News Filters

NGÀY LỄ CÁC THÁNH DÀNH CHO BẠN TRẺ

20 Tháng Mười Một 2020

NGÀY LỄ CÁC THÁNH DÀNH CHO BẠN TRẺ

 

Tháng 01

Các Thánh Dành Cho Bạn Trẻ

 

Ngày 01: Thánh MARIA, MẸ THIÊN CHÚA

Ngày 02: Thánh BASILIÔ và thánh GRÊGÔRIÔ NAZIANZÊNÔ

Ngày 03: Thánh GIƠNOA

Ngày 04: Thánh ÊLIZABETH ANNA SITÔN

Ngày 05: Thánh GIOAN NIUMƠN

Ngày 06: Chân phước ANĐRÊ BESSET

Ngày 07: Thánh RÂYMUNĐÔ PENYAPHO

Ngày 08: Thánh TÔPHIN

Ngày 09: Thánh JULIANÔ VÀ THÁNH BASILISA

Ngày 10: Thánh WILLIAM

Ngày 11: Thánh THÊÔĐÔSIÔ

Ngày 12: Thánh MAGUARIT BÔGÔIS

Ngày 13: Thánh HILARIÔ POISIƠ

Ngày 14: Thánh MACRINA

Ngày 15: Thánh PHAOLÔ ẨN TU

Ngày 16: Thánh BÊRA và các bạn tử đạo

Ngày 17: Thánh ANTÔN AI CẬP

Ngày 18: Chân phước CHRISTINA

Ngày 19: Thánh CANUT

Ngày 20: Thánh FABIANÔ và thánh SÊBASTIANÔ

Ngày 21: Thánh ANÊ

Ngày 22: Thánh VINHSƠN SARAGÔSA

Ngày 23: Thánh GIOAN BỐ THÍ

Ngày 24: Thánh PHANXICÔ SALÊSIÔ

Ngày 25: Thánh PHAOLÔ

Ngày 26: Thánh TIMÔTHÊÔ và thánh TITÔ

Ngày 27: Thánh ANGIÊLA MERISI

Ngày 28: Thánh TÔMA AQUINÔ

Ngày 29: Thánh GILĐA

Ngày 30: Thánh BATIĐI

Ngày 31: Thánh GIOAN BÔSCÔ

 

 

 

Ngày 1 tháng 1

Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa

Bạn hãy tưởng nhớ về một buổi sáng ngày lễ giáng sinh, chúng ta tìm đến với chuồng bò. Có thể là một chuồng bò nằm trên tấm áo choàng hay dưới cây Noel hoặc trong một xứ đạo nào đó của chúng ta. Chúng ta đang ngắm nhìn Chúa Hài Nhi nằm trong máng cỏ như trước đây các mục đồng đã chiêm ngắm. Chúa Hài Nhi hiện diện ở đó với Mẹ Maria và thánh Giuse. Hôm nay chúng ta bắt đầu một năm mới bằng việc cử hành phụng vụ Thánh Thể. Chúng ta cảm tạ Thiên Chúa thay cho Đức Maria, Mẹ Chúa Giêsu, Người đã mang Đấng Cứu Thế đến cho nhân loại. Bởi vì là Mẹ của Chúa Giêsu Con Thiên Chúa nên Mẹ Maria đích thật là Mẹ Thiên Chúa. Mẹ Maria đã cưu mang Chúa Giêsu nhờ quyền phép của Chúa Thánh Linh; và thánh Giuse là cha đồng trinh quý yêu của Đức Chúa Giêsu.

Thiên Chúa đã tuyển chọn Đức Maria làm Mẹ của Con Người. Lúc ấy Mẹ trạc tuổi thiếu nữ. Thánh Gioakim và thánh Anna là song thân của Mẹ. Mẹ Maria yêu mến Thiên Chúa và đạo Dothái của Mẹ. Có lẽ những người láng giềng đã coi Mẹ chẳng có gì đặc biệt đáng kể. Nhưng hoạt động của Thiên Chúa ở trong Mẹ thật đã làm cho Mẹ trở nên rất đặc biệt, nên đầy ơn phúc. Thiên Chúa đã sai đức tổng thần Gabriel đến thành Nazareth của Mẹ Maria. Đức tổng thần mời Mẹ chấp nhận một chương trình kỳ diệu – kỳ diệu với Mẹ và với tất cả mỗi người chúng ta. Mẹ Maria muốn làm hài lòng Thiên Chúa và Mẹ đã chấp nhận kế hoạch ấy. Mẹ trở nên hiền mẫu của Chúa Giêsu. Mẹ Maria và thánh Giuse, hôn phu của Mẹ, đã cố gắng nuôi dưỡng giáo dục Chúa Giêsu với tình yêu thật lớn lao. Chúa Giêsu đã sống qua nhiều năm hạnh phúc thân mật với Mẹ Maria và thánh Giuse ở Nazareth.

Khi Chúa Giêsu lên ba mươi tuổi, Người bắt đầu sứ vụ rao giảng và chữa trị các thứ bệnh tật. Giai đoạn này thường được gọi là “đời sống công khai” của Chúa Giêsu; có thể xảy ra ít lâu trước khi thánh Giuse qua đời. Chúa Giêsu không thể chỉ lưu lại trong ngôi nhà bé nhỏ và xưởng mộc nghèo hèn ở Nazareth. Mẹ Maria cùng với vài người bạn thân của Mẹ đã thường xuyên ở bên Chúa Giêsu. Mẹ đã tham dự bữa tiệc cưới tại Cana. Chúa Giêsu và các môn đệ của Người cũng đến. Khi hết rượu, Mẹ đã xin Chúa làm một việc. Mẹ muốn Người cứu giúp đôi tân hôn cho khỏi bẽ mặt xấu hổ trước khách mời của họ. Và Chúa đã làm phép lạ biến nước lã thành thứ rượu thơm ngon hảo hạng. Mẹ Maria rất yêu mến Đức Chúa Giêsu và tin tưởng nơi Người. Mẹ hiện diện khi Chúa bị đóng đinh vào thập giá. Thực ra, Mẹ đã ở ngay dưới chân thập giá và nhận lấy thân xác bất động của Chúa trong vòng tay Mẹ. Sau khi Chúa Giêsu phục sinh, Mẹ đã cùng với các môn đệ của Chúa đợi chờ Chúa Thánh Linh ngự xuống trong ngày lễ ngũ tuần. Các môn đệ cũng yêu mến Đức Mẹ. Họ biết rằng họ cần có nhiều can đảm hơn để trở nên những người tông đồ đích thực của Đức Chúa Giêsu. Và Mẹ Maria đã cầu nguyện cho họ cùng khích lệ họ. Mẹ dạy dỗ họ cách thức để trở nên môn đệ của Đức Chúa Giêsu Con Mẹ. Những ngày lễ của Mẹ Maria là những biến cố đặc biệt trải dài suốt năm. Ngày lễ hôm nay tôn kính tước hiệu Mẹ là Mẹ Thiên Chúa; và Mẹ cũng muốn được là Mẹ của mỗi người chúng ta.

Trong ngày đầu năm hôm nay, chúng ta hãy nài xin Mẹ Maria luôn hiện diện để giúp chúng ta như Mẹ đã luôn hiện diện bên Chúa Giêsu và các môn đệ của Người.

 

Ngày 2 tháng 1

Thánh Basiliô và thánh Grêgôriô Nazianzênô

Thánh Basiliô và thánh Grêgôriô sinh ở Tiểu Á năm 330. Ngày nay người ta gọi vùng này là Thổ Nhĩ Kỳ. Bà ngoại, cha, mẹ, hai em trai và một em gái của Basiliô tất cả đều là thánh. Song thân của Grêgôriô là thánh Nônna và thánh Grêgôriô cả. Tại trường học ở Aten bên nước Hy Lạp, Basiliô và Grêgôriô đã gặp nhau và các ngài trở nên đôi bạn tri kỷ rất đặc biệt.

Sau đó, thánh Basiliô trở thành một thầy giáo danh tiếng. Ngày nọ, em gái của ngài, thánh Macrina, đề nghị ngài làm một đan sĩ. Ngài đã nghe lời khuyên của cô em chuyển đến một sa mạc hoang vu và sống ở đó. Rồi ngài khởi xướng một đan viện đầu tiên. Những điều luật Basiliô ban cho các đan sĩ thật khôn ngoan uyên bác. Các đan viện ở Đông phương đã thực hành luật ấy và trải dài đến tận thời đại chúng ta. Cả Basiliô lẫn Grêgôriô đều trở nên những linh mục và sau đó giám mục. Các ngài đã can đảm rao giảng chống lại lạc thuyết Ariô phủ nhận Chúa Giêsu là Thiên Chúa. Lạc thuyết này đã làm cho nhiều người nhầm lạc.

Đang khi là giám mục thành Constantinôpôli, thánh Grêgôriô đã làm cho nhiều người trở lại đạo bằng tài giảng thuyết lỗi lạc tuyệt vời của ngài và ngài suýt nữa phải trả giá cho việc đó. Một gã đàn ông tìm kế giết Grêgôriô. Nhưng vào phút cuối anh đã ăn năn sám hối và xin Grêgôriô tha thứ cho. Thánh Grêgôriô tha thứ cho anh ta và đã thuyết phục được anh bằng chính đức hạnh hiền lành của mình. Bốn mươi bốn bài diễn văn, hai trăm bốn mươi ba lá thư và nhiều tác phẩm thi ca của thánh Grêgôriô đã được xuất bản. Ngày nay, các bản văn ấy vẫn còn có giá trị. Nhiều nhà văn nhà thơ đã viết những tác phẩm của mình dựa trên các bài huấn từ của ngài.

Thánh Basiliô, người bạn rất thân của thánh Grêgôriô, có một trái tim rất quảng đại và rộng lượng. Ngài luôn tìm thời giờ giúp đỡ những người nghèo khổ. Thậm chí thánh nhân kêu mời những người nghèo khó hãy rộng tay cứu giúp những người đói rách hơn. Ngài nài nỉ thúc giục: “Hãy trao ban ổ bánh cuối cùng cho người hành khất đến gõ cửa nhà bạn”; và “hãy tín thác vào lòng nhân lành của Thiên Chúa!” Thánh Basiliô đã bố thí hết phần gia tài của mình và đã mở một nơi phát súp miễn phí cho người nghèo, nơi mà người ta thường thấy ngài ở đó, mang áo hầu bàn và đang phân phát lương thực cho những người đói khổ.

Thánh Basiliô mất năm 379, lúc bốn mươi chín tuổi. Thánh Grêgôriô qua đời năm 390, thọ sáu mươi. Các ngài được chôn cất trong vương cung thánh đường thánh Phêrô ở Rôma.

 Chúng ta sẽ không bao giờ hối tiếc khi dùng trí tuệ, thời giờ và các tài năng của mình để giúp những người chung quanh sống gần Thiên Chúa hơn.

 

 

Ngày 3 tháng 1

Thánh Giơnoa

Thánh nữ Giơnoa sinh vào khoảng năm 422 tại Nantê, một ngôi làng nhỏ cách thành phố Pari khoảng bốn dặm. Khi còn rất trẻ, thánh Giơnoa đã mơ ước dâng hiến đời mình cho Đức Chúa Giêsu. Sau khi cha mẹ qua đời, Giơnoa trẩy đến sống với bà ngoại. Hằng ngày, thánh nữ dành thời giờ để cầu nguyện. Ngài sống rất gần gũi mật thiết với Đức Chúa Giêsu và muốn giới thiệu sự tốt lành của Chúa cho mọi người. Thánh nữ Giơnoa có tấm lòng khoan dung rộng lượng. Ngài đã cố gắng hết sức mình để làm những việc tốt cho tha nhân.

Khi người dân Pari sắp phải chạy trốn khỏi địch quân khủng khiếp đến tấn công họ, thánh nữ Giơnoa liền tiến lên phía trước. Ngài phấn khích dân thành hãy tin cậy vào Chúa. Ngài nói rằng nếu họ ăn năn sám hối, họ sẽ được thứ tha. Dân thành đã làm theo lời Giơnoa nói và đột nhiên quân giặc Hungnô hung hãn đã không tấn công thành phố nữa. Không chỉ trong những khi cần thiết mà suốt cả cuộc đời, thánh nữ Giơnoa đã thực thi lòng yêu mến và tuân phục đối với ý muốn của Thiên Chúa. Và ngài luôn luôn cố gắng bồi đắp cho hoàn hảo hơn lên mãi. Can đảm và trung thành với Chúa Giêsu là những tặng ân đặc biệt trong chứng từ thánh nữ Giơnoa để lại cho mỗi người chúng ta.

 Một trong những cách thế tối hảo để giúp đỡ quê hương đất nước là cầu nguyện cho các vị lãnh đạo. Chúng ta hãy nài xin Thiên Chúa hướng dẫn họ vì ích chung của tất cả mọi người.

 

Ngày 4 tháng 1

Thánh Êlizabeth Anna Sitôn

“Mẹ Sitôn” là danh hiệu mà mọi người đều biết khi Êlizabeth qua đời ngày mùng 4 tháng Giêng năm 1821 ở Emmitsbơ, Maryland. Cuộc sống đầy những ngạc nhiên bất ngờ đã trao tặng thánh nữ danh hiệu đó.

Êlizabeth sinh ngày 28 tháng Tám năm 1774 tại thành phố Niu Gioóc. Thân sinh của ngài, ông Richard Bơlây, là một bác sĩ danh tiếng. Thân mẫu của Êlizabeth, là bà Catarina, đã lìa đời khi Êlizabeth còn rất trẻ. Êlizabeth là một tín hữu theo đạo Tin lành, thuộc giáo phái Epiocopan. Khi còn là thiếu nữ, Êlizabeth đã làm nhiều việc tốt để giúp đỡ những người nghèo khổ.

Năm 1794, Êlizabeth kết hôn với William Sitôn. Ông là một lái buôn giàu có và là chủ của một đoàn tàu. Êlizabeth, William và năm người con cùng chung sống hạnh phúc bên nhau. Nhưng đột nhiên chỉ trong một khoảng thời gian ngắn, William mất hết gia sản và sức khỏe ông bị suy giảm. Người vợ của ông nghe nói khí hậu ở bên nước Ý có thể giúp ông khá hơn. Vì vậy, Êlizabeth, William và Anna, đứa con gái lớn nhất của họ, đã đáp tàu sang Ý. Nhưng sau đó ít lâu, William qua đời. Êlizabeth và Anna ở lại Ý như  những người khách của gia đình Filicchi. Những người trong gia đình này rất tử tế, tốt bụng. Họ cố gắng xoa dịu nỗi đau đớn của Êlizabeth và Anna bằng cách chia sẻ cho hai người nghe biết về tình yêu thâm sâu của họ trong đức tin Công giáo. Êlizabeth trở về nhà ở Niu Gioóc với ý định sẽ trở nên một tín hữu Công giáo. Gia đình và bạn bè của ngài không hiểu được điều đó nên họ rất lấy làm khó chịu; thế nhưng với lòng can đảm, Êlizabeth cứ tiến hành điều mình đã quyết định. Êlizabeth đã gia nhập Giáo hội Công giáo ngày 4 tháng Ba năm 1805.

Ít năm sau, người ta mời Êlizabeth đến mở một trường nữ sinh ở Baltimo. Ở đó, Êlizabeth đã quyết định sống như một nữ tu. Cũng có nhiều chị em đến gia nhập nhóm của ngài, gồm cả cô em gái và người chị dâu nữa. Các con của Êlizabeth, Anna và Catarina cũng lần lượt tham gia nhóm ấy. Họ trở thành hội Nữ Tu Bác Ái Người Mỹ và người ta tôn tặng cho Êlizabeth tước hiệu “Mẹ Sitôn.” Êlizabeth trở nên nổi tiếng. Ngài đã thiết lập nhiều trường học Công giáo và một số viện mồ côi. Êlizabeth cũng dự tính sẽ lập một bệnh viện và viện này đã được khai trương sau khi ngài qua đời.

Êlizabeth yêu thích việc viết lách và ngài đã chuyển dịch một số sách giáo khoa từ tiếng Pháp sang tiếng Anh. Nhưng đặc biệt nhất là thánh nữ thích việc viếng thăm những người nghèo khổ, đau yếu.

Đức thánh cha Phaolô VI đã tôn phong Êlizabeth lên bậc hiển thánh ngày 14 tháng Chín năm 1975.

 Nếu có điều gì xảy ra làm thay đổi cuộc sống của chúng ta từ hạnh phúc sung sướng sang khó khăn bế tắc, chúng ta hãy quay ánh nhìn về Thiên Chúa như Mẹ Sitôn và kêu xin Người giúp đỡ. Thiên Chúa có thể giúp chúng ta nhận thấy rằng những khó khăn đó có thể làm sáng tỏ những tài năng ẩn giấu bên trong chúng ta như thế nào. Và rồi chúng ta sẽ hoàn thành được điều chúng ta chẳng bao giờ mơ tới.

 

Ngày 5 tháng 1

Thánh Gioan Niumơn

Không chỉ là một người lặng lẽ, Gioan Niumơn còn là người lùn, chỉ cao khoảng 1,52 mét. Tuy nhiên, Gioan Niumơn có đôi mắt rất dễ thương và hay cười. Ngài sinh ngày 28 tháng Ba năm 1811 tại Bôhêmia, nay là phần đất của nước Cộng hòa Séc. Cha mẹ ngài là ông Philip và bà Annê. Gioan Niumơn có bốn chị gái và một em trai. Sau khi tốt nghiệp đại học, ngài gia nhập chủng viện. Tới ngày thụ phong linh mục, đức giám mục bị lâm bệnh. Và thế là ngày thụ phong ấy đã không bao giờ được ấn định nữa vì lúc đó Bôhêmia đã có đủ số linh mục. Từ khi Gioan Niumơn tìm hiểu về những hoạt động truyền giáo bên Hoa Kỳ, ngài quyết định trẩy sang nơi đây để xin được thụ phong. Gioan Niumơn đã đi bộ hầu hết đoạn đường tới Pháp rồi lên tàu mang tên “Europa” để sang Mỹ châu.

Ngày 9 tháng Sáu năm 1836, Gioan Niumơn đến Manhattan. Đức giám mục Gioan Đuyboa rất vui mừng khi gặp ngài. Hiện chỉ mới có ba mươi sáu linh mục giúp cho hai trăm ngàn tín hữu Công giáo sống ở bang Niu Gioóc và một phần ở bang Niu Jessi. Và chỉ trong vòng mười sáu ngày sau khi đến, Gioan được thụ phong linh mục và được gởi tới Buffalô. Ở đó, ngài phụ giúp cha Pax trông coi xứ đạo rộng khoảng 1400 km vuông. Cha Pax cho Gioan được tự do lựa chọn sống ở thành phố Buffalô hoặc vùng thôn quê. Lúc này chí khí anh hùng của Gioan bắt đầu thể hiện. Ngài đã chọn điều khó khăn hơn: ở thôn quê. Ngài quyết định lưu lại trong một thị trấn nhỏ có ngôi thánh đường chưa được xây xong. Ngay khi vừa khánh thành ngôi thánh đường này, Gioan lại chuyển tới một thị trấn khác nơi có một ngôi thánh đường được làm bằng những khúc cây. Ở đó, Gioan đã dựng một túp lều nhỏ bằng gỗ. Ngài hầu như không sử dụng lửa và thường sống nhờ bánh mì với nước lã. Mỗi đêm Gioan chỉ ngủ vài giờ. Khoảng cách giữa các nông trại và nơi Gioan Niumơn ở thì rất là xa. Gioan Niumơn đã phải trẩy bộ trên những lộ trình dài để đến với giáo dân của mình. Họ là những người Đức, Pháp, Iran và Scốtlen. Khi ở trường, Gioan Niumơn đã học được tám ngoại ngữ. Bây giờ ngài học thêm hai ngoại ngữ nữa: tiếng Anh và tiếng Gêlic. (Gêlic là loại ngôn ngữ của người Celte ở Ai Len.) Trước khi qua đời, Gioan Niumơn đã biết được tất cả mười hai ngoại ngữ.

Thánh Gioan Niumơn gia nhập dòng Chúa Cứu Thế và vẫn tiếp tục công việc truyền giáo của mình. Năm 1852, ngài được chọn làm giám mục giáo phận Philađenphia. Giám mục Niumơn đã xây cất năm mươi thánh đường và bắt đầu xây dựng nhà thờ chính tòa.

Gioan Niumơn đã mở gần một trăm trường học và số học sinh địa phương đã gia tăng từ năm trăm đến chín ngàn em. Sức khỏe của giám mục Niumơn không được tốt lắm nhưng người ta vẫn rất ngỡ ngàng khi ngài đột nhiên qua đời ngày mùng 5 tháng Giêng năm 1860. Đang trên đường đi họp về nhà, Gioan Niumơn đã ngã xuống đất vì chứng bệnh đột quỵ. Người ta mang Gioan Niumơn đến căn nhà gần nhất và Gioan đã mất lúc 3 giờ chiều tại đó. Tính đến tháng Ba, Gioan Niumơn vừa tròn bốn mươi chín tuổi. Đức thánh cha Phaolô VI đã phong thánh cho Gioan Niumơn ngày 19 tháng Sáu năm 1977. 

Chúng ta không được thông minh sáng trí, khỏe mạnh hoặc năng động như chúng ta mơ ước. Điều đó không ngăn cản tình Chúa yêu thương chúng ta và dùng chúng ta làm những công việc phi thường đặc biệt. Chúng ta hãy nài xin thánh Gioan Niumơn giúp đỡ khi chúng ta gặp phải những khó khăn.

 

Ngày 6 tháng 1

Chân phước Anrê Besset

Alfred Besset sinh ngày mùng 9 tháng Tám năm 1845 gần Montriơ, nước Canađa. Ngài là con thứ tám trong gia đình có mười hai người con. Khi Alfred lên chín, cha của ngài, làm nghề đốn củi, đã chết vì tai nạn nghề nghiệp. Ba năm sau, mẹ của Alfred cũng mất vì chứng bệnh lao phổi, để lại đàn con mồ côi. Bọn trẻ được gởi vào các gia đình khác nhau. Alfred thì đến sống với cô chú của mình.

Vì gia đình quá nghèo và bản thân lại hay đau bệnh nên Alfred chỉ được hấp thụ một nền học vấn ít ỏi. Bởi vậy, năm lên mười ba, Alfred phải cố gắng học lấy nhiều nghề khác nhau như: làm ruộng, đóng giày và nướng bánh. Thậm chí Alfred cũng làm việc trong một nhà máy ở Connecsien. Nhưng tình trạng sức khỏe luôn luôn làm cho Alfred phải bỏ lỡ công việc.

Khi lên hai mươi lăm, Alfred gia nhập dòng Thánh Giá và đổi tên là “thầy Anrê.” Thầy Anrê đã trải qua bốn mươi năm làm công tác quản thư và đưa tin. Những năm còn lại, Anrê làm người gác cổng cho học viện của dòng. Ở đây, năng lực chữa lành bệnh tật của thầy Anrê trở nên danh tiếng. Khi người ta tuôn đến xin thầy chữa trị, thầy nói với họ rằng trước tiên hãy cảm tạ Thiên Chúa vì được phúc chịu đau khổ bởi lẽ việc này rất hữu ích. Rồi thầy cùng với họ cầu nguyện. Hầu hết người ta đều được lành bệnh. Thầy Anrê luôn khước từ những tiếng khen hoặc danh dự người ta dành tặng ngài. Anrê luôn luôn khẳng định rằng đó là do lòng tin của họ và do quyền phép của thánh cả Giuse.

