsáng dễ hiểu ở phần đầu tác phẩm “Tôi muốn thấy Thiên Chúa”. Khái niệm hiệpnhất tạo biến đổi giúp ta hiểu ra rằng khi được gọi hiệp nhất với Thiên ChúaChí Thánh, thụ tạo được Ngài đổi mới không ngừng cho đến đời đời. Sau giai đoạnthanh tẩy luyện lọc hết những vết nhơ, sự biến đổi tiếp tục làm cho thụ tạocàng lúc càng giống với Thiên Chúa. Người ta thường hình dung cách giản dị làphải xong việc này rồi mới sang việc khác, phải qua khỏi giai đoạn luân lý rồimới bàn đến đời sống hiệp nhất, nhưng thực tế của đời sống ơn thánh cho thấy cảơn hiệp nhất và ba nhân đức tin cậy mến có mặt ngay từ đầu và, nơi con cáiChúa, chính ba nhân đức ấy giục giã ta dứt khoát với tội lỗi, làm cho mọi dínhbén và mọi bất toàn bị bật rễ. Ngay ở đời này ba nhân đức tin, cậy, mến đã chota một kinh nghiệm về việc lửa đốt sạch những cặn bẩn. Nơi sự hiệp nhất tạobiến đổi, ta sẽ như những cục than, những thỏi kim loại được ném vào lò lửahồng và rực cháy theo lửa…Thiên Chúa vừa bất biến vừa vô cùng vô tận cho nênthụ tạo khi chiêm ngưỡng và khám phá Ngài sẽ đi từ bất ngờ này tới bất ngờ kháccho đến đời đời và đời đời. Thiên đàng chẳng phải là một đêm lễ hội ánh sángnào đó nhưng một chuỗi đời đời những ngạc nhiên thích thú và mãi mãi khám phásự tươi mới, chẳng còn hở ra một phút giây nào để nhàm chán. Thánh Gioan Thánhgiá diễn tả điều ấy như sự khám phá của người khai thác những hầm mỏ mênh mông,của người lạc vào những hang động thiên nhiên bất tận. Còn Thánh nữ TêrêxaAvila, trong quyển Lâu Đài Nội Tâm, thì xếp đặt thành một lộ trình tiến dần để,ngay ở đời này, những người khát khao sẽ tha thiết nài xin cho mình được biếnđổi và hiệp nhất với Thiên Chúa.

06
CẦN NHỮNG BÀI CA MỚI CHO NGƯỜI ĐÃ KHUẤT

 

Thánh ca đang đóng một vai trò quan trọng trong việc loan báo Tin mừng.Nhân khi nghiên cứu quyển “Nghi Lễ An Táng và Thánh Lễ Cầu Hồn” để viết về bàihát “Từ vực sâu”, tôi thấy quyển sách đầy những ý tưởng giàu hình ảnh, dễ tạocảm hứng cho những bài thánh ca thật hay để cầu nguyện bên người quá cố. Chỉcần nêu lên tần số xuất hiện của những ý tưởng từ nhiều đến ít như sau, cũng đủgợi hứng cho người viết ca từ biết phải viết theo hướng nào:

Sống: (148), trong đó có: hằng sống (23) + sống mới (9) + sống đời đời(8) + những trường hợp khác (108)

Chết: (145)

Tin: (98)

Phục sinh: (91), trong đó có: sống lại (62) + trỗi dậy (9) + Phục Sinh(20)

Phúc: (71)

Cứu: (68), trong đó có: cứu (25) + cứu độ (29) + giải thoát (14)           

Hiệp nhất: (60), trong đó có: nước trời (6) + tiệc (14) + luyện (8) +hợp nhất với/hiệp nhất với Chúa (8) + liên kết (7) + chiêm ngưỡng (7) + đónnhận (        10)

Hưởng:  (45)

Niềm vui: (43), trong đó có:  ânsủng (11) + niềm vui (6) + an ủi (7) + ánh sáng (9) + bình an (10)

Vinh quang: (42)

Hy vọng: (36), trong đó có: hy vọng (13) + trông cậy (12) + trông đợi(5) + mong đợi (5) + mong chờ (1)

Nhân hậu: (31), trong đó có: khoan dung (4) + nhân từ (3) + thương xót(10) + nhân hậu (14)

Thanh tẩy: (22), trong đó có: phép Rửa (9) + rửa (5) + thanh tẩy (8)   

Đóng đinh: (11)

Khóc: (9)         

Vượt thắng: (18), trong đó có: vượt (7) + thắng (11)