Thầy Anrê Besset có một tình yêu bao la vĩ đại đối với bí tích Thánh Thể và thánh cả Giuse. Lúc còn trẻ, Anrê nằm mơ thấy một ngôi thánh đường lớn nhưng không biết nó ở nơi nào. Rồi dần dần, Anrê nhận thấy Thiên Chúa muốn có một ngôi thánh đường để tôn kính thánh cả Giuse; và ngôi thánh đường đó phải được xây cất trên đỉnh ngọn núi Rôyal ở Montriơ, Canađa. Lời cầu nguyện và những hy sinh của thầy Anrê và của nhiều người khác đã làm cho giấc mộng ngày nào biến thành sự thật. Ngôi thánh đường nguy nga tráng lệ tôn kính thánh cả Giuse đã được xây cất. Đó là lời xác nhận hùng hồn về lòng tin tưởng phi thường của thầy Anrê. Khách hành hương từ các nơi xa xôi kéo đến quanh năm. Họ muốn tôn kính thánh cả Giuse. Họ muốn biểu lộ lòng tin tưởng vào sự bảo dưỡng yêu thương của thánh cả như thầy Anrê đã thể hiện.

Thầy Anrê Besset qua đời trong an bình ngày mùng 6 tháng Giêng năm 1937. Gần nửa triệu người đã lũ lượt kéo nhau lên ngọn núi Rôyal, đến nguyện đường thánh Giuse để dự đám tang của thầy dù cho những cơn mưa tuyết trút xuống dữ dội. Họ đến để nói lời từ biệt đối với người bạn quá cố của họ. Thầy Anrê Besset được đức thánh cha Gioan Phaolô II tôn phong lên bậc chân phước ngày 23 thánh Năm năm 1982. 

Như thầy Anrê Besset, chúng ta cũng có thể có được những chứng tích về sự phù trợ của thánh cả Giuse. Chân phước Anrê Besset và thánh cả Giuse sẽ giúp chúng ta biết cách trở nên những người bạn tốt của Đức Chúa Giêsu. Vậy chúng ta hãy năng cầu xin các ngài trợ giúp.

 

Ngày 7 tháng 1

Thánh Râymunđô Penyapho

Thánh Râymunđô Penyapho được sinh vào khoảng giữa những năm 1175–1180 trong một thị trấn nhỏ gần Barxêlôna, nước Tây Ban Nha. Ngài được học hành tại trường của nhà thờ chính tòa Barxêlôna; và sau đó trở thành linh mục. Râymunđô tốt nghiệp trường luật ở Bôlônha, nước Ý; và trở nên một thầy dạy danh tiếng. Năm 1218, Râymunđô Penyapho gia nhập dòng Đa Minh. Năm 1230, đức thánh cha Grêgôriô IX cho triệu vời vị linh mục đặc biệt này đến Rôma. Khi Râymunđô đến, đức thánh cha liền trao cho ngài nhiều công việc. Một trong những công việc đó là sưu tầm tất cả các lá thơ chính thức của các đức giáo hoàng kể từ năm 1150. Râymunđô đã thu thập và xuất bản tất cả thành năm tập. Ngài cũng tham gia vào công việc soạn thảo bộ Giáo Luật.

Năm 1238, thánh Râymunđô Penyapho được chọn làm bề trên tổng quyền dòng Đa Minh. Với sự tinh thông luật lệ, thánh nhân đã nghiên cứu lại luật dòng và đoan chắc là mọi điều luật đều am hợp với luật Giáo hội. Sau khi hoàn tất công việc, thánh nhân xin từ chức vào năm 1240. Giờ đây, Râymunđô thực sự có thể cống hiến phần đời còn lại của mình cho việc mục vụ xứ đạo. Đó là điều Râymunđô vẫn hằng mơ ước.

Đức thánh cha có ý đặt Râymunđô Penyapho làm tổng giám mục nhưng Râymunđô đã từ chối. Ngài xin trở về Tây Ban Nha và đã được mãn nguyện. Ngài vui mừng khôn tả khi lại tiếp tục phục vụ xứ đạo. Lòng cảm thương trắc ẩn của Râymunđô đã giúp cho nhiều người trở về với Thiên Chúa qua bí tích Hòa giải.

Trong suốt những năm sống tại Rôma, Râymunđô thường xuyên nghe biết những chuyện khó khăn mà các nhà truyền giáo đang gặp phải. Họ đang cố gắng vươn tới với những người không thuộc Kitô giáo ở Bắc Phi và Tây Ban Nha. Để giúp đỡ các nhà truyền giáo, Râymunđô Penyapho đã mở một trường dạy ngôn ngữ và văn hóa của những đối tượng sẽ được rao giảng Tin mừng cho. Hơn nữa, cha Râymunđô còn xin thánh Tôma Aquinô, vị tu sĩ danh tiếng thuộc dòng Đa Minh, viết một cuốn sách nhỏ. Cuốn sách này giải thích những chân lý đức tin cách giản dị mà ai ai cũng có thể hiểu được. (Chúng ta sẽ mừng lễ kính thánh Tôma Aquinô ngày 28 tháng Giêng.)

Thánh Râymunđô Penyapho sống thọ gần một trăm tuổi. Ngài qua đời tại Barxêlôna vào ngày 6 tháng Giêng năm 1275; và được đức thánh cha Clêmentê VIII tôn phong hiển thánh năm 1601. Vị giáo hoàng này đã công nhận Râymunđô Penyapho là bổn mạng của những luật gia trong Giáo hội vì ảnh hưởng lớn lao của ngài trên luật Giáo hội.

 Trong cuộc đời, thánh Râymunđô Penyapho đã không thể làm được nhiều việc như thế nếu không có lòng yêu mến Đức Mẹ và sự chăm chỉ cầu nguyện. Khi làm công việc gì, chúng ta cũng hãy tưởng nhớ đến Mẹ và xin Người giúp đỡ.

 

Ngày 8 tháng 1

Thánh Tôphin

Người ta đã chỉ tìm ra những chi tiết về cuộc đời của thánh Tôphin rất lâu sau khi ngài qua đời. Tôphin mất năm 1285 trong một đan viện ở nước Bỉ. 50 năm sau, trong lúc xây dựng người ta đột nhiên cải ngôi mộ của ngài lên. Mọi người đều phải ngạc nhiên vì mùi thơm ngào ngạt dễ chịu bốc ra từ cỗ quan tài của Tôphin. Đức viện phụ bắt đầu điều tra sự việc. Ngài tìm đan sĩ cao tuổi tên là Waltơ Muđa, vị này là người còn nhớ về Tôphin. Thực ra, cha Waltơ đã bị ảnh hưởng sâu sắc bởi đức tính tốt lành hiền hòa và lòng cương nghị vững vàng của Tôphin nên cha đã sáng tác một bài thơ về ngài. Waltơ đã đặt bài thơ viết về Tôphin trên ngôi mộ. Các đan sĩ đến tìm xem bài thơ. Và họ đã thấy tấm giấy da vẫn còn mới nguyên như ngày người ta đặt nó ở đó.

Các đan sĩ linh cảm rằng đây là dấu hiệu Thiên Chúa muốn cho Tôphin được kính nhớ. Rồi người ta cầu nguyện với ngài và các phép lạ lần lượt xảy ra. Họ đã xin cha Waltơ viết lại bất cứ những gì cha có thể nhớ về Tôphin. Và cha viết rằng Tôphin quê ở Na Uy. Khi làm linh mục, có lẽ ngài đã phục vụ tại nhà thờ chính tòa. Hình như Tôphin đã ký kết một chứng từ quan trọng lúc ở đây. Ngài đã là nhân chứng cho “bản hợp đồng Tônsbơ” năm 1277, bản hợp đồng giữa đại đế VI và đức tổng giám mục ký kết trả tự do cho Giáo hội khỏi quyền kiểm soát của nhà nước. Nhưng vài năm sau đó, vua Êric phế bỏ bản hợp đồng. Ông quay ra chống đối đức tổng giám mục và những người ủng hộ ngài. Đức tổng giám mục bị đuổi đi cùng với Tôphin, lúc ấy là giám mục giáo phận Hamar, Na Uy.

Tôphin khởi sự cuộc hành trình gian khổ tới Flăngđơ. Thậm chí ngài đã bị đắm tàu trong chuyến đi. Sau cùng, Tôphin đã đến sống trong đan viện và qua đời tại đây. Ngài đã viếng thăm Rôma nhưng khi trở về sức khỏe lại rất sa sút. Tôphin không có lắm của cải nhưng ngài cũng đã chia một số cho những người thuộc gia đình ngài; và số khác cho các nhóm giúp việc từ thiện. Rồi Tôphin qua đời ngày 8 tháng Giêng năm 1285. Những người Công giáo ở Hamar, Na Uy vẫn còn tôn kính thánh Tôphin và mừng lễ ngài.

Đôi khi những người tử tế lương thiện không được để ý lưu tâm và không được nhớ ơn. Nếu chúng ta đã từng cảm thấy như thế về bản thân hay về một người nào đó chúng ta yêu mến, chúng ta hãy cầu xin với thánh Tôphin. Ngài sẽ giúp chúng ta nhận biết được đâu là điều thực sự quan trọng trước mặt Chúa.

 

Ngày 9 tháng 1

Thánh Julianô và thánh Basilisa

Thánh Julianô và thánh Basilisa là hai vợ chồng. Các ngài sống vào khoảng nửa đầu thế kỷ thứ 4. Lòng mộ mến đạo đã khiến các ngài làm một việc cao cả anh hùng: các ngài chuyển nhà vào trong bệnh viện. Bằng cách này, các ngài có thể chăm sóc những người đau ốm và nghèo khó không ai giúp đỡ. Thánh Julianô chăm sóc những người nam, còn thánh Basilisa lo cho những người nữ. Cả hai cùng tìm gặp thấy Chúa Giêsu đang hiện thân trong những người mà các ngài phục vụ. Các ngài làm công việc này chỉ vì tình yêu, không vì tiền bạc hay bất cứ một phần thưởng nào khác.

Chúng ta không được biết nhiều chi tiết về đời sống tại thế của đôi vợ chồng thánh thiện này. Tuy nhiên, chúng ta biết rằng thánh Basilisa đã ly trần sau cuộc bách hại khủng khiếp vì đức tin. Thánh Julianô sống lâu hơn. Ngài vẫn tiếp tục công việc quảng đại của mình là phục vụ những người đau yếu bệnh hoạn ngay cả sau khi thánh Basilisa qua đời. Sau này thánh Julianô cũng được phúc tử vì đạo.

Thánh Julianô và thánh Basilisa đã dùng cả cuộc đời của mình phục vụ tha nhân và Thiên Chúa. Các ngài đã gieo trồng hạt giống đức tin bằng cách sống cuộc đời thánh thiện và đã chăm bón vun xới đức tin ấy bằng chính việc đổ máu đào vì Chúa Kitô chịu đóng đinh.

Chúng ta có thể noi gương bắt chước hai vị thánh này bằng cách thăm viếng những người đau yếu và những người bơ vơ không nơi nương tựa. Chúng ta cũng có thể làm cho họ vui sướng qua việc lắng nghe và thông cảm  với họ

 

 

Ngày 10 tháng 1

Thánh William

Thánh William xuất thân trong một gia đình người Pháp khá giả. Ngay từ thuở thơ ấu, William đã không lãng phí thời giờ vào những chuyện vô ích và đã không để cho mình nhàn rỗi biếng lười. Hằng ngày, William dùng thời gian cầu nguyện. Khi vào tu dòng Xitô, William cố gắng trở nên một đan sĩ tốt lành. Các thầy đồng tu rất khâm phục William mặc dù ngài không chủ ý gây ấn tượng cho bất cứ một ai.

Thánh William có lòng sùng kính rất đặc biệt đối với Chúa Giêsu Thánh Thể. Thánh nhân hăng say thực hành những việc khổ chế. Trông ngài luôn hạnh phúc bình an. Khi được chọn làm đan viện phụ của đan viện, William vẫn sống khiêm tốn. Ngài vẫn là ngài. Khi đức tổng giám mục giáo phận Boz qua đời, William được chọn lên kế vị. Thánh nhân tỏ lòng rất biết ơn khi được thánh hiến trong chức vị giám mục nhưng lại không vui vì phải tiếp nhận sự ưu ái lưu tâm của mọi người. William vẫn ở khiêm nhường qua việc ăn năn sám hối để cầu nguyện cho mình và xin ơn hoán cải cho các tội nhân.

Mặc dù ham thích được ở một mình với Chúa Giêsu hiện thân trong bí tích Thánh Thể, William vẫn biết nhiệm vụ của một tổng giám mục như ngài là phải sẵn sàng đi viếng thăm mục vụ trong giáo phận. William cử hành bí tích Thánh Thể và rao giảng đức tin. Ngài cũng thăm nom những người nghèo khó, đau yếu để an ủi họ và mang họ về với Chúa Kitô.

Đức tổng giám mục William qua đời ngày 10 tháng Giêng năm 1209; và được an táng tại nhà thờ chính tòa Boz. Nhiều người cầu nguyện tại mộ phần của William đã thuật lại những phép lạ ngài làm. William được đức thánh cha Hônôriô III tôn phong lên bậc hiển thánh năm 1218.

Càng đọc truyện các thánh, chúng ta càng hiểu rõ được cách thế các ngài nên thánh. Các ngài đã cầu nguyện, vâng lời, hy sinh và tín thác vào Chúa.

 

Ngày 11 tháng 1

Thánh Thêôđôsiô

Thánh Thêôđôsiô sinh tại Tiểu Á vào năm 423. Khi còn trẻ, ngài đã hành hương đến thánh địa. Người ta nói rằng Thêôđôsiô được linh hứng bởi “hành trình đức tin” của Abraham trong sách Sáng Thế Ký.

Sau khi viếng thăm những nơi thánh, Thêôđôsiô quyết định sống đời cầu nguyện. Ngài đã xin một người thánh thiện tên là Longinô hướng dẫn. Chẳng bao lâu, người ta đều nhận biết sự thánh thiện của Thêôđôsiô và nhiều người trong số họ đã xin được thụ giáo ngài. Họ cũng muốn trở nên những đan sĩ.

Thánh Thêôđôsiô xây cất một đan viện lớn ở Catimô, gần Bêlem. Ít lâu sau, đan viện này đã đầy ắp những đan sĩ đến từ khắp các nước: Hy Lạp, Ácmênia, Ả Rập, Ba Tư và các nước nói tiếng Slavic (là Nga, Ba Lan và Tiệp Khắc). Cuối cùng, nơi đây đã trở nên một “thành phố nhỏ.” Có một tòa nhà dành cho những người cao tuổi và một khu vực dành riêng cho những người nghèo khổ vô gia cư.

Thánh Thêôđôsiô luôn luôn sống rộng rãi quảng đại. Ngài cung cấp thực phẩm cho rất nhiều người nghèo khó. Đôi lúc dường như không còn đủ lương thực cho các đan sĩ, nhưng Thêôđôsiô vẫn một lòng tín thác vào Chúa. Ngài không bao giờ loại bỏ hay ngoảnh mặt làm ngơ đối với các lữ khách ngay cả khi khan hiếm lương thực. Đan viện là nơi rất an bình. Các đan sĩ sống trong bầu khí thinh lặng và cầu nguyện. Thật có lý khi các thượng phụ giáo chủ của Giáo hội Công giáo Đông phương đã bổ nhiệm Thêôđôsiô làm người đứng đầu các đan sĩ ở Đông phương.

Thánh Thêôđôsiô mất năm 529, thọ 106 tuổi. Thượng phụ giáo chủ Giêrusalem và nhiều người khác đã đến dự đám tang của ngài. Người ta đã chôn cất Thêôđôsiô tại nơi ngài đã sống lúc còn là đan sĩ, nơi mà người ta gọi là “hang của các vị đạo sĩ Đông phương.” Họ đặt cho cái hang tên đó vì họ cho rằng những vị đạo sĩ Đông phương khi tìm kiếm Hài Nhi Giêsu đã lưu lại nơi đây.

 Như thánh Thêôđôsiô, mỗi ngày chúng ta hãy cố gắng sống thân mật với Thiên Chúa hơn. Người sẽ ban cho chúng ta sự can đảm cần thiết.

 

Ngày 12 tháng 1

Thánh Maguarit Bôgôis

Thánh nữ Maguarit Bôgôis sinh ngày 17 tháng Tư năm 1620 tại thành Troy nước Pháp, nhưng thánh nữ đã sống gần tám mươi năm ở Montriơ, nước Canađa. Maguarit là con thứ sáu trong gia đình có mười hai người con. Song thân của Maguarit là những người rất mộ đạo. Khi Maguarit lên mười chín thì thân mẫu qua đời. Thánh nữ đã thay mẹ săn sóc các em trai và em gái của ngài. Thân phụ của Maguarit cũng về trời lúc ngài được hai mươi bảy tuổi. Khi việc gia đình được dàn xếp ổn định, Maguarit đã cầu nguyện xin Chúa cho biết phải làm gì trong cuộc sống của mình. Lúc ấy, nhà lãnh đạo thành phố Montriơ đến thăm nước Pháp. Ông đang gắng tìm những người dạy học cho Tân Thế Giới (gồm Mỹ châu, Bắc Mỹ và Nam Mỹ). Ông mời Maguarit đến Montriơ dạy các lớp đạo và thánh nữ đã bằng lòng.

Sau đó, Maguarit Bôgôis phân phát phần tài sản thừa kế của mình cho các anh chị em trong gia đình. Họ không thể tin rằng ngài sẽ thực sự rời bỏ đất nước văn minh của họ để đi đến vùng hoang mạc khô cằn bên kia đại dương. Nhưng Maguarit đã ra đi. Ngày 20 tháng Sáu năm 1653, Maguarit vượt biển và đến Canađa vào khoảng giữa tháng Mười Một. Năm 1657, Maguarit Bôgôis tiến hành xây cất một nguyện đường dành để tôn kính Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp. Năm 1658, ngài mở một trường dạy học đầu tiên. Maguarit nhận thấy nhu cầu cần phải có thêm nhiều giáo viên hơn cho công việc. Vì thế năm 1659, Maguarit Bôgôis về Pháp và trở lại cùng với bốn người cộng tác. Đến năm 1670, ngài lại đi Pháp và đem về sáu người bạn nữa. Những người nữ can đảm này đã là những nữ tu đầu tiên của tu hội Nữ Tử Đức Bà.

Thánh Maguarit Bôgôis và các nữ tu của ngài đã giúp đỡ các kiều dân khi thực phẩm khan hiếm. Họ mở trường dạy nghề và huấn luyện cho các bạn trẻ biết cách điều khiển công việc ở nhà cũng như ngoài đồng. Cộng đoàn của thánh Maguarit càng ngày càng phát triển. Tính từ năm 1681, cộng đoàn có hết thảy mười tám nữ tu, trong đó có bảy chị người Ấn Độ. Rồi, họ lập thêm những nhóm truyền giáo và hai nữ tu đã đứng ra giúp hội truyền giáo Ấn Độ này. Chính thánh nữ Maguarit Bôgôis đã nhận hai chị người Ấn Độ đầu tiên này vào cộng đoàn.

Năm 1693, Mẹ Maguarit Bôgôis đã trao cộng đoàn lại cho người kế nghiệp Mẹ. Vị bề trên mới này là nữ tu Maria Babiê, người Canađa đầu tiên gia nhập cộng đoàn. Năm 1698, luật dòng của thánh nữ Maguarit Bôgôis được Giáo hội phê chuẩn. Maguarit dùng ít năm cuối đời của mình để cầu nguyện và viết tự truyện. Vào ngày cuối năm 1699, một chị nữ tu trẻ hấp hối. Mẹ Maguarit đã nài xin Thiên Chúa trao đổi sự sống của Mẹ cho chị nữ tu. Đến sáng ngày mùng 1 tháng Giêng năm 1700, chị nữ tu trẻ đã hoàn toàn bình phục. Đối lại Mẹ Maguarit Bôgôis phải chịu một cơn sốt cùng cực. Mẹ đã chịu đau suốt mười hai ngày và qua đời ngày 12 tháng Giêng năm 1700.

Đức thánh cha Gioan Phaolô II đã phong thánh cho Mẹ Maguarit Bôgôis ngày mùng 2 tháng Tư năm 1982. 

Khi không có đủ can đảm để thực hiện những điều mỹ hảo, chúng ta hãy cầu xin với thánh nữ Maguarit Bôgôis giúp chúng ta can đảm và quảng đại như ngài.

 

Ngày 13 tháng 1

Thánh Hilariô Poichiê

Vào những thế kỷ đầu của Kitô giáo cũng đã có nhiều người không tin Thiên Chúa như thời đại chúng ta hôm nay. Họ tin có nhiều vị thần minh; và quyền năng của một số vị này thì mạnh mẽ hơn quyền năng của một số vị kia…

Những người này không xấu. Họ chỉ không biết rõ ai là vị thần cao cả quyền thế hơn. Người ta gọi họ là những người thờ ngẫu thần.

Thánh Hilariô được sinh ra trong một gia đình như thế ở Poichiê, một thị trấn của nước Pháp, vào năm 315. Gia đình thánh nhân rất giàu có và danh tiếng. Hilariô được học hành thông giỏi. Thánh nhân cũng đã kết bạn và gầy dựng một gia đình.

Trong suốt quá trình học tập, Hilariô nhận thức được rằng con người ta nên rèn luyện cho mình có những đức tính nhẫn nại, tử tế, công bằng và những tập quán tốt khác. Những hành động tốt lành này sẽ được ân thưởng trong cuộc sống mai hậu. Việc học tập nghiên cứu của Hilariô cũng thuyết phục ngài rằng chỉ có thể có một Thiên Chúa, Đấng hằng hữu, đầy quyền năng và nhân hậu. Lần đầu tiên Hilariô đọc Kinh Thánh. Và khi đọc tới truyện ông Môisê và bụi gai bốc cháy, Hilariô đã xúc động bởi danh xưng Thiên Chúa mạc khải: “Ta là Đấng Tự Hữu.” Hilariô cũng đọc những sách tiên tri. Rồi ngài đọc trọn bộ Kinh Thánh Tân Ước. Khi đọc xong, Hilariô đã hoàn toàn trở lại Công giáo và được lãnh nhận bí tích Thanh tẩy.

Hilariô Poichiê sống đức tin hoàn hảo đến nỗi ngài được cất nhắc làm giám mục. Điều này khiến cho cuộc sống của Hilariô không được thoải mái vì lúc ấy hoàng đế can thiệp vào nhiều vấn đề của Giáo hội. Khi Hilariô lên tiếng phản đối, hoàng đế đã trục xuất ngài ra khỏi quê hương. Đây là lúc các nhân đức nhẫn nại và can đảm tuyệt vời của Hilariô tỏa sáng. Hilariô bình thản chấp nhận án lệnh trục xuất và dùng thời gian viết nhiều sách giải thích đức tin.

Từ khi Hilariô nổi tiếng, các kẻ thù của Hilariô xin vua sai ngài về quê nhà của ngài vì ở đó ngài sẽ ít được người ta chú ý hơn. Bởi vậy, năm 360, Hilariô trở về Poichiê. Ngài tiếp tục viết sách và giảng dạy đức tin cho mọi người. Tám năm sau, Hilariô qua đời, thọ năm mươi hai tuổi. Các sách vở của Hilariô hiện vẫn còn ảnh hưởng đến thời đại chúng ta. Đó là lý do tại sao Hilariô Poisiơ được gọi là Tiến sĩ Hội Thánh.

 Chẳng có cuộc sống nào là hoàn toàn dễ dàng! Nhưng khi học với thánh Hilariô Poichiê, chúng ta sẽ thấy cuộc sống không có quá nhiều việc quan trọng, nếu chúng ta chấp nhận giải quyết như chúng vẫn thường xảy đến.

 

Ngày 14 tháng 1

Thánh Macrina

Hôm mùng 2 tháng Giêng, chúng ta đã mừng lễ tôn kính “thánh cháu” của vị thánh hôm nay. Thánh Basiliô cả sinh khoảng năm 329, xuất thân từ gia đình có nhiều người làm thánh. Thánh nữ Macrina, bà nội của Basiliô, là một trong những người ngài yêu mến nhất. Dường như bà đã nuôi dưỡng Basiliô. Khi thành nhân, Basiliô đã ca ngợi bà nội vì những điều tốt hảo bà đã làm cho ngài. Đặc biệt Basiliô thành thật tỏ lòng cám ơn bà vì đã dạy mình biết mộ mến đức tin Công giáo ngay từ thuở niên thiếu. Macrina và chồng của bà đã biết cái giá thật cao phải trả cho niềm tin Công giáo là thế nào. Trong những cuộc bách hại Rôma của Galêriô và Maximinô, ông bà nội của Basiliô đã phải chạy trốn. Các ngài tìm được một nơi lánh nạn trong khu rừng cạnh ngôi nhà các ngài. Bằng mọi cách có thể, các ngài đã cố gắng xoay sở hầu trốn thoát những kẻ khủng bố. Các ngài luôn chịu đói khát và sợ hãi nhưng không bao giờ các ngài chối bỏ niềm tin. Thay vào đó, các ngài luôn nhẫn nại chờ đợi và cầu nguyện cho những người bách hại. Các ngài tìm kiếm và phải ăn cả đến những hoa cỏ dại để sống sót. Cuộc bách hại này kéo dài bảy năm. Thánh Grêgôriô Nazianzênô, được mừng lễ cùng ngày 2 tháng Giêng với thánh Basiliô, đã thuật lại những chi tiết này.

Trong một cuộc bách hại khác, thánh nữ Macrina và chồng ngài đã bị cướp đoạt hết tài sản. Các ngài đã mất tất cả ngoại trừ lòng tin và niềm hy vọng vào sự bảo dưỡng của Thiên Chúa.

Thánh nữ Macrina sống lâu hơn người chồng của ngài; nhưng cả hai qua đời chính xác vào năm nào thì không được ghi lại. Người ta cho rằng thánh nữ Macrina mất vào khoảng năm 340. Basiliô, cháu trai của ngài, mất năm 379.

 Thánh nữ Macrina là người bà thật đáng mến. Ngài đã làm cho Basiliô và các thành viên khác trong gia đình cảm nhận được vẻ đẹp của đạo Kitô vì ngài đã thực sự sống những điều ngài nói. Chúng ta có thể nài xin thánh nữ Macrina giúp chúng ta có được bản chất Kitô giáo như ngài.

 

Ngày 15 tháng 1

Thánh Phaolô ẩn tu

Khi mất ở độ tuổi một trăm mười ba, thánh Phaolô ẩn tu có cả một quãng đời dài để nhìn về quá khứ. Chắc hẳn là lúc chết, ngài đã nhận được nhiều niềm hoan lạc và bình an. Đây là những lý do:

Thánh Phaolô sinh năm 229 trong một gia đình Công giáo. Họ sống ở vùng Têbê bên nước Ai Cập. Song thân của Phaolô đã hướng dẫn ngài cách yêu mến và tôn thờ Thiên Chúa với hết cả tâm hồn bằng chính đời sống của họ. Chắc chắn Phaolô đã rất đau buồn khi mất cả cha lẫn mẹ lúc vừa tròn 15 tuổi.

Vài năm sau, năm 250, hoàng đế Đêsiô bắt đầu bách hại Giáo hội cách tàn bạo. Phaolô đã ẩn trốn trong nhà một người bạn nhưng không được an toàn. Người anh rể chiếm giữ tiền bạc và của cải của Phaolô; anh có thể dễ dàng nộp ngài cho các nhà cầm quyền. Vì vậy, Phaolô đã rời bỏ anh để vào ẩn trong sa mạc. Phaolô tìm được một cái hang gần bên cây cọ và dòng nước ngọt. Rồi Phaolô đã định cư ở đó. Phaolô đan những lá cọ lại với nhau làm quần áo. Phaolô sống nhờ trái cây và nước uống.

Phaolô dự định chỉ lưu lại đó cho tới lúc cuộc bách hại kết thúc. Nhưng khi cuộc khủng bố chấm dứt, thánh nhân đã bị cuốn hút say mê vào đời sống cầu nguyện. Phaolô cảm thấy thật gắn bó với Thiên Chúa. Làm sao lại có thể rời bỏ nơi này được? Phaolô quyết tâm ở lại sa mạc và không bao giờ trở về với nếp sống thành thị xa hoa nữa. Thay vào đó, Phaolô sẽ dùng đời sống hằng ngày để cầu nguyện cho những nhu cầu của hết thảy mọi người và cho các tội nhân được ơn hoán cải.

Cùng lúc ấy, có một vị ẩn tu thánh thiện khác tên là Antôn. Thánh Antôn tưởng rằng mình là ẩn sĩ duy nhất. Nhưng Thiên Chúa đã tỏ cho Antôn thấy Phaolô trong một giấc mơ và bảo ngài đến thăm Phaolô.

Thánh Phaolô rất đỗi vui mừng khi gặp được Antôn vì thánh nhân biết chỉ trong vài ngày nữa mình sẽ qua đời. Phần Antôn, ngài đau đớn buồn sầu bởi không muốn mất đi người bạn mới quen biết này sớm như vậy. Và Phaolô đã về trời ngày 15 tháng Giêng năm 342 như ngài tiên báo. Antôn chôn táng ngài trong tấm áo khoác ngoài của thánh Athanasiô. Sau đó, Antôn trở về nhà và cất giữ kỹ lưỡng bộ áo quần kết bằng những chiếc lá cọ mà Phaolô đã dùng. Thánh nhân không bao giờ quên người bạn thật phi thường tuyệt vời này.

Chúng ta có thể trân trọng giữ gìn một kỷ vật, thậm chí một ký ức đẹp của một người nào đó chúng ta yêu mến mà nay đã lìa đời. Chúng ta sẽ cảm thấy điều này rất gần gũi khi gặp lại trên thiên đàng.

 

Ngày 16 tháng 1

Thánh Bêra và các bạn tử đạo

Một nhóm tu sĩ dòng Phanxicô được thánh Phanxicô Assisiô trao cho công tác đến Môrôcô. Họ có nhiệm vụ truyền bá giáo lý Kitô giáo cho những người Hồi giáo. Vì vậy năm 1219, các tu sĩ Bêra, Phêrô, Ađatô, Accusiô và Ôđô đã vượt tàu ra đi. Môrôcô là một miền đất xa xôi nằm ở phía tây bắc Phi châu. Chuyến đi thật dài ngày và nguy hiểm! Nhưng sau cùng, các ngài đã đến Sêvil, nước Tây Ban Nha và lập tức các ngài rao giảng trên các đường phố và công trường. Người ta coi các ngài như những người mất trí và họ đã bắt giam các ngài. Để khỏi bị trở về quê hương, các tu sĩ đã nói rằng họ muốn được gặp đức vua các nước Hồi giáo. Vì thế, chính phủ Sêvil đã gởi các ngài tới Môrôcô.

Vua các nước Hồi giáo đã tiếp nhận các tu sĩ và cho phép các ngài được tự do rao giảng trong thành phố. Nhưng có một số người không thích chuyện này. Họ phàn nàn với các nhà cầm quyền. Do đó, nhà vua đã cố gắng cứu các ngài bằng cách gởi các ngài đến trú ngụ ở Marakê, phía tây vùng biển Môrôcô. Có một nhà quý tộc theo đạo Công giáo và là bạn của vua các nước Hồi giáo tên là Đôm Pêrô Phécnăngđô đã đem các ngài về nhà ông. Nhưng các ngài biết sứ mệnh của mình là phải rao giảng đức tin. Vì vậy, các ngài lại trở về thành phố. Điều này đã chọc giận một số người không muốn nghe sứ điệp của các ngài. Những lời than phiền đã làm cho vua các nước Hồi giáo giận dữ đến nỗi một ngày kia khi nhìn thấy các tu sĩ đang giảng dạy, vua liền ra lệnh cho các ngài một là phải ngưng ngay lại còn không thì phải rời khỏi đất nước. Khi trình bày việc phải thực hiện một trong hai điều là bất công, các ngài liền bị xử trảm ngay tại chỗ. Hôm đó là ngày 16 tháng Giêng năm 1220.

Đôm Pêrô đến nhận xác các thánh tử đạo. Cuối cùng, ông mang di hài các ngài tới thánh đường Thánh Giá ở Cômbra, nước Bồ Đào Nha. Sứ mệnh đến Môrôcô của các tu sĩ thật vắn vỏi và bề ngoài xem có vẻ như thất bại nhưng kết quả lại thật gây ảnh hưởng. Câu truyện của những vị anh hùng này đã thắp lên trong lòng các tu sĩ dòng Phanxicô ước muốn cũng được đi truyền giáo và tử đạo. Gương chứng nhân đặc biệt của các ngài đã thôi thúc một thanh niên khao khát muốn được hiến dâng cuộc đời mình cho Thiên Chúa với danh hiệu là linh mục dòng Phanxicô. Chúng ta biết ngài chính là thánh Antôn Pađua, lễ kính ngày 13 tháng Sáu.

Chúng ta không phải lo lắng về sự thành đạt hay thất bại trong công việc chúng ta làm, miễn là chúng ta cố gắng với hết khả năng của mình. Thiên Chúa có thể dùng những nỗ lực và sự dâng hiến của chúng ta để giúp những người khác sống tốt hơn.

 

 

Ngày 17 tháng 1

Thánh Antôn Ai Cập

Thánh Antôn sinh năm 251 tại một ngôi làng nhỏ bên nước Ai Cập. Khi lên hai mươi tuổi, song thân Antôn qua đời. Họ để lại cho Antôn một gia sản lớn và giao cô em gái cho Antôn coi sóc. Antôn cảm thấy tràn ngập đau buồn và ngài đã cầu nguyện với Thiên Chúa. Dần dần, Antôn ý thức hơn về quyền năng của Thiên Chúa trong cuộc đời của ngài. Khoảng sáu tháng sau, Antôn nghe được lời này của Chúa Giêsu trong Kinh Thánh: “Hãy đi bán tất cả những gì anh có và hãy bố thí cho người nghèo; và anh sẽ có một kho tàng trên trời” (Lc 18,22). Antôn đã chiếm giữ những lời đó như một sứ điệp riêng hướng dẫn các kinh nguyện của mình. Ngài đã bán hầu hết của cải, chỉ giữ lại một phần nhỏ đủ để nuôi sống bản thân và người em gái. Rồi Antôn đem phân chia cho những người nghèo khổ hết số tiền ấy.

Sau đó, cô em gái của Antôn gia nhập nhóm các chị em sống đời cầu nguyện và chiêm niệm. Còn Antôn thì quyết định trở thành một ẩn sĩ. Ngài đã nài xin một thầy ẩn tu cao niên hướng dẫn mình về đường thiêng liêng. Antôn cũng viếng thăm những vị ẩn sĩ khác nhằm có thể học hỏi được các nhân đức nổi bật nơi mỗi vị. Rồi thánh Antôn bắt đầu đời sống cầu nguyện và sám hối riêng một mình với Thiên Chúa.

Khi được 55 tuổi, thánh Antôn xây một tu viện để giúp đỡ những người khác. Nhiều người nghe biết về danh của Antôn đã đến xin ngài những lời khuyên. Thánh nhân đã ban cho họ những lời khuyên thực tế như: “Ma quỷ sợ chúng ta khi chúng ta cầu nguyện và hy sinh. Nó cũng sợ chúng ta khi chúng ta sống khiêm tốn và nhân hậu. Nó đặc biệt khiếp sợ khi chúng ta yêu mến Chúa Giêsu thắm thiết. Nó chạy xa khi chúng ta làm dấu Thánh Giá.”

Thánh Antôn đã viếng thăm thánh Phaolô ẩn tu, là vị thánh chúng ta vừa mừng kính hôm 15 tháng Giêng. Nhờ bởi gương sáng đời sống thánh thiện của thánh Phaolô mà Antôn cảm thấy được can đảm mạnh mẽ thêm. Và rồi Antôn đã mất sau một cuộc đời dài chìm đắm trong cầu nguyện. Antôn sống thọ 105 tuổi. Thánh Athanasiô đã viết một cuốn tiểu sử nổi tiếng về thánh Antôn Ai Cập. Chúng ta sẽ mừng lễ kính thánh Athanasiô ngày 2 tháng Năm. 

Chúng ta không bao giờ nên nản lòng thất vọng khi ma quỷ cám dỗ chúng ta làm những điều sai quấy. Hãy nhớ rằng Đức Chúa Giêsu luôn luôn ở ngay bên cạnh chúng ta. Nếu chúng ta cầu nguyện, Người sẽ trợ giúp. Người sẽ ân thưởng cho tình yêu và lòng trung thành bền đỗ của chúng ta.

 

Ngày 18 tháng 1

Chân phước Christina

Chân phước Christina sống vào thế kỷ thứ mười sáu. Ngài sinh ở Abruzi, nước Ý. Tên thánh của Christina là Mátthia. Khi lớn lên, Mátthia cảm thấy Chúa gọi mình sống đời cầu nguyện và ăn năn sám hối. Ngài muốn trở nên một nữ tu dòng kín. Vì thế, Mátthia đã xin vào tu viện kín Augustinô ở Aquila và đổi tên là “sơ Christina.”

Cuộc sống của sơ Christina thật âm thầm lặng lẽ; thế nhưng người dân miền Aquila dần dà đã nhận ra vẻ đẹp ơn gọi của ngài. Christina và những chị nữ tu khác đã mang nhiều phúc lành xuống cho người dân qua hiến lễ cầu nguyện của các chị. Sơ Christina tuy đang sống trong dòng kín nhưng cũng cảm hiểu được những nhu cầu thiết yếu của các người dân nghèo cư ngụ trong vùng ấy. Sơ và các chị em đã cung cấp cho họ những thứ có thể. Chính bản thân sơ Christina cũng nhận thức được những thánh giá và những đau khổ họ phải chịu. Sơ cầu nguyện và dâng các việc đền tội lên Thiên Chúa để cầu cho những ý chỉ của họ.

Chúa Giêsu đã chúc lành cho Christina qua những lần xuất thần và ban cho ngài khả năng biết trước tương lai. Thậm chí Thiên Chúa đã dùng Christina làm nhiều phép lạ cho những người dân lành. Khi Christina qua đời, các trẻ nhỏ miền Aquila đã chạy tràn ra đường phố và hô lớn tiếng: “Chị nữ tu thánh thiện đã qua đời!” Đó là ngày 18 tháng Giêng năm 1543. Một đám đông người đã đến tỏ lòng tôn kính và cảm ơn Christina vì tặng ân sơ đã sống nơi thành phố của họ. 

Chúng ta hãy cầu xin chân phước Christina giúp chúng ta biết quý trọng lời cầu nguyện trong đời sống hằng ngày

 

Ngày 19 tháng 1

Thánh Canut

Thánh Canut là một quân vương khôn ngoan tráng kiện của nước Đan Mạch. Ngài sống vào thế kỷ thứ mười một. Canut là một vận động viên ưu tú, một tay kỵ mã cừ khôi và là một nhà chiến lược tuyệt vời.

Khởi đầu triều đại uy quyền của mình, vua Canut đã hướng dẫn một cuộc chiến chống lại những người man rợ, vì những người này đe dọa sẽ thống lãnh thế giới văn minh. Vua Canut và đội quân của ngài đã đánh bại bọn họ. Canut yêu mến đức tin Kitô giáo thật tha thiết đến nỗi ngài đã giới thiệu cho những người chưa bao giờ được nghe nói về Kitô giáo.

Thánh Canut thường quỳ gối trong thánh đường dưới chân bàn thờ và dâng cho Chúa Giêsu Vua các vua vương miện của mình. Canut rất giàu lòng khoan dung và kiên nhẫn đối với thần dân của ngài. Canut cố giúp đỡ họ giải quyết những vấn đề khó khăn. Nhưng trên tất cả, thánh vương Canut muốn giúp họ trở nên những môn đồ đích thực của Đức Chúa Giêsu.

Tuy nhiên, xảy ra có một cuộc nổi loạn chống chính quyền trong vương quốc của Canut vì những khoản luật ngài đã ban hành ủng hộ Giáo hội. Ngày kia, vài người tức giận đã đến ngôi thánh đường nơi Canut đang cầu nguyện. Canut biết họ đến hãm hại mình. Trong lúc các kẻ thù vẫn còn ở ngoài, vua Canut đã lãnh nhận các bí tích Hòa giải và Thánh Thể. Ngài cảm thương cho những người bực tức muốn giết ngài. Với tất cả tấm lòng, Canut đã tha thứ cho họ. Rồi, đang khi Canut cầu nguyện, họ đã phóng một ngọn giáo qua cửa sổ đâm thẳng vào ngài và Canut đã chết. Đó là ngày mùng 10 tháng Bảy năm 1086.

 Thánh Canut cố gắng trở nên một vị quân vương tốt đến nỗi ngài đã cám ơn Thiên Chúa vì những ơn phúc ngài được lãnh nhận. Hằng ngày chúng ta cũng hãy cảm tạ Thiên Chúa và tiến dâng Người một vương miện kết bằng những việc làm tốt hảo của chúng ta.

 

Ngày 20 tháng 1

Thánh Fabianô và thánh Sêbastianô

Thánh Fabianô là giáo hoàng tử đạo năm 250. Đó là thời bắt đạo của vua Đêsiô. Các văn gia tiên khởi đã viết rằng Fabianô là một người vĩ đại lạ thường và nổi tiếng thánh thiện. Trong một lá thư ngắn được viết sau cái chết của đức Fabianô, thánh Cyprianô đã giải thích cách thức đức Fabianô được chọn làm giáo hoàng như sau: nhóm người họp lại chọn vị giáo hoàng kế tiếp đã nhận được một dấu lạ là phải chọn Fabianô làm giáo hoàng. Fabianô là người giáo dân đầu tiên được làm giám mục, giáo hoàng và được phúc tử vì đạo. Những di tích của đức Fabianô hiện đang được lưu giữ trong vương cung thánh đường thánh Sêbastianô. Hai vị tử đạo này cùng được mừng chung một ngày lễ.

Thánh Sêbastianô trở nên rất nổi danh vào những thế kỷ đầu của Giáo hội sơ khai. Là sĩ quan Rôma, ngài được mọi người biết đến vì tấm lòng dũng cảm và tư cách tốt lành. Suốt thời kỳ bách hại của Điôclêsiô, Sêbastianô đã không chối bỏ đạo Công giáo. Những người bắn cung đã bắn các mũi tên vào thân xác Sêbastianô và bỏ ngài chết ở đó. Khi một bà góa thánh thiện đến táng xác Sêbastianô, bà rất kinh hoàng vì thấy ngài vẫn còn sống. Bà liền đưa Sêbastianô về nhà và băng bó các vết thương cho ngài. Rồi khi Sêbastianô bình phục, bà đã thuyết phục ngài trốn thoát cho khỏi những nguy hiểm của Rôma. Nhưng Sêbastianô là một sĩ quan gan dạ. Ngài không đào tẩu. Thậm chí ngài đã tiến lại gần Điôclêsiô và can đảm thuyết phục vua phải ngưng ngay việc bách hại những tín hữu Công giáo.

Nhà vua hoảng hồn khi nhìn thấy Sêbastianô vẫn còn sống. Ông không nghe những điều người sĩ quan nói và đã ra lệnh đánh đòn cho đến khi Sêbastianô tắt thở. Thánh nhân qua đời năm 228.

Thánh Fabianô là giáo hoàng và thánh Sêbastianô là binh sĩ. Các ngài dạy chúng ta rằng Chúa Giêsu yêu thương từng người chúng ta vừa khi chúng ta có mặt trên thế gian này. Như hai thánh Fabianô và Sêbastianô, mỗi người chúng ta cũng có một món quà để trao ban. Món quà ấy là thực hiện vai trò trách nhiệm lớn lao như Fabianô hoặc là một sĩ quan dâng hiến như Sêbastianô. Nhưng điều quan trọng là phải trao ban hoàn toàn như gương sống của các ngài.

 

Ngày 21 tháng 1

Thánh Annê

Thánh Annê là một thiếu nữ Rôma qua đời năm 304. Ngài chịu tử đạo vì đức tin khi mới mười hai tuổi. Thánh nữ Annê được rất nhiều người biết đến dù lịch sử chỉ kể lại được vài chi tiết về ngài. Điều này thật cá biệt vì thánh Ambrôsiô và các vị thánh thời danh khác trong Giáo hội sơ khai đã viết về đời sống của thánh nữ. Annê yêu mến Đức Chúa Giêsu cách tha thiết đến nỗi thánh nữ chỉ chọn Đức Chúa Giêsu làm bạn trăm năm của mình. Nhiều chàng thanh niên lúc ấy ao ước được kết hôn với Annê vì thánh nữ có sắc đẹp. Tuy vậy, Annê chỉ muốn dâng hiến trái tim của thánh nữ cho một mình Đức Chúa Giêsu. Annê luôn luôn nói rằng: “Chỉ mình Giêsu là hôn phu của tôi!” Ngài đã từ chối kết hôn với con trai của một vị thống đốc và việc này làm cho ông rất bực mình. Ông đã cố gắng thuyết phục Annê chấp nhận làm vợ của ông bằng những tặng vật và những lời hứa hẹn. Nhưng Annê vẫn nhất mực trả lời ông rằng: “Tôi đã đoan hứa với Thiên Chúa rồi!”

Thánh nữ Annê bị buộc tội là tín hữu Công giáo và người ta đã đem ngài đến với nhà cầm quyền. Nhà cầm quyền hứa ban tặng Annê những món quà đẹp nếu chối bỏ Thiên Chúa. Nhưng thánh nữ đã từ chối. Rồi, nhà cầm quyền lại cố gắng làm cho Annê hoảng sợ bằng cách trói ngài lại. Annê vẫn không chịu khuất phục. Thánh nữ còn phải chịu nhiều cực hình tra tấn khác nữa. Sau cùng, Annê đã bị kết án và bị giết.

Thánh nữ Annê được chôn cất trong một nghĩa trang cùng mang tên với ngài (nghĩa trang Annê). Năm 354, con gái của hoàng đế Constantinô đã xây một ngôi thánh đường lớn ở đó và đã cho đặt thi hài của thánh nữ Annê bên dưới bàn thờ.

Thánh nữ Annê đã có những quyết định anh hùng và đã kiên tâm thực thi những quyết định ấy. Annê làm được việc này bởi ngài đã đặt Đức Chúa Giêsu làm trung tâm cuộc đời niên thiếu của ngài. Thánh nữ xin Thiên Chúa ban cho sức mạnh để sống trung thực với lời cam kết Kitô giáo của ngài. Chính tình yêu Chúa đã ban cho thánh nữ Annê sức mạnh cần thiết. Chúng ta hãy nài xin thánh nữ Annê ban cho sự can đảm và lòng yêu mến Đức Chúa Giêsu.

 

Ngày 22 tháng 1

Thánh Vinhsơn Saragôsa

Thánh Vinhsơn Saragôsa chịu tử đạo ở Tây Ban Nha năm 304, cùng năm với thánh nữ Annê chịu tử đạo ở Rôma. Cả hai vị thánh đều là những nạn nhân của cuộc bách hại dã man của vua Đasiô.