Lửa: (9), trong đó có: luyện vàng trong lửa (5) + hồ lửa (3 - trongcùng một bài đọc) + lửa đời đời (1) + Lửa vinh quang (1 - ánh lửa chiếu qua bụilau)          

Mục tử: (7), trong đó có: mục tử (3) + chăn nuôi (4)

Hình khổ: (5), trong đó có: xiềng xích (2) + cực hình (3)           

Phạt: (4)

Dù vực thẳm (Rm 8,39): (1)

Từ vực thẳm (Tv 130,1):        (1)

Ngục: (0)

 

Ngoài ra còn có một hình thức mai táng mới xuất hiện trong đời sốngngười Việt nói chung và người Công giáo Việt Nam nói riêng trong mấy thập niêngần đây, là hỏa táng. Hỏa táng thường gây những ấn tượng và cảm xúc hết sức đauthương. Kinh Thánh cũng cho ta nhiều hình ảnh mãnh liệt về sự thanh tẩy bằnglửa. Cho tới nay các nhạc sĩ Công giáo Việt Nam chưa quan tâm đến sự kiện này.Thiết tưởng dân Chúa đang rất cần những bài thánh ca đầy hy vọng để có thể vượtqua những giây phút thương tâm trong bình an. Trong quyển “Kinh nguyện giađình” phiên bản 1986, chúng tôi có đề xuất những đoạn sau đây, xin nêu nhưnhững gợi ý cho anh chị em nhạc sĩ:

“Lạy Cha, Cha đã tạo dựng nên lửa và ban nó cho chúng con. Lửa đã sưởiấm khi chúng con sinh ra, đã tạo điều kiện cho cuộc sống hằng ngày, và khichúng con đã qua đời, lửa còn làm cho thân xác này chóng về lại tình trạng cátbụi. Xin Cha chúc lành và thánh hoá ngọn lửa chúng con sắp dùng để hoả tángthân xác người anh em (chị em) chúng con.” (Lời nguyện)

“Anh chị em thân mến, bởi vì chúng ta được lãnh nhận một vương quốcvững bền không lay chuyển, chúng ta phải biết ơn Thiên Chúa. Với lòng biết ơnđó, chúng ta hãy kính sợ mà phụng thờ Thiên Chúa cho đẹp lòng Ngài. Quả thật,Thiên Chúa chúng ta là một ngọn lửa thiêu” (Lời Chúa: Dt 12,28-29; xem thêmnhững đoạn khác:  1 Côrintô 15,35-38 và42-49; Đanien 3,19b-21 và 24-28; 2 Vua 2,1-2 và 7-11; 1 Côrintô 3,10b-17; Isaia43,1-7; 2 Phêrô 3,8-13)

Hoặc lời mời gọi, các lời cầu và lời nguyện:

“Thưa anh chị em, Kinh thánh nói: Thiên Chúa là lửa thiêu. Chính ThiênChúa là Cha đã cho Đức Giê-su Ki-tô đến thanh tẩy chúng ta bằng lửa trong ThánhThần, và đã ban Chúa Thánh Thần như lửa sưởi ấm linh hồn ta. Ngài cũng mời gọichúng ta dâng hiến đời sống cho Ngài như những lễ vật toàn thiêu. Với những xáctín ấy, trong dịp cử hành lễ hoả thiêu hôm nay, chúng ta hãy thưa với Ngàinhững lời cầu nguyện tha thiết và đầy tin tưởng.

Chúng con xin dâng lên Cha mọi việc lành của (OBACE) T. và của mỗingười chúng con đã cố gắng thực hiện trong cuộc sống. Xin Cha thanh luyện chotrở nên của lễ đẹp lòng Cha.

Chúng con xin giao phó trong tay Cha mọi tội lỗi của (OBACE) T. cũngnhư của mỗi người chúng con đã vấp phạm. Xin Cha lấy lửa yêu mến của Cha màthiêu đốt và thanh tẩy.

Như ngọn lửa vật chất sắp thiêu đốt thi hài (OBACE) T. , xin cho ngọnlửa mến Chúa yêu người cũng luôn thiêu đốt tâm hồn chúng con.

Cũng như thân xác (OBACE) T. sắp thành những hạt bụi mất hút trong lòngđời, xin Cha cho mỗi người chúng con biết quên mình, biến tan đi trong cuộcsống phục vụ anh em.

Xin cho các thân nhân của (OBACE) T. nhận được mọi ơn lành của Cha vàgặp được nơi mọi người lòng yêu mến thiết tha như ngọn lửa an ủi sưởi ấm tâmhồn.

Lạy Cha, giờ đây chúng con xin dâng phó linh hồn (OBACE) T. trong tìnhthương của Cha, và chúng con hoả táng (OBACE) như một của lễ toàn thiêu dânglên Cha. Xin cho lễ hiến dâng này, cùng với tình yêu của gia đình và cộng đoànchúng con, được kết hiệp với sự hy sinh của Chúa Giê-su trên thập giá thành mộtcủa lễ đẹp lòng Cha. Xin cho đời sống chúng con và mọi lời chúng con cầu nguyệncũng được như hương khói chân thành tỏa bay trước Nhan Cha, để cầu cho (OBACE)T. và mọi người đã qua đời trong ơn nghĩa Cha được vào hưởng vinh quang Chamuôn đời.

 

07
CẦN CÓ THÊM NHỮNG BẢN VĂN LỄ GIỖ MANG TÍNH TẠ ƠN

Hầu như ai trong chúng ta cũng biết bài “Nối vòng tay lớn” của TrịnhCông Sơn với câu ca vừa trầm lắng vừa mạnh mẽ: “Người chết nối linh thiêng vàođời”. Cả khi người xưa đã xa cách ta nhiều chục năm hay nhiều trăm năm, ta vẫncó thể thấy gần gũi qua công ơn và gương sáng của họ. Hồi tưởng, ta thấy dườngnhư họ vẫn hiện diện đâu đây. Riêng với những người mới xa cách, ta thường ngậmngùi thương nhớ và cầu nguyện cho họ.

Ở đây, niềm tin của anh chị em lương dân khá mơ hồ và hỗn độn. Mộtđàng, họ cầu nguyện cho người chết sớm siêu thoát. Một đàng lại có sự tin tưởngcho rằng người chết còn ở với gia đình hết năm đời rồi mới đi đầu thai. Tại saolại được ở với gia đình hết năm đời? Việc ở với con cháu là hạnh phúc hơn hayviệc đi đầu thai kiếp khác hạnh phúc hơn? Phải chăng còn ở với gia đình là chưađược siêu thoát? Ta nên cầu nguyện cho người chết siêu thoát và thôi ở với giađình hay là đừng cầu nguyện để họ có thể ở với gia đình mãi? Trong thực tế thìngười ta cầu nguyện sự siêu thoát cho người chết chỉ trong hai năm đầu, rồi sauđó không nhắc tới việc cầu cho siêu thoát. Mà thế nào là siêu thoát? Siêu thoátlà đi về đâu? Ai giữ cái quyền thẩm xét để cho một người được siêu thoát haychưa được siêu thoát? Anh chị em lương dân không biết dựa vào đâu để trả lờinhững câu hỏi ấy và để lý giải những tin tưởng của mình. 

Còn người Công giáo tin rằng chúng ta từ Thiên Chúa mà đến và ta đượcmời gọi hoàn thành cuộc đời này để về với Thiên Chúa. Được cứu rỗi là được vềvới Thiên Chúa. Ta được cứu rỗi nhờ tin vào Chúa Kitô chứ không nhờ vào côngsức riêng của bản thân. Khẳng định như thế không có nghĩa chết xong là đượchưởng phúc thiên đàng ngay, bởi vì chính Chúa cho biết rằng ta phải trả xongnhững món nợ rất nhỏ cuối cùng rồi mới được vào thiên đàng (x. Mt 5,26). Ta cầncầu nguyện xin Chúa giải thoát người đã khuất, tuy nhiên, phải cầu nguyện chotới bao lâu?

"Rõ ràng là chúng ta không thể đo lường "thời gian" củasự thiêu đốt biến cải này bằng những đơn vị đo lường thời gian của trần thế."Giờ phút" biến cải trong cuộc gặp gỡ này vượt quá ước tính thế gian- đó là thời khắc của con tim, đó là thời gian của cuộc "vượt qua",để tiến đến hiệp thông với Thiên Chúa qua Mình Thánh Chúa Ki-tô" (Thôngđiệp “Được cứu rỗi nhờ hy vọng”, số 47). Không ai trong chúng ta được vượt thẩmquyền của Tòa Thánh để nói một linh hồn nào đó đã xong hay chưa xong việc thanhtẩy. Tuy nhiên lời ấy của Đức Bênêđíctô XVI nhắc ta nhớ rằng vĩnh cửu và thờigian không cùng một hệ thống và đơn vị đo đếm. Một đàng, một người đã về vớiChúa cả trăm năm mà mãi đến nay ta mới cầu xin Thiên Chúa giải thoát họ thì lờicầu xin của chúng ta cũng không vô ích. Đàng khác, một người thân vừa nằmxuống, đang chờ Đấng Thẩm Phán hoàn tất cuộc thanh tẩy nhưng con cháu ở trầngian đã cảm thấy ấm lòng khi nghĩ đến sự che chở phù hộ của người ấy, thì cảmnhận này cũng không sai trái. Một đàng, ngoài thẩm quyền của Tòa Thánh khituyên phong chân phước hoặc hiển thánh, không ai nói được một người nào đó đãđược hiệp nhất trọn vẹn với Chúa hay chưa, nhưng đàng khác đức trông cậy dạy taphải tin tưởng mãnh liệt vào lượng thương xót của Thiên Chúa. Người đã ra đithuộc về vĩnh cửu, còn con cháu đang ở đời này thuộc về thời gian, ta không thểlấy suy luận duy lý mà cắt nghĩa.