Thánh Vinhsơn sinh trưởng ở miền Saragôsa, nước Tây Ban Nha. Ngài được thánh giám mục Valêriô dạy dỗ và được nhận chức phó tế. Thậm chí dù khi Vinhsơn còn rất trẻ, Valêriô cũng nhận ra được những tài năng và đức tính quý báu nơi ngài. Giám mục Valêriô đã mời ngài giảng dạy các môn học về Chúa Giêsu và về Giáo hội.

Vua Đasiô đã bắt cả Valêriô lẫn Vinhsơn Saragôsa. Ông giam giữ các ngài suốt một thời gian dài nhưng cả hai đã không để cho tinh thần mình sa sút. Cả hai vẫn tin tưởng vào Đức Chúa Giêsu. Rồi, nhà vua trục xuất Valêriô nhưng ông lại dùng nhục hình dã man để tra tấn Vinhsơn.

Thánh Vinhsơn Saragôsa nài xin Chúa Thánh Linh ban thêm sức mạnh. Ngài muốn trung thành với Đức Chúa Giêsu dù phải chịu những khổ hình khủng khiếp. Và Thiên Chúa đã ban cho ngài sức mạnh. Thầy phó tế Vinhsơn vẫn bình an trong tất cả mọi đau khổ. Khi những cuộc hành hình tra tấn kết thúc, Vinhsơn được trở về nhà giam nơi ngài đã làm cho một người cai tù ăn năn trở lại. Sau cùng, nhà vua đành nhượng bộ và cho phép giáo dân vào thăm Vinhsơn. Các Kitô hữu đến băng bó vết thương cho ngài. Họ cố gắng làm cho Vinhsơn được thoải mái. Ít lâu sau, Vinhsơn Saragôsa qua đời.

 Thánh Vinhsơn Saragôsa vẫn vững vàng can đảm trong suốt cuộc bách hại nhờ ảnh hưởng của Valêriô, vị giám mục thánh thiện. Vinhsơn Saragôsa đã học được ở nơi vị giám mục này cách thức để trở thành người môn đệ của Đức Chúa Giêsu. Thánh Vinhsơn Saragôsa sẽ giúp chúng ta nhận biết và dõi theo gương sáng của tha nhân nếu chúng ta cầu xin ngài.

 

Ngày 23 tháng 1

Thánh Gioan bố thí

Thánh Gioan là một nhà quý tộc trung thành với Kitô giáo. Ngài đã dùng của cải và địa vị của mình để giúp đỡ những người nghèo khó. Sau khi người vợ qua đời, Gioan trở thành linh mục, rồi giám mục. Năm 608, Gioan được tấn phong làm thượng phụ giáo chủ thành Alêxanđria bên Ai Cập. Người ta có thể kỳ vọng gì nơi vị giáo chủ này, là người hiện đang nắm giữ một vị thế quan trọng? Thánh Gioan khi lãnh nhận chức vụ mới đã tập trung vào việc hàn gắn những mối chia rẽ giữa các Kitô hữu. Chính ngài đã nài xin mọi người thực hành một “đức bác ái không biên giới.” Việc đầu tiên Gioan làm là xin một danh sách liệt kê đầy đủ những “chủ nhân” của ngài. Người ta xin Gioan cho biết lý do, và ngài ám chỉ về những người nghèo khổ. Khi tổng kết lại, số người dân nghèo trong vùng Alêxanđria có khoảng 7500 người. Và thánh Gioan đã tự nhận làm người bảo trợ mạng sống của họ.

Với tư cách là thượng phụ giáo chủ, thánh Gioan công bố những khoản luật và ấn hành chính sách canh tân. Ngài có tấm lòng khoan dung và đáng kính nhưng rất cương quyết vững vàng. Gioan đã bỏ ra hai ngày trong tuần, thứ Tư và thứ Sáu, để tiếp chuyện những người ước ao muốn gặp ngài. Họ xếp hàng và nhẫn nại chờ đợi đến lượt mình. Một số người thì giàu có, số khác nghèo khổ và vô gia cư. Nhưng mọi người đều được lãnh nhận cùng một sự ưu ái quan tâm và nhã nhặn lịch thiệp của Gioan.

Khi nhận biết trong ngân quỹ của Giáo hội còn tám mươi ngàn lượng vàng, thánh Gioan liền phân phát hết thảy cho các bệnh viện và tu viện. Ngài đã lập ra một quỹ từ thiện để nhờ đó những người nghèo khổ có thể nhận được số tiền tương xứng và những phương tiện cần thiết để chu cấp cho bản thân cũng như gia đình của họ. Những người tỵ nạn từ khắp các vùng lân cận cũng được tiếp đón cách nồng hậu. Sau khi những người Ba Tư cướp phá Giêrusalem, thánh Gioan đã gởi tiền bạc và những tiếp tế cần thiết cho các nạn nhân đau khổ. Thậm chí Gioan còn gởi những công nhân Ai Cập xuất sắc đến giúp khôi phục lại các ngôi thánh đường ở đó.

Khi dân chúng muốn biết làm thế nào mà thánh Gioan đã có thể quá vị tha và giàu lòng quảng đại đến như vậy, thì thánh nhân trả lời nghe có vẻ rất ngỡ ngàng: Một ngày kia lúc còn trẻ, Gioan đã nằm mộng. Ngài thấy một cô bé xinh đẹp và nhận ra cô chính là biểu hiện của “Lòng Bác Ái.” Cô bé nói với Gioan: “Tôi là nàng công chúa vĩ đại nhất của đức vua. Nếu ngài tin tưởng tôi, tôi sẽ dẫn ngài đến với Đức Chúa Giêsu. Không ai có quyền thế nơi Người như tôi. Hãy nhớ rằng chính vì tôi mà Người đã hóa nên một trẻ thơ để cứu rỗi nhân loại!” Thánh Gioan không bao giờ cảm thấy chán khi nói về thị kiến này. Ngài dịu dàng khuyên bảo những người giàu hãy có tấm lòng khoan dung rộng lượng. Ngài khuyên những người nghèo khổ hãy biết tín thác vào Thiên Chúa là Đấng luôn luôn hiện diện ở đó và đang sẵn lòng cứu giúp họ.

Thánh Gioan qua đời cách an bình thánh thiện vào ngày 11 tháng Mười Một năm 619. Vì lòng bác ái lớn lao mà Gioan được gọi là “người hay bố thí.” 

Đôi khi chúng ta dễ bị cám dỗ phải chiếm cho được “địa vị đứng đầu.” Khi có những tư tưởng và thái độ như thế, chúng ta hãy cầu xin với thánh Gioan bố thí. Chúng ta hãy nài xin thánh nhân san sẻ cho chúng ta tấm lòng bao dung quảng đại của ngài.

 

Ngày 24 tháng 1

Thánh Phanxicô Salêsiô

Thánh Phanxicô sinh ngày 21 tháng Tám năm 1567 tại lâu đài Salêsiô ở Savoy, nước Pháp. Gia đình giàu có của Phanxicô đã lo liệu cho ngài ăn học thành tài. Năm lên 24 tuổi, Phanxicô Salêsiô đỗ Tiến sĩ luật. Sau đó, ngài trở về Savoy và làm việc hết sức cần mẫn. Dường như Phanxicô Salêsiô chẳng màng chi đến những địa vị quan trọng hay đời sống xã hội gì. Trong tâm hồn, ngài nghe thấy tiếng gọi “hãy trở về” như một lời vang vọng nào đó bên tai. Hình như đó là lời Thiên Chúa đang mời gọi ngài hãy trở nên một linh mục. Cuối cùng, Phanxicô Salêsiô đã cố gắng trình bày tình trạng chiến đấu nội tâm của mình cho gia đình biết. Nhưng thân phụ ngài rất đỗi thất vọng. Ông muốn Phanxicô của ông trở thành một vĩ nhân của thế giới. Ảnh hưởng của gia đình hẳn đã làm cho Phanxicô Salêsiô có thể thực hiện được mục tiêu này, nhưng thay vào đó, Phanxicô Salêsiô đã trở nên một linh mục ngày 18 tháng Mười Hai năm 1593.

Linh mục Salêsiô sống trong thời kỳ các tín hữu bị chia rẽ hết sức gay gắt. Ngài đã tình nguyện đi tới một nơi nguy hiểm nhất của nước Pháp để thuyết phục những tín hữu Công giáo theo phái Thệ phản trở về. Thân phụ ngài phản đối. Ông nói rằng ông đã quá ân hận khi cho phép Phanxicô làm linh mục; giờ đây ông sẽ không để cho Phanxicô phải chịu tử đạo nữa. Nhưng Phanxicô Salêsiô tin tưởng Thiên Chúa sẽ bảo vệ mình. Ngài và người cậu, cha Luy Salêsiô, đã trẩy bộ đến Đuchi Cablais. Hai linh mục sớm hòa nhập được lối sống với những bất tiện vật chất và những lời nguyền rủa xúc phạm đến phẩm giá của mình. Cuộc sống các ngài thường xuyên bị những nguy hiểm đe dọa. Tuy nhiên, giáo dân đã lần lượt trở về với Giáo hội.

Sau cùng, Phanxicô Salêsiô trở thành giám mục giáo phận Giơnêva, Thụy Sĩ. Năm 1610, với sự trợ giúp của thánh nữ Giăng Săngtan, thánh Phanxicô Salêsiô đã thiết lập một dòng tu dành cho các chị em. Người ta gọi những nữ tu này là các Chị Dòng Thăm Viếng. Phanxicô Salêsiô viết nhiều sách rất giá trị về đời sống nội tâm và cách thức nên thánh. Những sách Chuyên luận về tình yêu Thiên Chúa và Dẫn vào đời sống đạo đức hiện vẫn đang còn được tái bản. Chúng được coi như những “tác phẩm lưu danh” dạy đàng nhân đức.

Giám mục Phanxicô Salêsiô mất ngày 28 tháng Mười Hai năm 1622, thọ năm mươi sáu tuổi. Ngài được đức thánh cha Innôcentê X tôn phong hiển thánh năm 1665; và được ban tặng danh hiệu đặc biệt “Tiến sĩ Hội Thánh” vì sự tận hiến anh hùng của ngài đối với Giáo hội. Ngài cũng là thánh quan thầy của các nhà báo.

 Chúng ta có thể học được rất nhiều kinh nghiệm nơi vị thánh đặc biệt này. Thánh Phanxicô Salêsiô nói rằng mỗi người chúng ta có thể làm được nhiều việc tốt trong cuộc đời của mình. Chúng ta hãy nài xin thánh Phanxicô Salêsiô giúp chúng ta biết lắng nghe tiếng Chúa và tin cậy vào sự trợ giúp của Người.

 

Ngày 25 tháng 1

Cuộc trở lại của thánh Phaolô

Thánh Phaolô sống cùng thời với Đức Chúa Giêsu. Nhưng như chúng ta biết, các ngài chưa bao giờ gặp mặt nhau. Lúc đầu, Phaolô có tên là Saolô. Khi còn trẻ, ngài là một sinh viên sáng dạ thông minh sống theo đạo luật Dothái. Lớn lên, Phaolô bách hại những người đi theo Đức Chúa Giêsu.

Chúng ta đọc thấy cuộc trở lại thật ngạc nhiên của Saolô (nơi những chương 9, 22, 26) trong sách Tông đồ Công Vụ. Điều gì đã xảy ra? Vào một ngày kia, đang lúc Phaolô hành trình tới thành Đamát để lùng bắt nhiều Kitô hữu hơn, thình lình một luồng sáng lớn chiếu thẳng vào ngài. Khi té xuống đất, Saolô nghe thấy một giọng nói: “Saolô, Saolô, sao ngươi bách hại ta?” Saolô trả lời: “Thưa Ngài, Ngài là ai?” Và giọng nói ấy đáp: “Ta là Giêsu, Người mà ngươi đang bách hại!” Saolô kinh ngạc và bối rối. Sau vài giây, Saolô hỏi: “Ngài muốn tôi làm gì?” Chúa Giêsu đáp: “Hãy đi tới Đamát và ở đó ngươi sẽ biết phải làm gì!”

Ngay chính giờ phút ấy, nhờ quyền năng của Thiên Chúa, Saolô đã được hồng ân tin nhận Đức Chúa Giêsu. Yếu ớt và run sợ, Saolô xin các đồng bạn của ngài giúp đỡ. Họ đã dẫn Saolô vào thành Đamát. Ánh sáng khi nãy đã làm lóa mắt Saolô. Giờ đây, chính trong lúc mù quáng mà Saolô có thể “nhìn thấy” sự thật. Và Chúa Giêsu đã đích thân gặp gỡ Saolô, mời gọi Saolô hoán cải cuộc đời. Saolô trở nên người yêu đặc biệt của Đức Chúa Giêsu. Sau khi chịu phép Thanh tẩy, Saolô chỉ suy tưởng đến việc giúp cho mọi người nhận biết và yêu mến Đức Chúa Giêsu, Đấng Cứu Chuộc.

Chúng ta biết được Saolô là nhờ bởi tên gốc tiếng Rôma của ngài: Phaolô. Ngài được gọi là “tông đồ.” Ngài đi khắp nơi rao giảng Tin mừng. Ngài đã làm cho rất nhiều người nhận biết và tin theo Đức Chúa Giêsu. Phaolô đã làm việc và chịu đau khổ vì Chúa. Nhiều lần những kẻ thù đã cố tìm cách giết ngài; nhưng không gì có thể ngăn cản được Phaolô. Lúc về già, có lần ngài bị tống giam và bị tuyên án tử, nhưng thánh Phaolô vẫn vui sướng chịu đựng cho dù phải chết vì Chúa Kitô.

Vị tông đồ cao cả này đã viết nhiều thư rất hay cho các tín hữu. Những thư này trong Kinh Thánh được gọi là những thánh thư, được trích đọc ở phần phụng vụ lời Chúa trong thánh lễ.

Sự trở lại của thánh Phaolô tông đồ rất quan trọng cho đời sống của Giáo hội. Chúng ta được nhắc nhớ rằng Thiên Chúa cũng đang kiếm tìm chúng ta. Người tìm chúng ta dọc theo con đường Đamát của mỗi người. Người mời gọi chúng ta hãy từ bỏ mọi sự trong cuộc sống để chỉ giữ lại mình Người. Chúng ta có nhận ra Người như Phaolô đã nhận ra không? Chúng ta có sẵn lòng trở nên những môn đệ đích thực của Đức Chúa Giêsu như thánh Phaolô không? Chúng ta hãy nài xin thánh Phaolô giúp đỡ chúng ta.

 

Ngày 26 tháng 1

Thánh Timôthêô và thánh Titô

Ngoài việc là những thánh nhân và là những giám mục trong Giáo hội sơ khai, Timôthêô và Titô còn có vài điểm giống nhau nữa. Cả hai đều nhận lãnh ơn đức tin do lời rao giảng của thánh Phaolô.

Thánh Timôthêô sinh ở Lycaonia thuộc vùng Tiểu Á. Thân mẫu ngài là người Dothái và thân phụ ngài là người dân ngoại. Khi Phaolô đến Lycaonia giảng dạy thì Timôthêô, thân mẫu và bà ngoại của ngài, tất cả đều được trở nên những Kitô hữu. Sau nhiều năm, Phaolô trở lại và nhận thấy Timôthêô đã khôn lớn. Phaolô cảm thấy Chúa muốn gọi Timôthêô làm tông đồ truyền giáo cho Chúa nên đã mời Timôthêô cộng tác với mình rao giảng Tin mừng. Sau đó, Timôthêô rời bỏ cha mẹ, nhà cửa và đi theo Phaolô. Ngài cùng chia sẻ đau khổ với Phaolô. Các ngài vui mừng ra đi mang lời Chúa đến cho mọi người. Timôthêô là tông đồ yêu quý đặc biệt của Phaolô; và Phaolô xem ngài như đứa con nhỏ của mình. Timôthêô đã cùng Phaolô đi khắp nơi cho tới khi được đặt làm giám mục thành Êphêsô. Rồi Timôthêô ở đó coi sóc đoàn chiên của ngài. Như Phaolô, Timôthêô cũng được phúc tử đạo.

Thánh Titô là người ngoại giáo. Ngài cũng là môn đệ của Phaolô. Titô có tâm hồn quảng đại và đức tính chăm chỉ. Ngài rất vui sướng khi được cùng với Phaolô rao giảng Tin mừng trong những chuyến mục vụ. Vì Titô rất đáng tín nhiệm nên Phaolô đã trao phó cho ngài “công việc rao giảng” cho các cộng đồng Kitô hữu. Titô giúp họ kiện toàn đức tin trong Chúa Giêsu Kitô. Ngài có thể kiến tạo hòa bình khi có những cuộc cãi vã hoặc tranh chấp giữa các tín hữu. Titô có ơn đặc biệt trong việc hòa giải. Phaolô rất quý trọng ơn này nơi Titô và ngài chân nhận đó là công việc của Chúa Thánh Linh. Ngài hay sai Titô đi dàn xếp những vấn đề khó khăn. Khi Titô xuất hiện giữa những Kitô hữu đang bất bình cãi vã nhau, thì họ liền hối hận và lại làm hòa. Họ xin Titô tha thứ và hứa sẽ đền bù những thiệt hại đã gây ra cho nhau. Khi hòa bình được tái lập, Titô trở về và thuật lại cho Phaolô nghe những thành quả tốt đẹp. Điều này đã làm cho Phaolô và những Kitô hữu tiên khởi vui mừng hạnh phúc.

Thánh Phaolô đã đặt Titô làm giám mục vùng quần đảo Crêta, nơi ngài định cư cho tới khi qua đời.

 Thánh Timôthêô và thánh Titô đã dâng hiến cả cuộc đời, thời giờ và sức lực của mình cho Chúa Giêsu. Các ngài là những môn đệ đích thực của thánh Phaolô. Người ta rất dễ không mộ mến vì quá quen hoặc không để tâm đến những người như vậy. Hôm nay chúng ta hãy cầu nguyện cho hết thảy mọi người đang rao giảng Tin mừng như Phaolô, Timôthêô và Titô.

 

 

Ngày 27 tháng 1

Thánh Angiêla Merisi

Thánh nữ Angiêla Merisi được sinh ra trong thị trấn nhỏ Đêsenzanô bên nước Ý, vào khoảng năm 1474. Khi Angiêla lên 10 thì song thân qua đời. Angiêla và người chị gái lớn hơn ngài ba tuổi rất thương nhau. Một người chú họ giàu có đã đem hai chị em về nhà nuôi dưỡng. Đang khi sầu khổ vì sự ra đi của song thân, Angiêla lại phải chịu thêm một nỗi buồn nữa là người chị gái thân yêu của Angiêla cũng lìa đời. Chị đã ra đi trước khi linh mục đến ban các phép sau cùng. Angiêla lo lắng cho phần rỗi của chị. Nhưng Chúa Giêsu đã hiện ra mạc khải cho Angiêla biết người chị đã được cứu độ. Angiêla cảm thấy tâm hồn tràn ngập bình an. Thánh nữ tạ ơn Thiên Chúa. Rồi Angiêla muốn làm một điều gì đó để tỏ bày lòng biết ơn này. Và ước muốn này đã khiến Angiêla đoan hứa sẽ dùng hết phần đời còn lại của mình để hoàn toàn phục vụ Đức Chúa Giêsu.

Khi lên 22 tuổi, Angiêla quan sát và nhận thấy các trẻ em trong thị trấn của ngài được hiểu biết quá ít về đạo giáo. Vì thế, Angiêla đã mời vài người bạn nữa cộng tác với mình tổ chức giảng dạy các lớp giáo lý. Tuy nhiên, các bạn của Angiêla rất băn khoăn lo ngại trong việc giúp đỡ các trẻ em.

Lúc đó, chưa có những nữ tu viện dành cho các chị em và cũng chẳng có ai đã từng nghĩ đến chuyện này bao giờ. Thánh nữ Angiêla Merisi là người đầu tiên đã tụ họp một nhóm chị em và mở các trường dạy trẻ. Vào ngày 25 tháng Mười Một năm 1535, hai mươi tám chị em đã tận hiến cuộc đời mình cho Thiên Chúa. Họ tuân giữ luật dòng thánh Ursula. Angiêla đặt hội dòng dưới sự bảo trợ của thánh Ursula. Đây là lý do họ có được danh hiệu đó. Thoạt đầu, các chị đã cư ngụ tại nhà quê của mình. Bởi có nhiều khó khăn nên phải trải qua một thời gian dài sau họ mới có thể cùng được chung sống trong tu viện. Thánh nữ Angiêla Merisi mất vào ngày 27 tháng Giêng năm 1540 khi hội dòng của ngài vừa được phôi dựng. Lòng cậy trông phó thác nơi Thiên Chúa đã giúp Angiêla vượt qua những khó khăn thử thách trong cuộc sống. Ngài không hồ nghi gì về việc Thiên Chúa sẽ quan phòng lo liệu cho công việc ngài đã khởi sự. Và Thiên Chúa đã thực hiện.

Các nữ tu dòng thánh Ursula đã có mặt tại nhiều quốc gia. Hội dòng hiện vẫn tiếp tục hoạt động cho Đức Chúa Giêsu và Giáo hội của Người; nhất là việc giáo dục các trẻ em và các thanh thiếu niên. Năm 1807, đức thánh cha Piô VI đã phong thánh cho Angiêla.

 Thánh nữ Angiêla Merisi nhắc nhở chúng ta rằng những sự khó và những chán nản thất vọng có thể giúp chúng ta nhận ra những nỗi đau thương nơi người khác. Khi chúng ta sẵn lòng vươn tay ra, Thiên Chúa sẽ dùng chúng ta để thực hiện những công việc phi thường của Người. Chúng ta hãy nài xin thánh nữ Angiêla Merisi giúp chúng ta biết cách tỏ lòng tế nhị và xót thương đối với tha nhân.

 

 

Ngày 28 tháng 1

Thánh Tôma Aquinô

Thánh Tôma Aquinô sống vào thế kỷ thứ mười ba. Ngài là con trai của một gia đình quí tộc người Ý. Tôma rất thông minh nhưng chẳng bao giờ ngài khoe khoang về điều đó. Tôma biết tri thức của mình là ân huệ Thiên Chúa ban. Tôma có tất cả chín anh chị em (gia đình Tôma gồm mười một người tất cả). Song thân Tôma hy vọng rằng một ngày kia Tôma sẽ trở thành đan viện phụ dòng Bênêđictô. Lâu đài của gia đình Tôma tọa lạc ở Rôca Sêca, phía bắc núi Casinô nơi các đan sĩ lưu ngụ.

Khi lên sáu tuổi, Tôma Aquinô được gởi đến đan viện để học hành. Lên mười tám, Tôma đến Napôli để hoàn tất việc học. Ở đó, ngài đã gặp một nhóm tu sĩ dòng Đa Minh; và thánh Đa Minh, đấng sáng lập dòng, hiện vẫn còn sống. Tôma biết rõ mình muốn trở thành một linh mục. Ngài cảm thấy mình được kêu gọi gia nhập vào nhóm các tu sĩ Đa Minh này, là những người rất nổi tiếng trong việc thuyết giáo. Khi biết được chuyện, song thân Tôma rất giận dữ. Trên đường sang Paris để học, Tôma Aquinô đã bị các anh ngài bắt cóc. Họ giam hãm Tôma như tù nhân tại một trong các lâu đài của họ hơn một năm trời. Trong thời gian đó, họ đã dùng mọi cách thế để làm cho Tôma thay đổi ý định. Một trong các cô em gái của Tôma cũng đến thuyết phục Tôma bỏ ơn kêu gọi. Nhưng thánh Tôma đã nói cho em nghe về niềm vui khôn tả khi được phục vụ Thiên Chúa một cách hấp dẫn thú vị đến nỗi cô em cũng thay đổi luôn ý hướng. Cô quyết định đi tu dâng mình cho Thiên Chúa. Sau mười lăm tháng, cuối cùng, Tôma cũng được hoàn toàn tự do để theo đuổi lý tưởng của mình.