Cho tới nay các bản văn lễ giỗ đều mang ý nghĩa cầu xin ơn giải thoát.Thế nhưng nếu giỗ 30 năm, 50 năm hay 100 năm thì sao? Nếu ta cứ tiếp tục nhấnmạnh việc cầu xin ơn giải thoát cho những người đã chết lâu như thế, liệu cóxúc phạm đến lòng thương xót bao la của Thiên Chúa chăng?

Tôi nêu câu hỏi như thế không phải để phải trả lời bên này hay bên kia,nhưng để cho thấy ngoài những bản văn lễ giỗ mang ý nghĩa cầu hồn, cần phải cóthêm những bản văn mang ý nghĩa tạ ơn và hiệp thông. Thiết nghĩ ngay cả trườnghợp giỗ một năm hay cả giỗ 100 ngày đi nữa, lễ giỗ không chỉ có một ý nghĩa duynhất là xin ơn giải thoát cho người quá cố. Nó còn mang ý nghĩa tưởng nhớ, tiếcthương, hiệp thông giữa người sống với người chết và hiệp thông giữa nhữngngười còn sống trên đời.

Đan cử một ví dụ. Một trong những lý do để tạ ơn Thiên Chúa chính là vìNgài đã ban Đạo Hiếu cho người Việt, để nhờ đó người Việt dễ khám phá ra TìnhCha bao la tuyệt với của Thiên Chúa. Ta có thể lấy ý tưởng ấy làm một lờinguyện nhập lễ. Lời nguyện tiến lễ sẽ dâng lên Cha trên trời lòng hiếu thảo củacộng đoàn và của cả những người con còn mò mẫm trong bóng tối. Lời nguyện hiệplễ vừa tạ ơn vì đã được nuôi dưỡng bằng Thánh Thể, vừa xin gìn giữ khỏi mọi mêtín lầm lạc. Một bản lễ như thế sẽ vừa tuyên dương Đạo Hiếu vừa dẫn đưa tâm tríngười dự lễ tới con đường chân thật.

Trong viễn tượng loan Tin mừng cho lương dân, thiết nghĩ cộng đồng Cônggiáo các nước Á Đông cần có thêm những bản văn lễ giỗ theo các ý nghĩa ấy. CácHĐGM có thể đề xuất những bản văn cụ thể và xin Tòa Thánh phê duyệt. Những bảnvăn trong sách lễ tiếng Việt về thánh lễ Tất niên, Giao thừa, Minh niên, mùngHai và mùng Ba Tết, cũng như thánh lễ Trung thu… đã được hình thành như thế.

 

08
CẦN XÉT LẠI NGÀY THÁNG MỪNG CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT
NAM

 

Rồi tháng Mười Một cũng đã trôi nhanh và ngày 24-11 Lễ Các Thánh Tử ĐạoViệt Namcũng đã qua. Có ngày mừng Lễ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam thì thật tuyệt vời, nhưng lịchmừng ngày 24-11 thì thật trớ trêu và bất lợi. Đã 25 năm rồi, chưa năm nào LễCác Thánh Tử Đạo Việt Nam được mừng trọng thể đúng vào chính ngày 24-11, kể cảnăm 2013 này, khi ngày ấy trùng vào Chúa nhật. Chúa nhật cuối năm phụng vụ làđể mừng lễ Chúa Kitô Vua, cho nên Lễ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam buộc lòng phảicử hành sớm đi một tuần, vào Chúa Nhật 33 Quanh Năm.

Có một điều dễ bị lãng quên, là thông điệp quan trọng đặc biệt củaphụng vụ Lời Chúa ngày Chúa nhật 33 Quanh Năm. Cả ba năm A, B và C Lời Chúa củangày này luôn tập trung vào chủ đề ngày cánh chung. Quên là dễ hiểu, vì mộtphần tư thế kỷ rồi, người Công giáo Việt Nam không còn biết đến Chúa nhật 33Quanh Năm nữa.

Mỗi năm 365 ngày chỉ có một ngày để nói về sự cùng tận của lịch sử nhânloại, nhưng từ 25 năm qua người Công giáo Việt Nam không còn được nghe và suyngẫm về điều ấy, đang khi văn minh vật chất ra rả 24/24 giờ dạy họ bám lấy hạnhphúc đời này như sẽ chẳng bao giờ phải chết.

Ngày 24-11 được chọn làm lễ kính CTTĐVN là để ghi nhớ ngày thành lậpHàng Giáo Phẩm Việt Nam, nhằm gián tiếp khẳng định lòng trung thành của giáođoàn Việt Nam với Tòa Thánh Phêrô, thế nhưng suốt 25 năm qua có mấy ai đã nhắcđến ý nghĩa này? Ngay cả Đại Hội Dân Chúa mừng 50 năm Hàng Giáo Phẩm Việt Namhình như cũng không quan tâm gì đến (Xem bản đề cương “Giáo Hội tại VN”). Đangkhi đó ngày mừng lễ vào 24-11 hết sức bất tiện cho Dân Chúa tại Việt Nam.Hơn 25 năm đã qua, mọi người đã quá rõ là không gì lay chuyển được tấm lòngtrung thành của Giáo Hội Việt Namđối với Tòa Thánh Phêrô. Việc khẳng định sự trung thành ấy bằng ngày 24-11 cócòn cần thiết không?

Năm nào, việc kính trọng thể Lễ CTTĐVN cũng lấn mất chỗ của Chúa Nhật33 Thường Niên. Chúa Nhật này không mang tên một ngày lễ riêng nhưng có đặcđiểm là các bài đọc luôn nói về mầu nhiệm cánh chung. Đã 25 năm qua, giáo dânViệt Namkhông còn được nghe giảng về cánh chung. Nếu chúng ta cứ tiếp tục mất cơ hộinói về cánh chung, chúng ta cũng mất mát rất nhiều trong đời sống tâm hồn củatín hữu. Cần đặt nặng câu hỏi liệu việc mừng trọng thể Lễ CTTĐVN vào Chúa Nhật33 Thường Niên có gián tiếp gây phản tác dụng? Cần nhớ rằng những lý do đưa đếnviệc ban hành huấn thị Ex quo singulari năm 1742 rất nghiêm túc, không dừng lạinơi chuyện thắp nhang hay không thắp nhang nhưng chạm đến những sự thật về cánhchung học và cứu chuộc học.

Trước lễ phong thánh, Giáo Hội Việt Nam có một tháng kính CTTĐVN: Tháng9. Sau lễ phong thánh, tháng này biến mất không kèn không trống. Nhưng phải hỏixem, trong tâm tư một giáo dân, tháng 9 ấy và ngày lễ 24-11, bên nào có âmhưởng sâu xa hơn? Để lập lại tháng 9 ấy, cần chuyển lễ CTTĐVN về lại một Chúanhật của tháng 9. Chúa nhật thứ nhất gần với lễ Quốc khánh, có thể gặp phảinhững hiểu lầm tế nhị nào đó ở một số địa phương hẻo lánh, cho nên xin được đềnghị chọn ngày lễ này sao đó để có thể mừng trọng thể vào Chúa nhật thứ hai củatháng Chín, trước lễ Suy tôn Thánh giá Chúa.

Nếu chúng ta không thể xin thay đổi ngày lễ CTTĐVN trong lịch phụng vụtoàn cầu, ít ra cần xin một biệt lệ là mừng trọng thể lễ ấy trên lãnh thổ Việt Namvào Chúa Nhật thứ hai tháng 9. Mừng lễ vào đầu tháng 9, không chỉ để khỏi lấnmất giáo lý cánh chung của tháng 11, nhưng còn để đem lại ánh sáng phục sinhcho nỗi buồn tháng 7 âm lịch của người Việt.