Thánh Tôma Aquinô có biệt tài viết sách về Thiên Chúa đến nỗi khắp nơi trên thế giới và trải qua nhiều thế kỷ người ta đã sử dụng sách vở của ngài. Các bài giảng thuyết về Thiên Chúa và về đức tin của Tôma xuất phát từ tấm lòng yêu mến Thiên Chúa hết sức nồng nàn. Tôma rất gây ấn tượng vì ngài không cố ý tạo ảnh hưởng của mình trên bất cứ ai. Với trọn cả con tim, Tôma chỉ muốn hiến dâng đời sống mình phục vụ Chúa Giêsu và Giáo hội. Thánh Tôma Aquinô là một trong các vị Tiến sĩ thời danh nhất của Giáo hội Công giáo.

Vào khoảng cuối năm 1273, đức thánh cha Grêgôriô X đã triệu vời Tôma Aquinô đến tham dự cuộc hội nghị quan trọng của Giáo hội, tức Công đồng Liông. Trên đường tới cuộc họp, Tôma Aquinô đã ngã bệnh. Ngài phải nghỉ lại nơi một tu viện ở Fossanôva bên nước Ý; và Tôma Aquinô đã qua đời tại đây vào ngày mùng 7 tháng Ba năm 1274, hưởng thọ bốn mươi chín tuổi. Tôma Aquinô được đức thánh cha Bênêđictô XI phong thánh năm 1323.

 Tất cả việc học hành, viết sách hay giảng dạy không phải là điều làm cho Tôma Aquinô nên thánh. Ngài trở nên một vị thánh là do sự chăm chỉ làm mọi việc với lòng kính mến Thiên Chúa. Nếu chúng ta cầu xin với thánh Tôma Aquinô, chúng ta sẽ được ngài trợ giúp.

 

 

Ngày 29 tháng 1

Thánh Gilđa

Vị thánh này được sinh vào khoảng năm 500 tại nước Anh. Lúc còn trẻ, Gilđa đã bắt đầu thực tập lối sống hy sinh, vị tha. Ngài làm điều này nhằm giúp bản thân sống kết hợp mật thiết hơn với Thiên Chúa. Gilđa rất nghiêm túc thực hiện những lời cam kết của mình. Ngài cảm thấy phải có trách nhiệm cầu nguyện và hy sinh cho các tội nhân sống trong thời đại của ngài. Gilđa viết những bài giảng thúc giục người ta bỏ đàng tội lỗi. Ngài hối thúc họ hãy từ bỏ đời sống xấu xa. Vì lòng ao ước điều thiện quá mãnh liệt nên những bài viết của Gilđa đôi lúc có vẻ như quá khe khắt. Thật ra, Gilđa chẳng có ý lên án ai mà chỉ van xin người ta trở về với Thiên Chúa mà thôi!

Thánh Gilđa là người có tinh thần tu đức sống đời ẩn khuất. Gilđa chọn lối sống thinh lặng, cầu nguyện vì ngài muốn trốn thoát khỏi thế giới ồn ào náo nhiệt. Gilđa chọn cách sống ấy vì nó giúp ngài dễ dàng kết hợp mật thiết hơn với Thiên Chúa. Ngài nhận thức được những điều sai trái, không phù hợp với đạo đức ở trong xã hội hơn những người bình thường. Đáng tiếc thay nhiều người đã không nhận biết đủ về Thiên Chúa và những quy luật của Gilđa. Thậm chí họ không nhận ra tội lỗi đang hủy hoại tâm hồn họ. Đó là lý do nhiều người trong Giáo hội – các linh mục, giám mục và giáo dân – đã đến xin Gilđa chỉ dạy về những vấn đề thiêng liêng.

Về cuối đời, Gilđa sống ẩn khuất trên một đảo nhỏ ở nước Anh. Các môn đệ của Gilđa cũng theo ngài đến đó dù ngài muốn được ở riêng một mình để dọn tâm hồn về với Chúa. Gilđa đã ân cần tiếp đón họ như một dấu chỉ Thiên Chúa muốn ngài chia sẻ những ân phúc thiêng liêng cho các linh hồn.

 Thánh Gilđa giống như “lương tâm” của xã hội. Đôi khi chúng ta không thích nghe nói về những điều xấu nhưng điều xấu lại hiện diện thật sự. Đôi khi chúng ta cũng bị cám dỗ làm điều xấu hoặc sống chểnh mảng thờ ơ. Những lúc như thế chúng ta hãy đơn sơ cầu nguyện cùng thánh Gilđa. Hãy nài xin thánh nhân ban cho chúng ta nghị lực để dám thực hiện những điều tốt lành

 

Ngày 30 tháng 1

Thánh Batiđi

Câu truyện bắt đầu vào khoảng năm 630. Một cô bé Công giáo người Anh rất hoảng hốt lo sợ không thể tưởng tượng được tương lai của mình sẽ ra thế nào. Điều cô biết được là cô đã bị bắt cóc và hiện đang ở trên một chiếc tàu của bọn cướp biển. Cô đang đi đâu? Cô có thể hỏi ai được? Sau cùng, tàu cập bến và cô bé nghe người ta nói là họ đang ở trên nước Pháp. Người ta đã nhanh chóng bán cô bé Batiđi như một nô lệ cho ông quản đốc lâu đài của vua Clôvít.

Phần còn lại của câu truyện thật giống hệt như chuyện thần tiên Xinđơren, ngoại trừ một điều là truyện này có thực. Cô bé lặng lẽ để ý nghe những điều người ta cắt nghĩa cho cô. Ngày qua ngày, cô đã làm hết công việc này đến công việc nọ cách rất tốt đẹp. Cô có tính e thẹn và dịu dàng đến nỗi ngay cả vua Clôvít cũng bắt đầu để ý đến cô. Vua càng chú ý quan sát thì càng bị gây ấn tượng. Cô gái này sẽ là một người vợ đảm đang tuyệt vời, thậm chí sẽ là vợ của vua được chăng? Và vào năm 649, Clôvít đã kết hôn với Batiđi. Thật lạ lùng! Cô bé mới ngày nào là một nô lệ mà nay đã trở thành một bà hoàng! Họ có tất cả với nhau ba người con trai. Rồi Clôvít qua đời khi đứa con lớn nhất mới được năm tuổi, vì thế Batiđi đã đứng ra cai trị nước Pháp cho tới khi các con của ngài khôn lớn.

Dường như người ta đã phải hoàn toàn ngạc nhiên trước tài lãnh đạo khôn khéo của Batiđi. Ngài nhớ rất rõ về quãng đời nghèo khó của mình, những ngày bị bán làm nô lệ, một thứ “nô lệ rẻ tiền.” Batiđi muốn mọi người biết rằng họ thật quý giá chừng nào đối với Thiên Chúa. Với lòng yêu mến Chúa Giêsu và Giáo hội, Batiđi đã dùng địa vị của mình để giúp đỡ Giáo hội hết sức có thể. Ngài không yêu sách hay tự hào gì về điều đó. Hơn nữa, Batiđi quan tâm săn sóc những người nghèo khổ. Batiđi cũng bảo vệ cho người dân thoát khỏi cảnh bị bắt giữ hoặc bị xử tệ như những nô lệ. Batiđi đã cho xây nhiều bệnh viện trên nước Pháp. Ngài cũng lập một chủng viện để đào tạo các linh mục và một tu viện dành cho các nữ tu. Sau cùng, chính hoàng hậu Batiđi cũng vào ẩn mình trong tu viện. Khi làm nữ tu, Batiđi đã bỏ qua một bên địa vị hoàng tộc của mình. Batiđi cố gắng trở nên một nữ tu thật khiêm tốn và vâng phục. Ngài không bao giờ đòi hỏi điều gì và cũng chẳng trông mong người khác phục vụ mình. Batiđi rất dịu dàng và tử tế với những người đau ốm. Khi yếu bệnh, Batiđi đã can đảm chịu đựng trong suốt quãng thời gian dài cho tới khi qua đời vào ngày 30 tháng Giêng năm 680.

 Cuộc đời của hoàng hậu Batiđi cho chúng ta thấy mỗi ngày là một khởi đầu mới. Nó có thể đem đến những điều ngạc nhiên kỳ thú. Vì thế, khi e ngại không biết điều gì sẽ xảy ra, chúng ta hãy cầu xin thánh nữ Batiđi hướng dẫn cho biết cách tin cậy vào Thiên Chúa.

 

Ngày 31 tháng 1

Thánh Gioan Bôscô

Thánh Gioan Bôscô sinh ngày 16 tháng Tám năm 1815 tại Turinô, nước Ý. Song thân của ngài là những nông dân nghèo khó. Khi Gioan lên 2 thì thân phụ qua đời. Thân mẫu Gioan phải cố gắng hết sức để nuôi cả gia đình. Vừa đến tuổi khôn lớn, Gioan Bôscô đã phải làm việc vất vả để giúp đỡ mẹ. Ngài là người thông minh và đầy tràn sức sống. Rồi Gioan bắt đầu nghĩ đến việc đi tu làm linh mục. Ngài không dám nói điều đó với mẹ vì biết gia đình không có khả năng chu cấp cho ngài theo học ở chủng viện. Hơn nữa, thân mẫu Gioan lại đang cần có người phụ giúp việc nhà. Vì thế, Gioan đã nhẫn nại chờ đợi, cầu nguyện và hy vọng. Cuối cùng, một linh mục thánh thiện là thánh Giuse Caphasô nhận thấy Gioan có ước mơ muốn làm linh mục. Ngài đã giúp Gioan Bôscô gia nhập chủng viện. Suốt quá trình học tập, Gioan đã phải vất vả làm việc. Ngài học đủ thứ nghề: thợ mộc, đánh giầy, nấu ăn, làm bánh, trồng trọt, chăn nuôi… Gioan cũng làm nhiều việc khác nữa. Gioan đã không thể nào nghĩ rằng những kinh nghiệm thực tế đây sẽ rất giúp ích cho nhiều người sau này. Năm 1841, Gioan Bôscô trở thành linh mục. Với tư cách là một linh mục, cha Đôn Bôscô bắt đầu sứ vụ lớn lao của mình. Ngài tập họp các em trai sống vô gia cư lại với nhau và dạy nghề cho chúng. Bằng cách này, chúng sẽ không phải đi ăn trộm ăn cắp hoặc quậy phá gây rối trật tự nữa. Khoảng năm 1850, đã có một trăm tám mươi em trai sống tại căn nhà dành cho các trẻ em của Đôn Bôscô. Mẹ của Đôn Bôscô là người giữ nhà. Thoạt đầu, người ta không hiểu được điều Đôn Bôscô đang làm. Họ cho rằng bọn trẻ sẽ không thể nào trở nên tốt được. Nhưng Đôn Bôscô xác nhận là chúng có thể.

“Em có muốn làm bạn của Đôn Bôscô không?” thánh nhân thường hay hỏi như vậy mỗi khi có một cậu nhỏ lạ đến với ngài. “Em muốn chứ?” Bôscô vui vẻ hỏi như thế và sau cùng ngài kết luận: “Rồi em sẽ giúp tôi cứu lấy linh hồn của em.” Ngài muốn các cậu trai của ngài mỗi tối phải đọc ba kinh Kính Mừng để Đức Mẹ giúp các cậu giữ mình khỏi tội. Ngài cũng dặn dò khuyên nhủ bọn trẻ phải thường xuyên lãnh nhận các bí tích Hòa giải và Thánh Thể với lòng yêu mến. Một trong các cậu nhỏ của Đôn Bôscô là Đa Minh Saviô sau này đã làm thánh.

Thánh Đôn Bôscô thiết lập một dòng tu chuyên đào tạo các linh mục và tu huynh theo tinh thần của thánh Phanxicô Salêsiô. Họ được gọi là các tu sĩ thuộc tu hội Salêdiêng Đôn Bôscô. Một dòng nữ dành cho các chị em Salêdiêng cũng được thiết lập với sự giúp đỡ của thánh nữ Maria Mazarêlô. Đôn Bôscô qua đời ngày 31 tháng Giêng năm 1888. Toàn thể dân thành Turinô đã xếp thành hàng dài trên các đường phố để tỏ lòng tôn kính, cảm phục, yêu mến và biết ơn ngài. Lễ an táng của Đôn Bôscô đã trở nên lời loan báo vui mừng tạ ơn Thiên Chúa vì đời sống kỳ diệu của con người này. Một linh mục trẻ coi xứ có lần gặp gỡ Đôn Bôscô về sau đã trở thành đức giáo hoàng Piô XI. Chính ngài đã sung sướng phong thánh cho Đôn Bôscô năm 1934.

 Chúng ta hãy học hỏi nơi thánh Đôn Bôscô ảnh hưởng tốt mà ai ai cũng có thể thực hiện được, đó là vươn tay ra giúp đỡ người khác cách vui tươi quảng đại.

 



Thánh nữ Giơnoa sinh vào khoảng năm 422 tại Nantê, một ngôi làng nhỏ cách thành phố Pari khoảng bốn dặm. Khi còn rất trẻ, thánh Giơnoa đã mơ ước dâng hiến đời mình cho Đức Chúa Giêsu. Sau khi cha mẹ qua đời, Giơnoa trẩy đến sống với bà ngoại. Hằng ngày, thánh nữ dành thời giờ để cầu nguyện. Ngài sống rất gần gũi mật thiết với Đức Chúa Giêsu và muốn giới thiệu sự tốt lành của Chúa cho mọi người. Thánh nữ Giơnoa có tấm lòng khoan dung rộng lượng. Ngài đã cố gắng hết sức mình để làm những việc tốt cho tha nhân.

Khi người dân Pari sắp phải chạy trốn khỏi địch quân khủng khiếp đến tấn công họ, thánh nữ Giơnoa liền tiến lên phía trước. Ngài phấn khích dân thành hãy tin cậy vào Chúa. Ngài nói rằng nếu họ ăn năn sám hối, họ sẽ được thứ tha. Dân thành đã làm theo lời Giơnoa nói và đột nhiên quân giặc Hungnô hung hãn đã không tấn công thành phố nữa. Không chỉ trong những khi cần thiết mà suốt cả cuộc đời, thánh nữ Giơnoa đã thực thi lòng yêu mến và tuân phục đối với ý muốn của Thiên Chúa. Và ngài luôn luôn cố gắng bồi đắp cho hoàn hảo hơn lên mãi. Can đảm và trung thành với Chúa Giêsu là những tặng ân đặc biệt trong chứng từ thánh nữ Giơnoa để lại cho mỗi người chúng ta.

 Một trong những cách thế tối hảo để giúp đỡ quê hương đất nước là cầu nguyện cho các vị lãnh đạo. Chúng ta hãy nài xin Thiên Chúa hướng dẫn họ vì ích chung của tất cả mọi người.



 

 

Tháng 02

Các Thánh Dành Cho Bạn Trẻ

 

Ngày 01: Thánh BRIGÍT AILEN

Ngày 02: Đức Mẹ dâng Chúa trong đền thờ

Ngày 03: Thánh BLASIÔ

Ngày 04: Thánh GIĂNG VƠLOA

Ngày 05: Thánh AGATHA

Ngày 06: Thánh PHAOLÔ MIKI và các bạn tử đạo

Ngày 07: Chân phước GILÊ MARIA

Ngày 08: Thánh GIÊRÔNIMÔ ÊMILIANÔ

Ngày 09: Thánh APÔLÔNIA và các bạn tử đạo ALÊXANĐRIA

Ngày 10: Thánh SCÔLÁTTICA

Ngày 11: Đức Mẹ Lộ Đức

Ngày 12: Thánh MÊLÊSIÔ

Ngày 13: Thánh CATARINA RIXI

Ngày 14: Thánh XIRILÔ và thánh MÊTÔĐIÔ

Ngày 15: Thánh FAUSTINÔ và thánh GIÔVITA

Ngày 16: Thánh ÔNÊSIMÔ

Ngày 17: Bảy anh em lập dòng Tôi Tớ Đức Mẹ

Ngày 18: Thánh BÊNAĐETTA

Ngày 19: Thánh BARBATÔ

Ngày 20: Thánh ÊUSÊRIÔ

Ngày 21: Thánh PHÊRÔ ĐAMIANÔ

Ngày 22: Lễ kính ngai toà thánh Phêrô

Ngày 23: Thánh PÔLYCAPÔ

Ngày 24: Thánh MÔNGTANÔ, LUXIÔ và các bạn tử đạo

Ngày 25: Thánh XÊSARIÔ NAZIANZÊNÔ

Ngày 26: Thánh PÔPHIRIÔ

Ngày 27: Thánh GABRIEL Mẹ Đau Thương

Ngày 28: Thánh RÔMANÔ và thánh LUPIXINÔ

 

Ngày 1 tháng 2

Thánh Brigita Ai Len

Một vài năm sau khi thánh Patriciô đến Ai Len thì Brigita chào đời. Thân phụ của Brigita, ông Đubta, là một chủ nhân người Ai Len; và thân mẫu của ngài là bà Brôca.

Khi khôn lớn, Brigita đào sâu thêm lòng yêu mến Đức Chúa Giêsu. Brigita tìm kiếm Người nơi những con người nghèo khổ và ngài thường mang thực phẩm cũng như quần áo đến cho họ. Người ta nói rằng một ngày kia, Brigita đã cho họ cả một thùng sữa đầy. Và sau đó, Brigita bắt đầu băn khoăn lo lắng không biết thân mẫu ngài sẽ nghĩ sao về chuyện này. Brigita cầu nguyện xin Chúa bù lại phần sữa mà ngài đã bố thí. Thật lạ lùng thay! Khi trở về nhà, Brigita thấy chiếc thùng lại đựng đầy sữa!

Brigita Ai Len rất xinh đẹp. Thân phụ của Brigita tưởng rằng đã đến lúc Brigita phải lập gia đình. Tuy nhiên, sâu thẳm trong tâm hồn, Brigita đã quyết định dâng hiến cả cuộc đời mình cho Thiên Chúa. Ngài không muốn kết hôn với bất cứ người nào. Khi nhận biết rằng sắc đẹp của mình là lý do quyến rũ các chàng trai, Brigita đã xin thực hiện một việc phi thường. Brigita xin Chúa cất đi sắc đẹp nơi ngài để được tự do dâng mình phụng sự Thiên Chúa. Và Chúa đã chấp nhận lời thỉnh cầu của Brigita. Khi thấy con gái mình không còn hấp dẫn xinh đẹp nữa, người cha đã vui lòng để cho Brigita đi tu.

Thánh nữ Brigita Ai Len đã theo tiếng Chúa gọi dấn thân trong bậc sống tu trì. Thánh nữ thiết lập một nữ tu viện để cho các chị em khác cũng có thể hiến thân phụng sự Chúa. Hình như một phép lạ đã xảy ra sau khi Brigita tận hiến cuộc đời cho Thiên Chúa trong chốn viện tu. Brigita lại trở nên xinh đẹp! Ngài gợi cho mọi người tưởng nhớ đến Mẹ Maria vì Mẹ rất dịu dàng và đáng mến. Một số người đã gọi Brigita là “Maria của người Ai Len.” Thánh nữ Brigita Ai Len qua đời năm 525.

 Chúa Giêsu yêu thương mỗi người chúng ta. Hãy tìm thánh ý Chúa trong cuộc đời của mình. Thánh nữ Brigita Ai Len đã tập trung vào những giá trị quan trọng như ý nghĩa của đời sống và giúp đỡ những người nghèo khổ kém may mắn. Thánh nữ Brigita Ai Len nhắc nhở chúng ta đừng lãng phí thời giờ lo lắng không biết hình dạng chúng ta đẹp hay xấu. Hãy nhớ rằng mỗi người chúng ta là một tạo vật đặc biệt của Thiên Chúa.

 

Ngày 2 tháng 2

Đức Mẹ dâng Chúa Giêsu trong đền thờ

Sau khi sinh hạ Chúa Giêsu được bốn mươi ngày, Đức Mẹ và thánh Giuse đã đem Hài Nhi Giêsu vào đền thờ Giêrusalem. Ở đó, các ngài dâng tiến Chúa Giêsu lên Đức Chúa Cha. Đó là luật lệ của người Dothái. Thánh gia đã tuân giữ giới luật này với trọn cả tấm lòng yêu mến.

Khi các ngài ở trong đền thánh, Mẹ Maria cũng thực hiện một khoản luật khác. Sau khi sinh con, tất cả các bà mẹ Dothái cần phải lên đền thờ để làm nghi thức thanh tẩy. Mẹ Maria đã thực hiện bổn phận của mình cách rất chu đáo. Mẹ dạy mỗi người chúng ta hãy sống khiêm tốn và vâng phục như Mẹ đã sống.

Tại đền thánh Giêrusalem, có một cụ già thánh thiện tên là Simêon. Ông được Chúa cho biết Hài Nhi Giêsu thực sự là Đấng Cứu Thế. Bồng ẵm Hài Nhi trên tay với niềm vui khôn tả, Simêon thốt lên: “Mắt tôi đang được chiêm ngắm Đấng Cứu Độ của tôi!” Thiên Chúa đã cho cụ Simêon nhận ra Chúa Giêsu là Đấng Cứu Thế. Chúng ta hãy tưởng tượng xem Đức Mẹ và thánh Giuse đang suy nghĩ gì? Rồi, được Chúa Thánh Linh thúc đẩy, cụ tiên tri Simêon nói với Đức Mẹ rằng Đức Mẹ sẽ phải chịu nhiều đau khổ. Ông muốn nói về nỗi đau đớn khủng khiếp mà Đức Mẹ sẽ cảm nghiệm khi Chúa Giêsu chịu chết trên Thánh Giá.

Ngày lễ dâng Chúa hôm nay nhắc nhớ chúng ta rằng trên hết mọi sự chúng ta hãy thuộc trọn về Chúa. Vì Người là Cha dựng nên chúng ta, nên chúng ta hãy có bổn phận đáp trả ơn Người bằng cách sống vâng phục và yêu mến.

Chúng ta hãy bắt chước Mẹ Maria và thánh Giuse. Chúng ta hãy vâng lời cha mẹ, các người giám hộ và các thầy cô cách mau mắn vui vẻ trong những điều phải lẽ. Chúng ta cũng hãy nài xin thánh gia giúp chúng ta biết sống tinh thần trách nhiệm hằng ngày.

 

Ngày 3 tháng 2

Thánh Blasiô

Thánh Blasiô sống vào thế kỷ thứ tư. Có vài người nói rằng Blasiô xuất thân trong một gia đình giàu có và được hấp thụ nền giáo dục Kitô giáo. Khi còn trẻ, lúc nào Blasiô cũng nghĩ tưởng về những nỗi khổ đau phiền muộn. Rồi dần dà ngài bắt đầu nhận ra rằng chỉ có những niềm vui thiêng liêng mới thực sự có thể làm cho người ta được hạnh phúc. Blasiô làm linh mục và rồi giám mục giáo phận Sêbastê ở Ácmênia (ngày nay người ta gọi miền đất này là Thổ Nhĩ Kỳ). Với tất cả nhiệt tâm của mình, Blasiô ra công hoạt động để bổn đạo của ngài sống thánh thiện và được hạnh phúc. Blasiô cầu nguyện và giảng dạy. Blasiô cố gắng giúp đỡ mọi người.