CHIA SẺ KẾT THÚC

 

THƯ GỬINGƯỜI EM CHỦNG SINH:
NHỮNG GÀU NƯỚC VÀ TRẬN MƯA TẦM TÃ

 

Tôi đã tự hỏi nên chăng phải viết đủ 50 bài để đánh dấu cuộc kỷ niệm 50năm? Tuy nhiên đó là một kiểu tạo thành tích không nên có, vì e rằng chẳng còndành chỗ cho ai đóng góp ý kiến. Xin được dừng lại với bài này và mong sẽ nhậnđược nhiều bài tương cầu tương ứng, như bài đóng góp của tác giả Mạc Tường ởchia sẻ 27, để không chỉ đạt tới tổng số 50 mà cả tới 100 và hơn nữa. Cáchriêng tôi mong nhận được phản hồi của những người em chủng sinh từ mọi ngõngách của Đất nước và Giáo hội.

Này em chủng sinh, tôi viết những dòng này cho em trong đêm canh thứcgiã từ một nhà đào tạo là cha Phêrô Đặng Xuân Thành, giám học Đại chủng việnThánh Giuse Hà Nội. Cha bị đột quỵ sau khi vừa tan buổi học, hôn mê mấy ngàyrồi được về với Chúa hôm 27-11 và sẽ an táng vào sáng mai, 02-12-2013. Có thểem đã từng thụ giáo với cha qua các lớp học, qua các tuần tĩnh tâm hoặc quasách vở do cha biên soạn hay dịch thuật. Vị linh mục 60 tuổi này để lại một tấmgương sống âm thầm, giản dị, vui tươi, chuyên cần cầu nguyện, hiếu học, quảngđại phục vụ, trung thực và quả cảm sống theo những gì mình giảng dạy.

Ngót 32 năm làm linh mục triều, cha chưa một ngày coi xứ, chưa làm mộtnhà nguyện nhỏ nào, nhưng có lẽ những đóng góp của cha cho Giáo hội Việt Namđáng quý hơn cả trăm cả ngàn ngôi nhà thờ, bởi lẽ cha đầu tư toàn bộ đời linhmục của mình để đào tạo người cho Giáo hội.

Cũng vậy, có thể Chúa sẽ không dành cho em trách nhiệm trong một cơ sởđào tạo nhưng chắc hẳn Chúa chọn em làm linh mục không vì mục đích nào khác hơnlà rao giảng Tin mừng cho đồng loại và đưa họ về với Chúa. Thánh Gioan Thánhgiá quả quyết rằng chỉ một linh hồn người ta thôi đã đáng quý hơn tất cả vũ trụnày. Em hãy khắc ghi điều ấy để loại hẳn khỏi tâm trí mọi ý tưởng vẽ vời khiếnem lệch khỏi lý tưởng cứu rỗi các linh hồn. Hãy ghi khắc để khi được nên ngườicủa Chúa, em sẽ không phí phạm năng lực tuổi trẻ linh mục của mình vào việc xâycất cơ sở vật chất. Ma quỷ luôn tìm cách dùng những điều tốt giả hiệu để cầmchân, khiến ta hoang phí tâm huyết vào những điều phù phiếm, không còn lắngnghe và thực hiện ý Chúa nữa. Ngay ngày đầu mùa Vọng hôm nay, Hội thánh gửi đếncác linh mục và tu sĩ của mình, qua bài đọc I giờ Kinh Sách, lời cảnh cáonghiêm khắc của sách Isaia: “Thôi, đừng đem những lễ vật vô ích đến nữa. Ta ghêtởm khói hương, Ta không chịu nổi ngày đầu tháng, ngày sa-bát, ngày đại hội,không chịu nổi những người cứ phạm tội ác rồi lại cứ lễ lạt linh đình. Ta chánghét những ngày đầu tháng, những đại lễ của các ngươi. Những thứ đó đã trởthành gánh nặng cho Ta, Ta không chịu nổi nữa” (Is 1,13-14). Hội Thánh muốnchúng ta đọc lại những lời ấy không phải để nghĩ về những người thời Isaianhưng để nghĩ về chính bản thân chúng ta.

Trong bài giảng lúc 7 giờ tối nay, trước quan tài cha Phêrô Đặng XuânThành, Đức Cha Micae Hoàng Đức Oanh chuyển từ lời kêu gọi tỉnh thức của MùaVọng sang lời kêu gọi truyền giáo. Ngài nhắc lại nhận định của một viên chứcnhà nước: “Người Công giáo quý vị giỏi xây cất nhà thờ nhưng không giỏi truyền giáo như người Tin lành” và nhận địnhkhác của một số anh em Tin lành: “Người Công giáo không thật sự yêu Chúa Kitô.Họ không dám chết vì Chúa và không dám nói về Chúa. Người Công giáo chỉ lo chongười ta về cơm áo, thuốc men, còn người Tin lành cho người ta chính ChúaGiêsu”.

Nhũng lời ấy có lẽ chỉ đúng với người Công giáo Việt Nam chứ không đúng với người Cônggiáo Nam Hàn. Năm 1950, tại Hàn Quốc, cả Tin lành và Công giáo cộng lại chỉ mớiđược 1% dân số. Năm nay người Tin lành đã lên khoảng 28% và người Công giáokhoảng 10% dân số. Năm 1950 người Công giáo Việt Nam chiếm khoảng 8% và năm1963 khoảng 10% dân số. Hiện nay con số lạc quan nhất là 7%.

Thời Êlia, Dân Chúa vẫn chai lì sau ba năm rưỡi hạn hán, khiến vị ngônsứ phải thốt lên: “Các ngươi còn đi nước đôi đến bao giờ?”. Ngày nay chúng tahứng chịu cơn hạn hán đã tròn nửa thế kỷ mà vẫn bình chân như vại. Ta vẫn còncứ say sưa với những hình thức hào nhoáng bên ngoài. Bao giờ ta mới can đảm dứtbỏ những Baal của tự hào, khoa trương, chiếm hữu, cầu an và hưởng thụ để quayvề với Thiên Chúa hằng sống, Đấng vô cùng giàu sang phú quý mà đã trở thànhnghèo khó vì ta?

Giáo hội Công giáo Nam Hàn hiện đang theo đuổi kế hoạch 20-20, nghĩa làquyết tâm hành động để năm 2020 số người Công giáo sẽ đạt tới 20% dân số.

Em nghĩ liệu Giáo hội Việt Nam chúng ta còn có thể bắt kịp họchăng? Theo tôi, nếu chúng ta dám buông bỏ những dự phóng to lớn mang tính nhânloại để chuyên chăm làm theo những gợi ý nhỏ của Thiên Chúa trong cuộc sốnghằng ngày, Ngài sẽ ban chúng ta ơn ấy, nếu không ở năm 2020 thì ở năm 2033 khichúng ta mừng kỷ niệm 500 người Việt đón nhận Tin mừng. Nếu chạy theo những kế hoạchloài người, mãi mãi ta chỉ hứng được những giọt sương, còn nếu theo đuổi gợi ýcủa Thiên Chúa, ta sẽ được ngụp lặn trong nguồn suối dạt dào (Thánh Âu Tinh,xem bài đọc 2 Kinh Sách, Thứ Ba tuần 34 Thường niên). Chạy theo kế hoạch nhânloại, ta sẽ vất vả kéo từng gàu nước giữa cơn hạn hán. Làm theo gợi ý của ThiênChúa trong giây phút hiện tại, ta sẽ nhận được cơn mưa tầm tã. Không phải tôiquả quyết với em điều ấy nhưng là Thánh nữ Têrêxa Avila, bậc thầy trong Hộithánh về đời sống tâm linh và đời sống hoạt động mà chúng ta sắp mừng 500 sinhnhật vào năm 2015 tới đây. Tôi thoáng thấy cơn mưa đang chờ đợi khi nhận rarằng Việt Namcũng có sẵn con đường để thoát khỏi cái mệt mỏi của nỗ lực truyền giáo lẻ tẻtừng người và chuyển sang cung cách hành động mới: tập thể loan Tin mừng chotập thể. Ở Nam Hàn, người ta loan Tin mừng từ gia đình đến gia đình. Ở Việt Nam,nếu ta biết nhập cuộc kịp thời, Chúa sẽ cho ta cơ hội loan Tin mừng khởi đầu từnhững người cùng dòng họ, họ nào truyền giáo cho họ nấy.

Và em biết không, để đạt mục tiêu đã đề ra, Hội thánh tại Hàn Quốc tậptrung đào tạo các ngành giới trong Dân Chúa theo định hướng ấy, nhưng cáchriêng là tập trung đào tạo các chủng sinh. Mục tiêu các chủng viện của họ khôngphải là đào tạo những chuyên viên coi xứ nhưng là đào tạo những nhà truyềngiáo.

Em hãy tự đào tạo, đúng hơn, hãy để Chúa Thánh Thần đào tạo em thànhnhà truyền giáo. Ngay từ hôm nay, em hãy tha thiết cầu xin Thiên Chúa Ba Ngôiban cho một tâm hồn truyền giáo. Hãy xin, Chúa sẽ không chối từ. Hãy ngỏ lờivới Mẹ Maria, Ngài sẽ ủng hộ em. Niềm ước mơ của em trên ghế chủng viện sẽ địnhhướng cả đời linh mục của em. Cha Thành đã như thế, tôi cũng thế và em rồi cũngthế.