Khi nhà cầm quyền Lixihiô bắt đầu bách hại các Kitô hữu, thánh Blasiô cũng bị bắt giữ. Ngài bị tống giam và chờ ngày xử trảm. Trên đường phố, người ta tụ tập rất đông để chào vị giám mục thân yêu của họ lần cuối. Blasiô chúc lành cho tất cả mọi người, kể cả những người ngoại giáo. Rồi có một bà mẹ nghèo khổ chạy đến ngài. Bà nài xin Blasiô cứu lấy đứa con nhỏ của bà đang bị mắc nghẹn xương cá. Thánh Blasiô liền thầm thĩ cầu nguyện rồi chúc lành cho đứa trẻ. Và ngài đã làm phép lạ cứu sống đứa trẻ. Đó là lý do tại sao những người mắc bệnh đau cổ họng năng cầu khẩn với thánh Blasiô. Trong ngày mừng lễ kính thánh Blasiô hôm nay, chúng ta hãy xin ngài chúc lành cho chiếc cổ họng của chúng ta. Hãy xin thánh nhân phù trợ để khỏi mắc phải những chứng bệnh về họng.

Trong lao tù, vị giám mục thánh thiện này đã làm cho nhiều người ngoại giáo trở lại. Không nhục hình tra tấn nào có thể khiến Blasiô chối bỏ niềm tin vào Đức Chúa Giêsu. Thánh Blasiô bị xử trảm vào năm 316. Giờ đây, Blasiô mãi mãi được ở bên Đức Chúa Giêsu.

 Hôm nay, chúng ta có thể mừng lễ kính thánh Blasiô mà không cần đến bánh kẹo hoặc kem như chúng ta định mừng.

 

 

Ngày 4 tháng 2

Thánh Giăng Vơloa

Thánh nữ Giăng Vơloa là công chúa của vua Luy XI, nước Pháp. Ngài sinh năm 1464. Vua Luy rất thất vọng khi sinh ra Giăng Vơloa vì ông muốn có một hoàng tử. Thậm chí ông không muốn cô công chúa bé nhỏ của mình sống trong cung điện chỉ vì cô dị hình. Khi lên năm tuổi, Giăng Vơloa được gởi đến sống với những người khác. Dù bị cha ruột của mình đối xử như thế, Giăng Vơloa vẫn cố gắng sống tử tế và hòa hợp với mọi người. Người ta nói cho Giăng Vơloa biết Chúa Giêsu và Đức Mẹ rất yêu mến Giăng. Giăng cũng tin là Chúa sẽ sử dụng mình làm những việc tốt sáng danh Chúa. Và Giăng Vơloa đã nghĩ đúng.

Khi trưởng thành, thánh nữ Giăng Vơloa quyết định không lập gia đình. Ngài hiến dâng trọn thân xác cho Đức Chúa Giêsu và Mẹ chí thánh của Người. Nhưng vua cha lại không để ý đến sự chọn lựa tư riêng của con gái mình. Ông buộc Giăng Vơloa phải kết hôn với vị công tước miền Orlins. Suốt hai mươi hai năm, Giăng Vơloa đã là một người vợ chung thủy. Tuy nhiên sau khi công tước lên ngôi vua, ông đã gởi Giăng đến sống bơ vơ tại một thị trấn nhỏ xa xôi. Hoàng hậu vẫn không bực tức! Thay vào đó, ngài kêu lên: “Xin chúc tụng Chúa! Chúa cho phép điều này xảy ra là để con có thể phục vụ Chúa tốt hơn ...!”

Thánh nữ Giăng Vơloa đã sống đời cầu nguyện. Ngài thực thi việc bỏ mình và sống thật bác ái. Thánh nữ bố thí cho những người nghèo khó tất cả tiền bạc của mình. Thậm chí Giăng Vơloa đã thiết lập một dòng nữ dành cho các chị em gọi là dòng Đức Mẹ Truyền Tin. Giăng Vơloa dành phần đời còn lại của mình phục vụ Chúa Giêsu và Mẹ Chí Thánh trong hân hoan vui mừng. Năm 1505, Giăng Vơloa qua đời. Ngài được đức thánh cha Piô XII phong thánh vào năm 1950.

 Khi một người nào hoặc một tình cảnh nào đó làm chúng ta bị tổn thương, chúng ta hãy nhớ gương thánh nữ Giăng Vơloa. Chúng ta hãy nài xin thánh nữ giúp chúng ta biết sống kiên nhẫn và tha thứ như ngài.

 

Ngày 5 tháng 2

Thánh Agatha

Cô gái Kitô giáo xinh đẹp tên Agatha sống ở Sicily vào thế kỷ thứ ba. Viên thống đốc vùng đó nghe biết về sắc đẹp của Agatha đã truyền bắt cô vào cung điện. Ông muốn cô phạm tội nghịch đức trong sạch, nhưng Agatha rất can đảm không chịu nhượng bộ. Ngài cầu nguyện: “Lạy Chúa Giêsu Kitô, Chúa biết tâm hồn con và thấu hiểu ước muốn của con. Chỉ mình Chúa là đủ cho con vì Chúa là tất cả của con. Xin hãy cứu lấy con khỏi người đàn ông xấu nết này, và xin hãy ban cho con đủ sức để vượt qua cơn cám dỗ này!”

Rồi viên thống đốc đã gởi Agatha đến nhà một đàn bà tinh quái. Có thể cô gái sẽ bị tiêm nhiễm những điều xấu chăng? Nhưng Agatha đã tin tưởng mãnh liệt vào Thiên Chúa và luôn luôn cầu nguyện. Ngài đã giữ mình thanh sạch. Thánh nữ Agatha không để tâm nghe theo những ác ý của bà và các con gái bà. Sau một tháng, Agatha được mang về cho viên thống đốc. Ông này lại cố gắng thuyết phục thánh nữ Agatha: “Em là một phụ nữ quý phái,” ông nói rất tử tế, “sao em lại hạ mình xuống làm một Kitô hữu thấp hèn như vậy?”

“Dù tôi quý phái thật,” Agatha trả lời, “nhưng tôi là nô lệ của Chúa Giêsu Kitô!”

Viên thống đốc hỏi lại: “Thế quý phái thật nghĩa là gì?”

Agatha trả lời: “Nghĩa là phục vụ Thiên Chúa!”

Khi nhận thấy Agatha nhất quyết không chịu phạm tội, viên thống đốc tức giận. Ông liền truyền đánh đòn và hành hạ Agatha. Đang khi được mang đến nhà giam, Thánh nữ Agatha than thở với Chúa: “Lạy Chúa là Đấng Tạo Hóa của con, Chúa đã bảo vệ con từ khi con còn trong nôi. Chúa đã gìn giữ con khỏi tình yêu thế gian và đã ban cho con được kiên tâm chịu đựng đau khổ. Giờ đây xin Chúa hãy nhận lấy linh hồn con!”

Thánh nữ Agatha tử đạo tại Catania, Sicily năm 250. 

Chúng ta có thể bắt chước gương thánh nữ Agatha. Như ngài, chúng ta hãy cầu nguyện với tất cả tâm hồn khi bị cám dỗ làm điều sai quấy.

 

Ngày 6 tháng 2

Thánh Phaolô Miki và các bạn tử đạo

Người ta thường gọi 26 vị thánh tử đạo này là các thánh tử đạo Nagasaki và các thánh tử đạo Nhật Bản. Năm 1549, thánh Phanxicô Xaviê mang Tin mừng của Kitô giáo đến nước Nhật. Nhiều người đã lãnh nhận lời Chúa và được chính thánh Phanxicô rửa tội cho. Dù thánh Phanxicô Xaviê thay đổi vị trí truyền giáo và cuối cùng qua đời gần bờ biển Trung Hoa, thì tại Nhật Bản đức tin đã tăng triển. Vào năm 1587, nước Nhật đã có hơn hai trăm ngàn Kitô hữu. Công việc truyền giáo của các hội dòng ở đó phát triển mạnh mẽ. Các linh mục, các nữ tu và giáo dân Nhâït Bản sống đức tin của mình cách sung mãn.

Năm 1597, hơn 45 năm sau khi thánh Phanxicô Xaviê đặt chân đến miền đất này thì viên lãnh đạo đang nắm quyền người Nhật, Hiđêyôsi, nghe lời đồn nhảm của một ông lái buôn người Tây Ban Nha. Ông lái buôn này xì xầm rằng những nhà truyền giáo chỉ là những kẻ phản quốc. Ông gợi lên rằng những kẻ phản quốc này một mai sẽ tra tay giúp những người Tây Ban Nha và những người Bồ Đào Nha san bằng nước Nhật. Lời gợi ý thật xảo trá và lố bịch. Nhưng, như một phản ứng quá mạnh so với sự cần thiết, Hiđêyôsi đã cho bắt 26 người, gồm 6 tu sĩ dòng Phanxicô đến từ Tây Ban Nha, Mêhicô và Ấn Độ; 3 giáo lý viên người Nhật thuộc dòng Tên, kể cả thánh Phaolô Miki, và 17 giáo dân Nhật Bản tính cả trẻ em. Nhóm 26 người này được dẫn đến nơi hành quyết ở ngoại thành Nagasaki. Người ta trói chặt mỗi người vào một cây thánh giá bằng những sợi dây xích hoặc dây thừng và kẹp chặt những vòng sắt quanh cổ các ngài. Họ đã dùng dây và cần trục nhấc bổng mỗi thánh giá lên và đặt vào trong những chiếc lỗ được đào sẵn. Rồi, người ta lần lượt phóng những ngọn giáo vào các nạn nhân. Các ngài hầu như đã chết cùng một lúc. Cộng đoàn Kitô hữu đã trân trọng cất giữ những trang phục tẩm máu của các ngài và các phép lạ đã lần lượt xảy ra qua sự cầu thay nguyện giúp của các thánh.

Mỗi vị thánh tử đạo là một lễ vật của Giáo hội. Thánh Phaolô Miki, một giáo lý viên thuộc dòng Tên, thật là một nhà giảng thuyết vĩ đại. Bài giảng can đảm sau cùng của thánh nhân phát xuất từ thập giá như thể ngài hối thúc cộng đoàn Kitô hữu hãy trung thành với đức tin cho đến hơi thở cuối cùng. Đó là ngày mùng 5 tháng Hai năm 1597. Đức thánh cha Grêgôriô XVI đã tuyên phong Phaolô Miki và các bạn của ngài lên bậc hiển thánh vào năm 1862.

 Mỗi ngày, chúng ta hãy cầu nguyện cho những người sống ở các nơi trên thế giới đang bị bách hại vì đức tin Công giáo. Chúng ta cũng hãy nài xin với thánh Phaolô Miki và các bạn tử đạo giúp chúng ta được can đảm trung thành với Đức Chúa Giêsu.

 

 

Ngày 7 tháng 2

Chân phước Gilê Maria

Tên gọi trong dòng của vị chân phước này là thầy Gilê Maria Giuse. Thầy Gilê Maria Giuse sinh năm 1729 gần Tarantô, nước Ý. Lúc còn trẻ, Gilê học nghề đan dây thừng và ngài rất khá trong việc kinh doanh.

Khi lên 25 tuổi, Gilê nhận ra tiếng Chúa gọi đi tu dâng mình cho Chúa. Ngài gia nhập dòng thánh Phêrô Alcăntara ở Napôli. Vậy Gilê có những nhân đức đặc biệt gì để đáng được gọi là “chân phước?” Người ta đã tìm ra nơi Gilê Maria hai nhân đức cao quý hướng dẫn cả đời sống tu trì của ngài là đơn sơ và khiêm nhường.

Càng ngày thầy Gilê Maria càng hun đúc thêm cho mình lòng ham ước phục vụ Thiên Chúa. Thầy biết ơn Thiên Chúa đã gọi thầy đi tu và thầy biểu lộ lòng biết ơn ấy qua cuộc sống thường ngày. Thầy đi đi lại lại qua các căn phòng nơi khu vực thầy sống. Thầy là người giữ cổng. Thầy mở cửa mau lẹ và luôn nở nụ cười tươi mỗi khi có khách nhấn chuông. Thầy dịu dàng quan tâm chăm sóc những người nghèo, những người vô gia cư, những người đau yếu đến cổng nhà dòng xin của bố thí. Bề trên trao cho thầy trách nhiệm phân phát phần thức ăn và của bố thí nhà dòng tiết kiệm dành cho người nghèo. Thầy Gilê Maria vui thích làm công việc ấy. Càng cho những người nghèo đói túng cực bao nhiêu, thầy Gilê Maria lại càng có thêm nhiều của để bố thí cho kẻ khác bấy nhiêu. Thầy tin rằng chính thánh Giuse đã làm công việc này vì thánh Giuse cũng đã từng chăm lo cho Chúa Giêsu và Đức Mẹ cách chu đáo như vậy. Thầy Gilê Maria ân cần bày tỏ lòng sùng kính của mình đối với thánh Giuse qua suốt cuộc sống tu trì của thầy.

Sau một cuộc đời trung thành với Thiên Chúa và ơn gọi riêng của mình, thầy Gilê Maria Giuse đã qua đời ngày mùng 7 tháng Hai năm 1812. Năm 1888, thầy được đức thánh cha Piô IX tôn phong lên bậc chân phước.

 Chúng ta có thể học hỏi điều này nơi đời sống của chân phước Gilê Maria Giuse: không phải cứ làm được những việc lớn lao hay nắm giữ những chức vụ quan trọng mới là có công trước mặt Thiên Chúa. Điều Thiên Chúa tìm kiếm là tấm lòng quảng đại và sự trung thành trong công việc chúng ta làm.

 

Ngày 8 tháng 2

Thánh Giêrônimô Êmilianô

Thánh Giêrônimô Êmilianô sinh năm 1486, là con trai của một gia đình quý tộc thành Vêni, nước Ý. Giêrônimô là binh sĩ giỏi và được quyền chỉ huy một pháo đài cao trên tận miền sơn cước. Đang khi bảo vệ đồn bốt này cho khỏi đội quân của Maximilianô I xâm lược, Giêrônimô bị bắt làm tù binh và bị nhốt vào ngục tối. Bị xiềng xích trong chốn tù đày khốn khổ, Giêrônimô Êmilianô bắt đầu hối tiếc về quãng đời vô tư mà ngài đã sống. Giêrônimô hối hận là đã tưởng nghĩ quá ít về Thiên Chúa. Ngài ân hận vì nhiều năm qua đã sống trong tình trạng kém cỏi bệ rạc. Giêrônimô hứa với Đức Mẹ rằng nếu Đức Mẹ thương phù giúp thì sẽ thay đổi cuộc đời. Lời cầu nguyện của Giêrônimô được chấp nhận và ngài đã trốn thoát cách an toàn. Người ta nói rằng Giêrônimô Êmilianô, với tấm lòng biết ơn sâu xa, đã đi thẳng đến một ngôi nhà thờ. Ngài treo sợi dây xích đã giam hãm ngài trong tù trước bàn thờ Đức Mẹ.

Cuối cùng, chàng thanh niên trẻ tuổi này trở thành linh mục. Cha Giêrônimô Êmilianô đã hết lòng tận tụy với những công việc bác ái từ thiện. Điều quan tâm đặc biệt của Giêrônimô là chăm lo cho những trẻ em mồ côi vô gia cư sống lang thang trên các hè phố. Giêrônimô thuê một căn nhà cho chúng ở, cho chúng áo quần và thực phẩm. Ngài cũng hướng dẫn chúng bằng những chân lý đức tin.

Thánh Giêrônimô Êmilianô thiết lập một dòng tu gọi là hội Tôi Tớ Những Người Nghèo Khổ. Mục đích của dòng là tận tâm chăm sóc người nghèo, huấn luyện giới trẻ, đặc biệt các trẻ em mồ côi. Thánh Giêrônimô Êmilianô cũng ra sức giúp đỡ những người dân quê. Ngài làm việc với họ trên các cánh đồng. Thánh Giêrônimô chia sẻ cho họ nghe về sự tốt lành của Thiên Chúa khi làm việc bên họ. Năm 1537, thánh nhân qua đời đang khi chăm sóc cho những nạn nhân bệnh dịch. Đến năm 1767, Giêrônimô Êmilianô được đức thánh cha Bênêđictô XIV tôn phong lên bậc hiển thánh.

Thánh Giêrônimô Êmilianô là một tặng ân cho toàn thể Giáo hội và cách riêng cho những người sống ở thời đại của ngài. Nhìn lại toàn bộ đời sống của thánh nhân, chúng ta nhận thấy ngài thực là một hình ảnh sống động của Thiên Chúa yêu thương. Giêrônimô Êmilianô đem niềm hy vọng đến cho những người nghèo khổ và bị bỏ rơi. Năm 1928, đức thánh cha Piô XI đã đặt Giêrônimô Êmilianô làm thánh quan thầy của các trẻ em mồ côi vô gia cư.

 Chúng ta hãy khẩn cầu thánh Giêrônimô Êmilianô giúp chúng ta ý thức tầm quan trọng trong việc trở nên một tấm gương tốt. Chúng ta hãy nài xin thánh nhân giúp chúng ta biết nhận ra những cơ hội mà chúng ta phải làm chứng cho tình yêu của Chúa Giêsu, Mẹ Maria và đức tin của Giáo hội Công giáo.

 

Ngày 9 tháng 2

Thánh Apôlônia và các thánh tử đạo Alêxanđria

Apôlônia, một trinh nữ thánh thiện, sống ở Alêxanđria, bên nước Ai Cập vào thế kỷ thứ ba. Suốt triều đại uy quyền của vua Philipphê, các Kitô hữu bị bắt bớ bách hại. Apôlônia đã dùng cả cuộc đời mình phục vụ Thiên Chúa. Bởi vì đã già nua tuổi tác nên Apôlônia sắp sửa về nơi vĩnh phúc. Apôlônia đã anh dũng dám liều mạng sống mình để an ủi các Kitô hữu đang đau khổ trong chốn lao tù. “Hãy nhớ rằng những gian nan thử thách mà các bạn đang chịu đây sẽ không lâu,” thánh nữ nói, “còn niềm vui thiên đàng sẽ kéo dài mãi mãi!”

Chỉ một thời gian sau, thánh nữ Apôlônia cũng bị bắt giữ. Khi quan tòa hỏi tên, ngài đã can đảm trả lời: “Tôi là một Kitô hữu. Tôi yêu mến và phục vụ một Thiên Chúa chân thật!”

Bọn người căm giận đã dùng nhục hình tra tấn thánh nữ Apôlônia để ép buộc ngài phải chối bỏ đức tin. Trước tiên, họ vả rụng hết răng của Apôlônia rồi đánh ngài bất tỉnh. Chẳng lạ gì mà người ta thường hay cầu khẩn với thánh nữ Apôlônia khi bị đau răng! Nhưng dù đã dùng hết cách, họ vẫn không lay chuyển được lòng tin của một người phụ nữ. Rồi người ta nói với Apôlônia rằng nếu ngài không chối bỏ Chúa Giêsu, thì sẽ bị ném vào vạc lửa hung tợn. Nhưng Apôlônia vẫn không để cho bất cứ nỗi sợ hãi nào chế ngự được mình.

Thánh nữ quyết tâm thà chịu chết thiêu hơn là chối bỏ lòng tin vào Đức Chúa Giêsu. Khi thấy thánh nữ anh dũng can đảm như vậy, nhiều người ngoại giáo đã trở lại. Thánh nữ Apôlônia mất vào khoảng năm 249.

 Các thánh tử đạo đã hết sức ham ước được đổ máu mình ra để tôn vinh Đức Chúa Giêsu. Phần chúng ta, chúng ta đã sẵn lòng làm gì cho Người? Chúng ta có đủ kiên tâm chịu đựng một sự phiền toái nho

 

 

Ngày 10 tháng 2

Thánh Scôláttica

Thánh Bênêđictô và thánh nữ Scôláttica là anh em sinh đôi sống tại miền Trung nước Ý vào năm 480. Người ta nói rằng suốt nhiều năm trời, song thân của các ngài đã cầu xin Thiên Chúa ban cho được có mụn con để nối dõi tông đường. Cuối cùng, họ đã sinh hạ Bênêđictô và Scôláttica. Họ đã yêu thương trìu mến cũng như đã cố gắng dưỡng dục con cái của họ.

Thánh Scôláttica là một cô bé thông minh và rất giàu tình bạn. Thánh nữ hứa sẽ dâng mình cho Đức Chúa Giêsu ngay từ lúc còn rất nhỏ. Sau khi song thân qua đời, Scôláttica đi thăm anh Bênêđictô của mình là người đã rời khỏi gia đình. Anh đã xây một đan viện thật lớn và hiện đang là bề trên của nhiều đan sĩ tốt lành. (Bênêđictô là người sáng lập nên dòng Biển Đức.)

Thánh Bênêđictô đối xử rất tốt với em gái của ngài. Khi nhận thấy cô em và nhiều thanh nữ khác muốn đi tu, ngài đã giúp xây cất cho họ một tu viện. Khi Bênêđictô ở Subjacô, Scôláttica đến sống ở một tu viện gần đó. Khi người anh song sinh của ngài dời đến vùng núi Cassinô, thánh nữ cũng chuyển sang sống trong một nữ tu viện bên cạnh.

Cứ mỗi năm một lần, thánh Bênêđictô đến thăm em gái mình và lưu lại cả ngày với em. Trong một chuyến thăm, khi Bênêđictô chuẩn bị ra về, Scôláttica năn nỉ xin anh ở lại lâu hơn nhưng Bênêđictô nói rằng không thể được. Cô em liền lặng lẽ cúi đầu nài xin Thiên Chúa kéo dài cuộc thăm viếng của anh. Rồi đột nhiên, một cơn giông bão nổi lên và Bênêđictô không thể bỏ đi được. Ngài đã ở lại và trò chuyện với người em suốt đêm. Các ngài trao đổi với nhau về sự thiện hảo của Thiên Chúa, về hạnh phúc sung mãn của các thánh trên thiên đàng. Sau đó ít lâu, Scôláttica qua đời. Thánh nữ mất vào năm 547.

Qua cách đối xử ân cần, Scôláttica và Bênêđictô đã kéo nhau lại gần Thiên Chúa hơn. Cũng thế, chúng ta hãy học hỏi gương sáng nơi các ngài và xin các ngài chia sẻ cho chúng ta những tinh thần đạo đức thiêng liêng.

 

Ngày 11 tháng 2

Đức Mẹ Lộ Đức

Vào ngày 11 tháng Hai năm 1858, một Bà Đẹp đã hiện ra lần đầu tiên với Bênađetta Sôbirô tại Lộ Đức, nước Pháp. Bênađetta là một bé gái đau yếu gầy còm. Gia đình cô quá nghèo đến nỗi họ phải sống trong một hầm chứa mà trước đây nó là nhà giam. Tuy đã lên 14 nhưng Bênađetta vẫn chưa hề biết đọc biết viết! Cô bé không thể nào nhớ được những bài học giáo lý nhưng Bênađetta lại là một cô bé rất ngoan. Bênađetta yêu mến Thiên Chúa nhiều lắm. Dù trí nhớ kém cỏi nhưng Bênađetta vẫn hết sức cố gắng học hỏi mọi điều về Thiên Chúa. Bênađetta cũng sống trong sạch và vâng lời nữa! Bà Đẹp mà Bênađetta xem thấy vận một chiếc áo dài trắng và một khăn thắt lưng màu xanh nhạt. Bà đội một chiếc lúp màu trắng phủ từ đầu xuống tới chân. Trên hai bàn chân có hai bông hồng vàng rất dễ thương. Hai tay chắp lại trước ngực và có một tràng chuỗi đeo trên bàn tay phải. Dây chuyền và Thánh Giá của cỗ chuỗi óng ánh tựa vàng ròng. Bà Đẹp đáng yêu khuyến khích Bênađetta lần chuỗi Mân côi. Bà đã hiện ra tất cả 18 lần với Bênađetta. Bà xin Bênađetta nói cho mọi người hãy cầu nguyện, hãy ăn năn sám hối và đọc kinh Mân Côi để cầu cho các tội nhân.