Cha Phêrô Đặng Xuân Thành lên đường theo Chúa năm 1965, khi 12 tuổi (12tuổi ta – tuổi tây là 11). Còn hết sức bé, so với em ngày nay.

Còn tôi, năm 1960, khi đã 14 tuổi. Cả bên nội và bên ngoại tôi đều đãtheo Chúa từ nhiều thế hệ. Ngày tôi còn bé, toàn bộ gia tộc hai bên nội ngoạiđịnh cư ở gần trung tâm thị xã Tuy Hòa, miền Trung. Chỉ riêng có bác Thân tôi ởcách khu trung tâm 3 km về phía Bắc. Bác không theo Công giáo nhưng xuất pháttừ cùng một huyện ở quê tôi và lại mang cùng họ, cho nên cha tôi và các chú tôinhận bác làm anh. Gia đình bác là một gạch nối để tâm hồn trẻ thơ của tôi tiếpcận với thế giới người lương cách thân thương và kính trọng. Nhờ đó, ngay từnhững ngày đầu vào Tiểu chủng viện (lớp Sáu ngày nay), tôi đã mơ làm sao chiasẻ Tin mừng cho đông đảo người lương tại xã và huyện quê nhà của tôi, cáchriêng là cho những người cùng dòng họ. Khi Hội Đồng Giám Mục miền Nam Việt Nam rathông cáo 1965, tôi mới học xong lớp Đệ Tam (lớp Mười ngày nay). Vào năm họctiếp đó, cha Phêrô Hoàng Kym, nay là Tổng đại diện Giáo phận Qui Nhơn, đã giảithích cho lớp chúng tôi nội dung thông cáo ấy.

Năm tôi học lớp dự bị của Giáo Hoàng Học Viện thì Đức Cha Kontum ngàynay đang là thầy Micae Hoàng Đức Oanh của lớp sắp ra trường. Một hôm ngài đưacho tôi mấy trang giấy đánh máy và bảo:

- Chú đọc và sửa văn giúp anh, sao cho người lương nghe qua là hiểungay.

Tôi còn nhớ rõ đó là bản văn Tin mừng theo Thánh Luca kể chuyện Đức Mẹđi thăm bà Êlisabét.

Rồi tôi được mời tham dự buổi suy tôn Lời Chúa ngoài trời của ngài dànhcho bà con cả lương lẫn giáo tại khóm Đông Tĩnh, Hà Đông, Đà Lạt. Mục tiêu cửhành buổi ấy là để giúp người dân suy tư, đi từ việc tôn kính Ông Bà Tổ Tiênđến việc kính thờ Thiên Chúa. Niềm ước mơ của cậu tiểu chủng sinh kia giờ đâyđược Giáo hội đẩy vào một định hướng thật rõ...

Về sau tôi đọc thấy trong quyển “Bảy thói quen giúp bạn trẻ thành đạt”lời khuyên của tác giả của Sean Covey: “Hãy định rõ mục tiêu trong đầu trướckhi bắt tay vào việc”. Chính gia đình, lớp giáo lý, đoàn thể thiếu nhi Cônggiáo rồi Tiểu chủng viện đã được Chúa Thánh Thần dùng để giúp tôi khẳng định ngaytừ đầu mục tiêu đơn giản của ơn gọi là tôn vinh Danh Thiên Chúa và cứu rỗi cáclinh hồn. Với ý thức ấy, tôi đã háo hức suốt cuộc hành trình hơn 50 năm của đờitận hiến và ngót 50 năm được đồng hành với niềm thao thức của Hội thánh quaviệc áp dụng huấn thị “Plane compertum est”.

Hôm nay tôi cũng ước mong được nhìn thấy em, người chủng sinh yêu dấucủa Chúa, khắc sâu chọn lựa của mình vào tâm trí: chọn lựa Chúa Kitô cùng vớinỗi khắc khoải cứu rỗi các linh hồn dù bằng con đường hẹp của Ngài, để rồi 50năm nữa khi tổng kết hành trình ơn gọi, em nhận ra rằng một khi ta đã miệt màitìm kiếm Chúa, Chúa sẽ làm cho cả những đóng góp vô nghĩa nhất của ta nở hoa.

Em hãy định rõ trong tâm trí điều Chúa đang mong chờ em và hãy để chínhChúa trang bị em cho công cuộc của Ngài.

Viết xong tạinhà xứ Nam Hải, giáo phận Sài Gòn,
rạng sáng ngày 02-12-2013.

Linh mục Trăng Thập Tự Võ TáKhá