Trong lần hiện ra cuối cùng, Bênađetta hỏi Bà Đẹp là ai và Bà đã trả lời: “Ta là Đấng Vô Nhiễm Nguyên Tội!” Bà chính là Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ Thiên Chúa.

Người ta đã xây cất một vương cung thánh đường tại nơi Bênađetta trông thấy Đức Mẹ. Dù những lần hiện đến của Đức Mẹ đã xảy ra hơn một trăm năm trước, thì bây giờ ở nơi ấy các phép lạ hiện vẫn còn đang tiếp tục xảy ra. Nhiều bệnh nhân được ơn chữa lành. Người què được đi. Người mù được thấy. Những người đau khổ cô đơn tìm được niềm hy vọng. Ở đó, nơi Đức Mẹ đã hơn một lần hiện ra với thánh nữ Bênađetta, Đức Mẹ cũng đang bày tỏ lòng yêu thương của Người đối với tất cả chúng ta.

Mỗi ngày, chúng ta hãy cố gắng đọc kinh Mân Côi để tôn kính Đức Mẹ. Nhờ lời kinh nguyện này, chúng ta lãnh nhận được hết mọi ân sủng cần thiết cho bản thân và cho những người chúng ta yêu mến.

 

Ngày 12 tháng 2

Thánh Mêlêsiô

Thánh Mêlêsiô được kêu gọi coi sóc Giáo hội Chúa Kitô ở thế kỷ thứ tư. Những cuộc bách hại thảm khốc của người Rôma đã qua; và vào năm 315, hoàng đế Constantinô đã thừa nhận Kitô giáo là một tôn giáo hợp pháp. Vậy, điều gì đã làm cho sứ vụ của giám mục Mêlêsiô trở nên khó khăn? Có nhiều cơn giông tố đã tích tụ bên trong Giáo hội. Một số người tin nhận theo Công giáo, số khác theo bè rối Ariô. Ariô là bè rối phủ nhận thiên tính của Đức Chúa Giêsu. Một số người đã tin vào sự nhầm lẫn này bởi vì lúc đó sự việc chưa được các giới chức trong Giáo hội phân định rõ ràng.

Giám mục Mêlêsiô yêu mến Giáo hội và luôn luôn theo sát những giáo huấn của Đức Chúa Giêsu. Ngài tin nhận Đức Chúa Giêsu là Thiên Chúa thật và hiểu rằng Giáo hội sẽ phải tuyên bố cách minh bạch Đức Chúa Giêsu là ai. Năm 361, Mêlêsiô được chọn làm giám mục thành Antiôkia. Những người theo bè rối Ariô không hài lòng. Suốt 20 năm, Mêlêsiô là một giám mục kiên nhẫn và giàu lòng bác ái; nhưng những người không chấp nhận Mêlêsiô đã gây cho ngài nhiều sự khó khăn. Mêlêsiô đã thường phải chạy trốn vì họ muốn chiếm lấy chức vị giám mục giáo phận của ngài. Nhưng thánh Mêlêsiô là một giám mục nghiêm túc đích thực; ngài đã hết sức nhẫn nại chịu đựng để sớm trở về. Khi hoàng đế Valenxiô băng hà năm 378, bè rối Ariô cũng ngưng lại những cuộc bách hại Giáo hội.

Năm 381, Công đồng Constantinô danh tiếng, một Công đồng chung cho cả Giáo hội toàn cầu, được triệu tập. Các giám mục muốn bàn về những chân lý đức tin quan trọng. Giám mục Mêlêsiô được trao cho trách vụ khai mạc Công đồng và trực tiếp chủ tọa các buổi họp. Và ngài đã qua đời ở đó, tại một trong các buổi họp trước sự thương tiếc của tất cả các giám mục.

Các vị thánh danh tiếng như thánh Gioan Chrisôtômô và thánh Grêgôriô Nysê đã tham dự đám tang của ngài cùng với tất cả các giám mục tại Công đồng. Dân thành Constantinô cũng đổ dồn về tòa giám mục. Thánh Grêgôriô Nysê đã thuyết giảng trong thánh lễ an táng. Ngài nói về vị giám mục hiền lành đầy nhân hậu giống Chúa Kitô mà mọi người đều yêu mến. Sau cùng, ngài kết luận: “Ai yêu mến Giáo hội thì cũng yêu mến thánh Mêlêsiô.”

Thánh Grêgôriô Nysê cũng đã đề cập đến sự bình thản và nụ cười rạng rỡ tràn đầy niềm hy vọng của giám mục Mêlêsiô, cả đến giọng nói đáng yêu và phong thái dịu dàng của ngài. Thánh Mêlêsiô về trời ngày 12 tháng Hai năm 381.

 Giám mục Mêlêsiô luôn luôn thân thiện và tốt bụng với hết thảy mọi người. Nhiều người cho rằng đời sống của thánh nhân tuy nghiêm nghị nhưng chưa bao giờ mất đi sự hiền từ nhã nhặn. Đây là tiêu chuẩn thực tế minh chứng lòng tốt của Mêlêsiô. Đây cũng là cách thế chứng tỏ tình yêu của thánh nhân đối với Đức Chúa Giêsu. Với những cố gắng bé nhỏ, chúng ta cũng có thể làm được như vậy.

 

Ngày 13 tháng 2

Thánh Catarina Rixi

Alêxanđrina sinh năm 1522 trong một gia đình họ Rixi ở Florentia, nước Ý. Lúc lên 13 tuổi, Alêxanđrina vào tu dòng nữ Đa Minh. Khi là nữ tu, Alêxanđrina chọn tên Catarina. Ngay lúc còn trẻ, Catarina đã có một tình yêu thâm sâu đối với cuộc khổ nạn của Đức Chúa Giêsu. Thánh nữ thường hay suy gẫm về những nỗi thống khổ của Chúa. Chúa Giêsu đã ban cho thánh nữ đặc ân lớn lao là được mang những thương tích của Chúa trong mình. Và Catarina rất đỗi sung sướng lãnh nhận mọi đau đớn nơi những vết thương này.

Thánh nữ Catarina Rixi rất có lòng cảm thương đối với các linh hồn tội nghiệp đang phải đau khổ trong chốn luyện hình. Thánh nữ nhận thấy họ đang khao khát mong mỏi được ở với Thiên Chúa trên thiên đàng biết bao. Thánh nữ cũng nhận thấy thời gian trong luyện ngục dường như kéo dài đến vô tận. Thánh Catarina cầu nguyện và làm việc sám hối thay cho họ. Lần kia, Chúa cho thánh nữ biết có một người đang ở luyện ngục. Catarina đã đặc biệt dâng hiến tình yêu của mình để chịu đau khổ thay cho linh hồn ấy. Thiên Chúa chấp nhận lời khấn xin của Catarina và thánh nữ đã phải chịu đau khổ dữ dội suốt bốn mươi ngày. Sau một cơn đau bệnh kéo dài, thánh nữ Catarina Rixi đã qua đời vào độ tuổi 68. Đó là ngày mùng 2 tháng Hai năm 1590. Catarina Rixi được đức thánh cha Clêmentê XII tôn lên bậc hiển thánh năm 1747. 

Chúng ta có thể giúp đỡ các linh hồn đáng thương trong luyện ngục bằng những lời cầu nguyện như thánh nữ Catarina Rixi đã làm. Chúng ta hãy cầu nguyện cho họ chóng được hưởng nhan thánh Chúa. Khi ở trên thiên đàng, chắc chắn họ sẽ lại cầu bầu cùng Chúa cho mỗi người chúng ta.

 

Ngày 14 tháng 2

Thánh Xirilô và thánh Mêtôđiô

Hai anh em thánh này sinh ở Thessalônica bên nước Hy Lạp. Mêtôđiô sinh năm 815 và Xirilô 827. Cả hai anh em trở thành linh mục và cùng có những ước muốn thánh thiện là rao giảng đức tin. Rồi các ngài đã trở nên những nhà truyền giáo cho các dân tộc miền Đông và Trung Âu là Môravia, Bôhêmia và Bulgari. Câu chuyện xảy ra vào năm 862, bảy năm trước khi Xirilô qua đời. Vua nước Môravia đã xin được có các nhà truyền giáo nên các ngài đã đem Tin mừng của Chúa Giêsu và Giáo hội vào vương quốc của ông. Nhà vua thêm một đề nghị nữa là các nhà truyền giáo phải nói tiếng dân tộc của ông.

Hai anh em thánh Xirilô và Mêtôđiô tình nguyện xin đi và đã được chấp thuận. Các ngài nhận biết là sẽ phải rời xa quê hương thân yêu, ngôn ngữ và văn hóa của mình, phải bỏ lại tất cả vì tình yêu Chúa Giêsu. Và các ngài đã sẵn sàng tình nguyện làm công việc này.

Thánh Xirilô và thánh Mêtôđiô phát minh ra một bảng chữ cái Slavơ và các ngài đã chuyển dịch bộ Kinh Thánh và phụng vụ Giáo hội ra tiếng Slavơ. Nhờ việc này, người ta có thể tiếp nhận giáo lý Công giáo bằng những từ ngữ họ có thể hiểu được.

Một số người trong Giáo hội lúc ấy không chấp nhận phương thế sử dụng tiếng địa phương trong phụng vụ Giáo hội. Thế là hai anh em phải đối mặt với những lời phê bình chỉ trích. Các ngài được gọi về Rôma để gặp gỡ và trao đổi với đức thánh cha. Vài người đã rất ngạc nhiên vì cuộc họp mặt này. Đức thánh cha Ađriô II bày tỏ lòng biết ơn và sự ngưỡng mộ đối với hai nhà truyền giáo. Ngài không những chấp nhận những phương thế truyền bá đức tin của hai anh em mà còn đặt các ngài làm giám mục. Hình như Xirilô đã qua đời trước khi được tấn phong giám mục, nhưng Mêtôđiô thì đã được tấn phong. Thánh Xirilô mất ngày 14 tháng Hai năm 869. Ngài được chôn cất tại nhà thờ thánh Clêmentê ở Rôma. Thánh Mêtôđiô thì trở lại các nước miền Trung Đông nói tiếng Slavơ và tiếp tục công việc của ngài thêm 15 năm nữa.

Ngày 31 tháng Mười Hai năm 1980, đức thánh cha Gioan Phaolô II đã tôn nhận thánh Xirilô và thánh Mêtôđiô làm quan thầy của Âu châu cùng với thánh Bênêđictô.

 Chúng ta có thể ngưỡng mộ tấm lòng rộng lượng hào hiệp của hai anh em thánh này. Hãy xin các ngài ban cho chúng ta lòng can đảm và sự tốt hảo của các ngài. Chắc chắn các ngài sẽ giúp chúng ta biết kính trọng hết mọi người dù họ khác chúng ta về tôn giáo, truyền thống, ngôn ngữ và văn hóa.

 

Ngày 15 tháng 2

Thánh Faustinô và thánh Giôvita

Thánh Faustinô và thánh Giôvita là hai anh em ruột sống ở Brêscia, nước Ý. Các ngài là những thành viên trong số những Kitô hữu tử đạo tiên khởi. Các ngài đã chịu đau khổ suốt cuộc bách hại của vua Hađrianô ở thế kỷ thứ hai.

Hồi còn niên thiếu, Faustinô và Giôvita rất được mọi người biết đến vì lòng mộ mến tôn giáo của mình. Các ngài cũng làm nhiều việc bác ái Kitô giáo. Các ngài cùng nhau giúp đỡ những người gặp cảnh khó khăn nghèo túng. Đức giám mục giáo phận Brêscia đã truyền chức linh mục cho các ngài và các ngài bắt đầu rao giảng khắp nơi cho cả người giàu lẫn người nghèo. Các ngài đã hy sinh hết mình để đem nhiều linh hồn về cho Thiên Chúa. Bởi vì lúc ấy đang là thời kỳ bắt đạo nên người ta rất dễ hoang mang lo sợ. Nhưng đối với Faustinô và Giôvita thì không thế, các ngài chẳng hề sợ hãi những binh lính dù những người này thực sự đã giết hại nhiều Kitô hữu.

Khi nhà vua nghe biết Faustinô và Giôvita dám công khai giảng dạy, vua liền ra lệnh bắt giam các ngài và cho lính tra tấn hành hạ các ngài. Vua hy vọng rằng nhục hình sẽ làm cho các ngài phải im lặng. Thế nhưng dù phải chịu đau khổ, hai linh mục vẫn cương quyết rao giảng về Chúa Giêsu. Các ngài vẫn giữ tư thế cầu nguyện ngay cả trong chốn lao tù khủng khiếp ấy. Các ngài thật sự sẵn lòng hiến dâng hết những đau khổ của mình cho Thiên Chúa. Faustinô và Giôvita đã khích lệ nhau hãy cứ can đảm dù có phải chết vì Đức Chúa Giêsu như các thánh tử đạo. Cả hai anh em vẫn một lòng cương quyết giữ vững niềm tin và tình yêu đối với Chúa Giêsu cho tới lúc chịu tử đạo. Chúng ta không biết được chính xác ngày về trời của các ngài. Tuy nhiên, tấm gương anh dũng của các thánh Faustinô và Giôvita thật là một ký ức thiêng liêng và là một hiệu lệnh đánh thức tất cả mọi người chúng ta.

 Thiên Chúa hài lòng biết bao khi thấy anh chị em chúng ta giúp nhau học hỏi về đức tin của mình. Như thánh Faustinô và thánh Giôvita, anh chị em hãy khuyên bảo nhau yêu mến và sống cho Đức Chúa Giêsu.

 

Ngày 16 tháng 2

Thánh Ônêsimô

Thánh Ônêsimô sống vào thế kỷ thứ nhất. Ngài là một nô lệ ăn cắp của chủ mình và chạy trốn đến Rôma. Nơi đây, Ônêsimô gặp vị đại tông đồ là thánh Phaolô, hiện đang là tù nhân vì đức tin. Phaolô đã đón nhận Ônêsimô với tấm lòng nhân hậu và yêu thương của một người cha tốt lành. Phaolô giúp Ônêsimô nhận ra việc ăn cắp của chủ là hành vi sai trái. Và hơn thế nữa, ngài đã hướng dẫn Ônêsimô đón nhận đức tin Công giáo.

Sau khi trở nên Kitô hữu, Ônêsimô được Phaolô gởi về cho chủ nhân của Ônêsimô, ông Philêmôn, là bạn thân của Phaolô. Nhưng Phaolô không sai người nô lệ trở về một mình mà không bảo vệ anh ta. Phaolô đã “trang bị” cho Ônêsimô một lá thư ngắn gọn nhưng đầy thế giá. Phaolô hy vọng rằng lá thư của ngài sẽ làm cho Ônêsimô, người bạn mới quen biết của ngài, được hài lòng. Phaolô viết cho cụ Philêmôn rằng: “Tôi nài xin cho Ônêsimô, người con yêu dấu của tôi. Tôi gởi nó lại cho anh. Xin anh hãy tiếp nhận nó như tấm lòng của tôi vậy!”

Lá thư cảm động đó chúng ta gặp thấy ở trong Kinh Thánh Tân Ước. Cụ Philêmôn đã nhận lá thư của Phaolô và lời chỉ bảo của ngài. Khi Ônêsimô trở về với người chủ mình, ngài được trả tự do. Sau đó, Ônêsimô trở lại với Phaolô và nên người giúp việc trung thành của Phaolô.

Thánh Phaolô đặt Ônêsimô làm linh mục và giám mục. Người nô lệ năm xưa đã dâng hiến phần đời còn lại của mình để rao giảng Tin mừng là Lời đã làm thay đổi toàn bộ đời sống của ngài. Người ta cho rằng trong thời gian Giáo hội bị bách hại, Ônêsimô đã bị xiềng đến Rôma và bị ném đá.

 Nếu đã lỡ làm cho ai bị tổn thương trong bất cứ cách nào, chúng ta hãy cố tìm dịp xin lỗi ngay. Thiên Chúa sẽ hài lòng khi thấy chúng ta biết nhận lỗi, và Người sẽ chúc lành cho chúng ta như đã chúc lành cho Ônêsimô.

 

Ngày 17 tháng 2

Bảy anh em lập dòng Tôi Tớ Đức Mẹ

Bảy vị thánh này sống vào thế kỷ thứ mười ba ở thành phố Florentia, nước Ý. Mỗi vị có một lòng yêu mến rất đặc biệt đối với Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ Thiên Chúa. Các ngài là những thành viên năng động của hiệp hội Đức Trinh Nữ Maria.

Cách thức các ngài trở thành những người lập dòng Tôi Tớ thật đặc biệt. Vào ngày lễ Đức Mẹ hồn xác lên trời, khi bảy anh em đang chìm đắm trong cầu nguyện thì Đức Mẹ đã hiện ra với các ngài. Đức Mẹ gợi hứng cho các ngài từ bỏ thế gian và sống cho riêng mình Thiên Chúa. Sau nhiều năm sống như các ẩn sĩ, các ngài đến gặp đức giám mục và xin đức giám mục một luật sống để tuân giữ. Vị giám mục khuyến khích các ngài hãy cầu nguyện và xin Đức Mẹ soi sáng hướng dẫn. Rồi một ngày kia Đức Mẹ lại hiện đến với các ngài, mình vận một áo dòng màu đen, bên cạnh là một thiên thần mang theo một cuộn giấy với hàng chữ: “Những Tôi Tớ Đức Mẹ.” Trong thị kiến này, Đức Mẹ nói rằng Đức Mẹ đã chọn các ngài làm tôi tớ của Người. Đức Mẹ xin các ngài mang tu phục màu đen. Và đây chính là bộ tu phục các ngài đã vận từ năm 1240. Các ngài cũng bắt đầu sống cuộc đời tu trì theo luật dòng thánh Augustinô.

Các ngài đã giúp nhau yêu mến và phục vụ Thiên Chúa. Sáu người trong nhóm được thụ phong linh mục. Tên của sáu vị là: Bôphiliô, Amađêô, Hiuzơ, Sôstơns, Manêtô và Buônagiunta. Vị sáng lập thứ bảy, Alêxis, ở lại làm tu sĩ vĩnh viễn. Với lòng khiêm nhượng, ngài đã không chọn làm linh mục.

Có nhiều anh em đã đến xin gia nhập hiệp hội của các ngài. Các ngài được biết đến dưới danh hiệu “Những Đầy Tớ của Đức Mẹ” hay “Những Người Tôi Tớ.”

Dòng Tôi Tớ Đức Mẹ được tòa thánh Vatican chấp nhận năm 1259. Bảy vị sáng lập thánh thiện này đã được đức thánh cha Lêô XIII tôn phong hiển thánh năm 1888.

Như bảy vị thánh này, chúng ta hãy yêu mến Đức Mẹ và xin Người giúp chúng ta mỗi khi gặp gian nan khốn khó.

 

Ngày 18 tháng 2

Thánh Bênađetta

Thánh nữ Bênađetta sinh ngày 7 tháng Giêng năm 1844 tại Lộ Đức, nước Pháp. Song thân ngài rất nghèo; và Bênađetta thường hay đau bệnh.

Vào thứ Năm, ngày 11 tháng Hai năm 1858, Bênađetta được sai đi kiếm củi với người em gái và một người bạn khác. Một Bà Đẹp đã hiện ra với Bênađetta phía trên bụi hồng ở hang đá Masabilê. Bà vận một bộ đồ màu xanh trắng. Bà mỉm cười với Bênađetta. Rồi, Bà làm dấu Thánh Giá với chuỗi Mân Côi trắng ngà ánh vàng. Bênađetta liền quỳ xuống, lấy tràng chuỗi ra và bắt đầu lần hạt.

Bà Đẹp chính là Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ Thiên Chúa. Bà đã hiện ra với Bênađetta hết thảy 18 lần và nói chuyện với Bênađetta. Bà nói Bênađetta hãy cầu nguyện cho các tội nhân và hãy sám hối ăn năn. Bà Đẹp cũng nói với Bênađetta hãy xin các linh mục xây một nguyện đường nhỏ nơi đó để tôn kính Bà.

Nhiều người đã không tin khi nghe Bênêđetta thuật lại thị kiến đó. Bênađetta phải đau khổ rất nhiều. Nhưng một ngày kia, Đức Mẹ nói với Bênađetta hãy đào sâu xuống bùn. Đang lúc Bênađetta đào thì một dòng nước bắt đầu vọt lên. Ngày hôm sau, nó càng chảy nhiều hơn, nhiều hơn nữa. Và khi người ta dùng nước này, nhiều phép lạ đã xảy ra!

Đến tuổi trưởng thành, Bênađetta dâng mình cho Thiên Chúa. Thánh nữ luôn sống khiêm tốn. Bênađetta ao ước đừng có ai tôn vinh ca ngợi mình. Ngài không muốn được đối xử đặc biệt chỉ vì đã được nhìn thấy Đức Mẹ Maria. Dù sức khỏe yếu kém, Bênađetta cũng vẫn cố gắng giúp đỡ những chị em cao niên và đau bệnh. Thánh nữ qua đời năm1879, lúc được 36 tuổi. Những lời sau cùng của Bênađetta là: “Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời, xin cầu cho con là kẻ tội lỗi nghèo hèn!” Đức thánh cha Piô XI tôn phong Bênađetta lên bậc hiển thánh ngày 8 tháng Mười Hai năm 1933.

 Như Bênađetta, chúng ta hãy sống thân mật với Đức Mẹ Maria bằng việc đọc kinh Mân Côi mỗi ngày. Chúng ta có thể dâng chuỗi Mân Côi với nhiều ý chỉ, nhất là cho những người sống trong tội lỗi được ơn hoán cải.

 

Ngày 19 tháng 2

Thánh Barbatô

Thánh Barbatô sinh năm 612 tại miền Bênêventô, nước Ý. Barbatô được hấp thụ nền giáo dục Kitô giáo; và vì thế, Barbatô có một đời sống đạo hạnh tốt lành. Barbatô sống đức tin của mình cách nghiêm túc và đặc biệt là ngài rất thích đọc Kinh Thánh. Barbatô được thụ phong linh mục ngay khi vừa đủ tuổi. Sau đó ngài được bổ nhiệm làm linh mục chánh xứ. Nhưng đời sống của một chủ chăn thật không được dễ dàng thoải mái! Một số người không thích Barbatô nói động đến lối sống của họ. Thánh Barbatô khuyên dụ họ hãy sống tốt hơn. Ngài nhắc họ hãy ăn năn hối cải những tội lỗi của họ. Có vài người đã tức giận. Họ hành hạ làm khổ Barbatô và cuối cùng ép buộc Barbatô phải rời khỏi xứ đạo.

Vị linh mục trẻ hối hận. Ngài trở về Bênêventô nơi ngài sinh trưởng. Ở đây, Barbatô được tiếp đón rất nồng hậu. Nhưng cũng có những khó khăn nơi thành phố này. Nhiều người theo đạo Công giáo vẫn giữ lại những ngẫu tượng trong nhà của họ. Họ thấy thực là điều khó khi phải bỏ đi những bùa ngải ấy. Họ tin vào quyền phép ma thuật. Thánh Barbatô rao giảng chống lại những mê tín dị đoan này. Nhưng do họ vẫn cương quyết giữ lấy những ngẫu tượng của họ, nên thánh Barbatô báo cho họ biết vì tội lỗi này, thành phố của họ sẽ bị quân thù tấn công; và đã xảy ra đúng như vậy.

Về sau, dân thành từ bỏ lầm lỗi của họ và hòa bình đã trở lại. Rồi, thánh Barbatô được tấn phong làm giám mục. Thánh nhân vẫn tiếp tục công việc cải hóa đoàn chiên của ngài. Ngày 29 tháng Hai năm 682, thánh Barbatô qua đời, thọ 70 tuổi.

Cũng như thánh Barbatô, các cha xứ của chúng ta muốn chúng ta trở nên tốt lành để được vào thiên đàng. Chúng ta hãy cố gắng lắng nghe và vâng theo lời khuyên dạy của các ngài.

 

Ngày 20 tháng 2

Thánh Êusêriô

Thánh Êusêriô sinh vào thế kỷ thứ tám tại thành phố Ôlanh, nước Pháp. Êusêriô được hấp thụ một nền giáo dục Kitô giáo. Câu nói trích trong thư thứ nhất của thánh Phaolô tông đồ gởi tín hữu Côrintô: “Thế gian mà chúng ta xem thấy đây đang qua đi” (1 Cor 7,31) đã gây cho Êusêriô một ấn tượng rất sâu sắc. Câu nói ấy giúp Êusêriô nhận ra rằng cuộc sống của chúng ta trên trái đất này thật rất ngắn ngủi; thiên đàng và hỏa ngục mới là nơi vĩnh cửu. Ngài quyết định tìm kiếm những niềm vui thiên đàng bằng cách chỉ sống cho riêng mình Thiên Chúa.

Năm 714, thánh Êusêriô rời bỏ gia đình giàu có của ngài và vào tu trong đan viện Bênêđictô. Êusêriô đã trải qua 7 năm ở đó sống liên kết mật thiết với Thiên Chúa. Năm 721, sau khi người cậu là giám mục giáo phận Ôlanh qua đời, Êusêriô được chọn thay vào chức vị này. Êusêriô tuy lúc ấy mới chỉ được 25 cái xuân xanh nhưng rất khiêm tốn. Ngài không muốn rời xa đan viện thân yêu của ngài. Nước mắt dàn giụa, thánh Êusêriô đã xin đặc ân được ở lại một mình với Thiên Chúa trong đan viện. Nhưng sau cùng, Êusêriô đã chấp nhận vì lòng yêu mến đức vâng lời. Êusêriô là vị giám mục khôn ngoan, thánh thiện. Thánh nhân đã giúp ích nhiều cho các linh mục và bổn đạo trong giáo phận của ngài.

Carôlô Máctel, một nhân vật đầy quyền lực thuộc phe chính trị, thường hay lấy một số tiền của Giáo hội để ủng hộ và giúp đỡ những cuộc chiến tranh của ông. Và bởi giám mục Êusêriô nói cho Carôlô biết điều đó là sai, Carôlô đã tống giam Êusêriô vào tù. Êusêriô bị trục xuất lần thứ nhất đến Côlônha, rồi đến một pháo đài gần Liêzơ. Nhưng viên thống đốc coi sóc Êusêriô đã lợi dụng tấm lòng hiền lành và khiêm nhượng của vị giám mục để thu dụng các kẻ thù của ông. Sau đó ít lâu, ông lặng lẽ giải thoát vị giám mục khỏi cảnh tù đày và gởi ngài vào một tu viện. Ở đây, trong sự thanh vắng, thánh nhân đã dùng cả quãng thời gian còn lại để cầu nguyện cho đến khi qua đời năm 743.

Chúng ta hãy suy nghĩ về lời khuyên tốt lành của thánh Phaolô gởi cho các tín hữu Côrintô: “Thế giới của chúng ta đây đang qua đi.” Những lời này sẽ giúp chúng ta suy nghĩ nhiều hơn về mục đích vĩnh hằng của mình là thiên đàng.

 

Ngày 21 tháng 2

Thánh Phêrô Đamianô

Thánh Phêrô Đamianô sinh năm 1007. Khi còn rất nhỏ, Phêrô Đamianô đã phải mồ côi cả cha lẫn mẹ. Phêrô được một người anh lớn nhận cho ở trọ. Anh này đã lăng mạ chửi rủa và hay bỏ đói ngài. Một người anh khác cùng tên Đamianô, thấy hoàn cảnh thực tế của cậu em, đã dẫn ngài về nhà riêng của mình. Thế rồi, cuộc đời của Phêrô chuyển sang một bước ngoặt hoàn toàn mới. Phêrô được quan tâm và được đối xử yêu thương. Phêrô rất biết ơn người anh đến nỗi khi trở thành tu sĩ, ngài đã lấy tên là Đamianô theo người anh yêu quý của mình. Đamianô cung cấp cho Phêrô ăn học và khuyến khích việc học của em. Cuối cùng, Phêrô thành tài và đã giảng dạy tại đại học khi mới ở độ tuổi 20! Người ta đều biết Phêrô là một giáo sư ưu tú. Nhưng Thiên Chúa đã hướng dẫn Phêrô bằng những phương cách mà chính thánh nhân cũng không thể nào hiểu được.

Thánh Phêrô Đamianô sống trong thời đại mà nhiều người trong Giáo hội quá bị chi phối bởi những mục đích trần tục. Phêrô nhận thấy rằng Giáo hội thánh thiện có ân sủng từ Chúa Giêsu hầu cứu chuộc tất cả mọi người. Ngài mong ước Giáo hội chiếu giãi sự thánh thiện của Chúa Giêsu. Sau 7 năm giảng dạy, Phêrô Đamianô đã quyết định đi tu. Ngài muốn sống phần đời còn lại của ngài trong cầu nguyện và sám hối. Phêrô Đamianô sẽ cầu nguyện và hy sinh để nhiều người trong Giáo hội trở nên thánh thiện. Rồi Phêrô gia nhập đan viện của thánh Rômualđô. Phêrô Đamianô viết quy luật cho các tu sĩ. Ngài cũng viết tiểu sử về thánh Rômualđô, vị sáng lập thánh thiện của họ. Phêrô Đamianô cũng viết nhiều tác phẩm thần học để giúp người giáo dân đào sâu thêm lòng tin của mình. Đan viện phụ của Phêrô Đamianô đã hai lần sai ngài đến các đan viện lân cận. Ngài khuyến khích các đan sĩ thực hành những cải cách canh tân nhằm giúp họ dễ kết hợp thân mật hơn với Thiên Chúa. Các đan sĩ rất biết ơn Phêrô Đamianô vì ngài thật có lòng tốt và đáng kính trọng.

Sau cùng, từ đan viện, Phêrô Đamianô được gọi làm giám mục và hồng y. Suốt quãng đời của mình, Phêrô Đamianô được sai làm những nhiệm vụ quan trọng cho nhiều đức thánh cha. Năm 1072, thánh Phêrô Đamianô qua đời. Đến năm 1828, Phêrô Đamianô được tôn phong làm Tiến sĩ Hội Thánh vì ngài là nhà vô địch trong việc bảo vệ chân lý và kiến tạo hòa bình. Thi sĩ Đantê (1265-1321) đã nhận định sự cao cả của thánh Phêrô Đamianô. Trong vở kịch thơ Diệu Kỳ, thi sĩ đặt thánh Phêrô Đamianô trên “tầng trời thứ bảy.” Đó là nơi mà Thiên Chúa dành cho những người thánh thiện, những người ham thích suy niệm và chiêm ngưỡng Thiên Chúa.

Nhiều năm thơ ấu của thánh Phêrô Đamianô thật buồn thảm và kém may mắn, nhưng Phêrô Đamianô đã học biết cách tìm kiếm Thiên Chúa bằng sự tin cậy trẻ thơ. Phêrô Đamianô dùng những ân lộc của mình để làm cho Đức Chúa Giêsu và Giáo hội của Người được yêu mến và trân trọng hơn. Chúng ta hãy cầu xin thánh Phêrô Đamianô chỉ cho chúng ta biết cách sống quảng đại với Thiên Chúa.

 

Ngày 22 tháng 2

Lễ kính ngai tòa thánh Phêrô

Thánh Phêrô là thủ lãnh của các Tông đồ và là giám mục đầu tiên của Rôma. Đức Chúa Giêsu nói với ngài: “Con là Phêrô, và trên đá này Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy” (Mt 16,18). Sau khi Đức Chúa Giêsu về trời, thánh Phêrô bắt đầu rao giảng Tin mừng. Ngài hướng dẫn một cộng đoàn kitô hữu nhỏ bé nhưng phát triển. Đầu tiên, thánh Phêrô hoạt động ở Giêrusalem và Antiôkia, hai thành phố lớn ở Đông phương. Sau đó, thánh nhân đến rao giảng Tin mừng ở Rôma, thủ đô của thế giới Công giáo.

Tại sao thánh Phêrô phải thực hiện nhiệm vụ lớn lao của mình đối với Thiên Chúa? Người Thầy của Phêrô đã bị người ta đóng đinh nhưng sau đó đã sống lại. Ai sẽ tin được điều đó? Những người ngoại giáo Rôma độc ác sẽ làm át đi tiếng nói của Phêrô dù ngài có thuộc hạng người trung thành thế nào đi nữa! Nhưng Chúa Thánh Linh vẫn hiện diện sống động trong thánh Phêrô. Ngài can đảm tiếp tục sứ mệnh mà Đức Chúa Giêsu đã ủy thác cho ngài. Phêrô không bao giờ chối bỏ Chúa của mình nữa! Phêrô không bao giờ đặt lợi ích riêng của cá nhân mình trên sự thiện hảo của Giáo hội nữa!

Lễ kính ngai tòa thánh Phêrô ở Rôma nhắc nhở chúng ta rằng thánh Phêrô thiết lập cộng đoàn kitô hữu trong thành phố ấy. Chiếc ghế đặc biệt này là biểu hiệu cho quyền bính mà Đức Chúa Giêsu đã trao cho thánh Phêrô. Trước đây, các vua chúa ngồi trên ngai vàng và cai trị dân chúng. Ngai tòa của thánh Phêrô cũng là biểu tượng cho quyền lực xuất phát từ Chúa Giêsu để cai trị Giáo hội.

Thánh Phêrô đã chết vì đức tin; nhưng trải qua các thời đại, luôn luôn có một giám mục Rôma. Ngài được gọi là Giáo hoàng. Đức giáo hoàng cai trị toàn thể Giáo hội như thánh Phêrô nhân danh Đức Chúa Giêsu. Chúng ta cũng gọi đấng kế vị thánh Phêrô là đức thánh cha.

 Chúng ta yêu mến và tôn kính đức thánh cha. Ngài là hiện thân của Đức Chúa Giêsu trên trần gian này. Chúng ta có thể luôn luôn cầu nguyện cho đức thánh cha của chúng ta. Chúng ta cũng có thể xin Thiên Chúa ban cho ngài sức mạnh, ánh sáng và an ủi.

 

Ngày 23 tháng 2

Thánh Pôlycapô

Thánh Pôlycapô sinh vào khoảng giữa những năm 70-80. Ngài trở thành kitô hữu khi các môn đệ của Đức Chúa Giêsu mới chỉ là số ít người. Thực ra, thánh Pôlycapô là môn đệ của một trong các tông đồ đầu tiên là thánh Gioan. Pôlycapô giảng dạy cho người ta biết tất cả mọi điều ngài đã học được nơi thánh Gioan. Pôlycapô làm linh mục rồi giám mục thành Smina (ngày nay là Thổ Nhĩ Kỳ). Thánh Pôlycapô là giám mục thành Smina suốt nhiều năm. Các kitô hữu đều nhận thấy Pôlycapô là một mục tử thánh thiện và can đảm.

Những kitô hữu ở thời đại của Pôlycapô phải giáp mặt với sự bách hại và giết chóc dưới triều đại hoàng đế Marêô Aurêliô. Có ai đó đã phản bội trao nộp Pôlycapô cho các nhà cầm quyền. Khi người ta đến bắt Pôlycapô, thánh nhân đã mời họ cùng dùng bữa với ngài trước hết; rồi sau đó, thánh nhân xin họ để ngài cầu nguyện một lát. Quan tòa đã thúc ép giám mục Pôlycapô hãy cứu lấy mình khỏi chết bằng cách nguyền rủa Đức Chúa Giêsu. “Tôi đã phục vụ Chúa Giêsu suốt cả đời tôi,” thánh nhân trả lời, “và Người chưa bao giờ đối xử bất công với tôi điều gì. Làm sao tôi lại có thể nguyền rủa Vua tôi, Đấng đã chết vì tôi?”

Sau đó, binh lính trói tay thánh Pôlycapô lại sau lưng. Rồi họ đặt vị giám mục già trên một đống lửa nóng bừng. Nhưng ngọn lửa không làm hại Pôlycapô. Sau đó, một người trong đám lính lấy ngọn giáo đâm vào trái tim ngài. Và thế là, vào năm 155, Pôlycapô đã tử vì đạo. Mãi mãi Pôlycapô được ở với Thiên Chúa, Đấng mà ngài đã phục vụ cách hết sức can đảm.

Thánh Pôlycapô được mời gọi để bênh vực Đức Chúa Giêsu đến cả mất mạng sống mình. Chúng ta có thể không phải hy sinh mạng sống của mình cho Đức Chúa Giêsu như các thánh tử đạo. Dù biết rằng nếu muốn được như thánh Pôlycapô, chúng ta sẽ phải thực hiện những chọn lựa thích hợp. Khả năng lựa chọn của chúng ta cũng sẽ quyết định loại ngôn ngữ chúng ta sử dụng, cách thức chúng ta cư xử với gia đình, người thân, với hàng xóm, bạn bè. Chúng ta sẽ chọn là loại Kitô hữu nào?

 

 

Ngày 24 tháng 2

Thánh Môngtanô, Luxiô và các bạn tử đạo

Suốt những ngày đầu của Giáo hội sơ khai, hoàng đế Valêriô bách hại các Kitô hữu thật khốc liệt. Ông đã cho hành quyết thánh Cyprianô vào tháng Chín năm 258. Viên thống đốc Rôma, người tuyên án Cyprianô, đã tự vẫn ít lâu sau đó. Viên tân thống đốc, Sôlôn, suýt là nạn nhân cuộc nổi dậy của một mưu đồ nhằm vào con người ông. Dường như ông nghi ngờ âm mưu phục thù cho cái chết của thánh Cyprianô nên đã bắt giữ 8 người vô tội. Hết thảy đều là Kitô hữu; đa số là giáo sĩ. Các ngài đã từng là môn đồ trung thành của thánh Cyprianô.

Các Kitô hữu được đem xuống những hầm ngục tối. Các ngài nhận thấy những người mà các ngài quen biết cũng có mặt ở đó. Môi trường nhơ bẩn và ẩm thấp bao quanh các ngài. Các ngài nhận ra rằng chẳng bao lâu nữa mình sẽ đối diện với cái chết và đời sau. Các Kitô hữu bị giam giữ nhiều tháng trong tù. Các ngài đã làm việc suốt ngày và thường không nhận được thức ăn và nước uống mà chẳng hiểu tại sao. Vì lý do nào đó mà ở trong những điều kiện dã man như thế, cộng đoàn Kitô hữu nhỏ bé vẫn liên kết và giúp đỡ lẫn nhau. Những giáo dân đã che chở bảo vệ các giám mục, linh mục và các thầy phó tế, là những mục tiêu đáng chú ý cho lòng độc ác của hoàng đế.

Khi người ta điệu các Kitô hữu đến nơi hành quyết, mỗi người đều được phép nói vài lời cuối cùng. Môngtanô, có dáng người cao to khỏe mạnh, đã can đảm phát biểu trước tất cả đám đông Kitô hữu. Ngài nói với họ hãy trung thành với Đức Chúa Giêsu và thà chết còn hơn là chối bỏ đức tin. Luxiô, với vóc người bé nhỏ mảnh mai, bước tới nơi hành quyết cách khoan thai nhẹ nhàng. Ngài bị yếu nhược bởi những tháng tù khắc nghiệt. Thật ra, Luxiô đã phải tựa vào hai người bạn giúp ngài đến vị trí mà người đao phủ đang chờ sẵn. Những giáo dân đứng quan sát đã kêu to lên và nài xin thánh nhân hãy thương đến họ khi được về thiên đàng.

Đang khi từng người trong số những Kitô hữu lần lượt bị chém đầu, đám đông càng lúc càng trở nên can đảm hơn. Họ đã khóc thương những người phải chịu cảnh bất công như thế! Nhưng họ cũng vui mừng vì nhận biết rằng trên thiên đàng, các vị tử đạo này sẽ cầu phúc cho họ.

Thánh Môngtanô, Luxiô và những người bạn của các ngài đã chịu tử đạo năm 259.

Người ta nhận biết các Kitô hữu tiên khởi qua tấm lòng quảng đại và tình yêu thương họ trao cho nhau. Các ngài đã đặt những nhu cầu của tha nhân lên trước những đòi hỏi của bản thân; và đã cố gắng hết mình để vượt qua sự ích kỷ hẹp hòi. Chúng ta hãy nghĩ về một đôi lần nào đó trong cuộc đời của mình khi chúng ta cần quảng đại hơn và bớt ích kỷ hơn trong việc bắt chước các Kitô hữu tiên khởi.

 

Ngày 25 tháng 2

Thánh Xêsariô Nazianzênô

Thánh Xêsariô Nazianzênô sống vào thế kỷ thứ tư tại đất nước mà ngày nay gọi là Thổ Nhĩ Kỳ. Thân phụ ngài là giám mục thành Nazianzênô. Lúc đó, các giám mục và các linh mục có thể được phép kết bạn. Anh trai của Xêsariô là thánh Grêgôriô Nazianzênô, bạn thân của thánh Basiliô. Ngoài việc là một vị thánh, Grêgôriô Nazianzênô còn là một văn gia rất có thế giá trong thời Giáo hội sơ khai. Ngày nay người ta hiện vẫn còn đọc các tác phẩm ngài viết.

Cả Xêsariô và Grêgôriô đều nhận được một nền giáo dục xuất sắc tuyệt vời. Nhưng trong lúc Grêgôriô Nazianzênô muốn trở thành một linh mục thì Xêsariô lại muốn làm một bác sĩ y khoa. Cả hai cùng đi học để thực hiện những mục đích của mình.

Thánh Xêsariô Nazianzênô tốt nghiệp y khoa tại thành Constantinôp. Chẳng bao lâu ngài trở nên một lương y khoa nội rất danh tiếng và đáng tín nhiệm. Thật ra, hoàng đế Constansiô, sống ở Constantinôp, muốn vời Xêsariô đến làm bác sĩ riêng của ông. Xêsariô Nazianzênô cám ơn hoàng đế nhưng từ chối cách dịu dàng. Ngài muốn trở về Nazianzênô, quê thành của ngài.

Tuy nhiên, một thời gian sau, Xêsariô Nazianzênô lại được gọi lên Constantinôp phục vụ hoàng đế. Đây là thời kỳ lịch sử, thời kỳ Julianô bỏ đạo. Người bỏ đạo là người chối bỏ niềm tin vào Kitô giáo. Người đàn ông này đã ban bố nhiều khoản luật chính thức chống đối các Kitô hữu. Tuy thế, ông rất sẵn lòng miễn chuẩn cho Xêsariô vì ngài là một lương y giỏi. Julianô đã cố gắng dụ dỗ thuyết phục vị bác sĩ chối bỏ đức tin. Xêsariô được ban tặng những địa vị, tiền của hối lộ và những đặc ân ưu đãi. Thân phụ và người anh trai của Xêsariô Nazianzênô đã khuyên ngài hãy khước từ những tặng ân đó. Họ đề nghị Xêsariô nên trở về quê nhà để hành nghề thầy thuốc.

Năm 368, thánh Xêsariô Nazianzênô gần như bị thiệt mạng trong một cuộc động đất. Tuy ngài đã thoát nạn bình an nhưng biến cố ấy đã làm cho thánh nhân suy yếu trầm trọng. Xêsariô Nazianzênô cảm thấy như Thiên Chúa nói với ngài hãy sống đời cầu nguyện, xa lánh sự náo nhiệt và xu nịnh của triều đình. Và thế là Xêsariô Nazianzênô đã phân chia của cải mình cho các người nghèo. Thánh nhân bắt đầu sống cuộc đời chay tịnh và cầu nguyện.

Thánh Xêsariô Nazianzênô qua đời sau đó ít lâu vào năm 369. Người anh của Xêsariô Nazianzênô, thánh Grêgôriô, đã thuyết giảng trong thánh lễ an táng ngài.

Hết thảy chúng ta đều có một ơn kêu gọi riêng biệt trong cuộc đời. Thiên Chúa đã trao ban những ân sủng cho chúng ta để chúng ta thực hiện cách mỹ hảo ơn gọi đó. Như thánh Xêsariô Nazianzênô, chúng ta cần biết khôn ngoan lắng nghe những người chúng ta tin cậy. Chúng ta cũng cần phải từ chối nghe theo những người muốn dùng tài năng hay trình độ hiểu biết của chúng ta vào những mục đích sai trái.

 

Ngày 26 tháng 2

Thánh Pôphiriô

Thánh Pôphiriô sinh vào thế kỷ thứ năm trong một gia đình quý tộc giàu có. Khi lên 25 tuổi, Pôphiriô rời khỏi gia đình. Pôphiriô đến Ai Cập để vào tu trong một đan viện. Sau 5 năm, Pôphiriô hành trình tới Giêrusalem. Pôphiriô muốn viếng thăm những nơi mà Đức Chúa Giêsu đã ở khi Người sống trên dương thế.

Pôphiriô được ấn tượng sâu sắc của thánh địa. Lòng yêu mến Chúa Giêsu làm cho ngài ý thức cách sâu xa những nỗi khổ đau của những người dân quê nghèo khó trong thành Thessalônica mà Pôphiriô chưa bao giờ cảm nghiệm được cái nghèo là làm sao! Giờ đây, Pôphiriô vẫn làm chủ tất cả gia sản song thân để lại cho mình. Tuy vậy, chẳng bao lâu, Pôphiriô xin người bạn Marcô đến Thessalônica bán hết mọi thứ cho ngài. Ba tháng sau, Marcô cầm tiền trở về. Thế rồi Pôphiriô đã bố thí tiền bạc cho những người thực sự cần dùng nó.

Lên 40 tuổi, Pôphiriô trở thành linh mục và được trao cho công việc giữ gìn các thánh tích của Thánh Giá Chúa Giêsu. Sau đó, Pôphiriô được bổ nhiệm làm giám mục thành Gaza. Ngài nỗ lực hoạt động để lôi kéo người ta tin vào Đức Chúa Giêsu và chấp nhận đức tin. Nhưng những vất vả khó nhọc của Pôphiriô chỉ sinh hiệu quả chậm và vì vậy, đòi Pôphiriô nhiều kiên nhẫn. Đa số các cư dân lúc đó bị vướng vào những mê tín dị đoan và những tập tục của dân ngoại. Cho dù Pôphiriô có thể ngăn chặn được nhiều thói tục này nhưng thánh nhân cũng đã gặp phải những kẻ thù làm cho ngài hết sức đau khổ.

Cũng có những tín hữu Công giáo ngưỡng mộ và yêu mến Pôphiriô cách đặc biệt. Họ cầu nguyện và hy sinh cho ngài. Họ nài xin Thiên Chúa bảo vệ Pôphiriô. Giám mục Pôphiriô đã dùng nhiều năm để củng cố cộng đoàn Kitô hữu. Ngài rao giảng mọi điều Giáo hội ủy thác. Pôphiriô qua đời năm 420.

 Tấm gương của vị thánh này thách đố chúng ta đừng liên can đến những điều mê tín dại dột. Những bùa ngải ma thuật và các vấn đề tương tự như thế chẳng có giá trị gì. Thiên Chúa trông nom chăm sóc chúng ta và ban cho chúng ta mọi trợ giúp cần thiết nếu chúng ta thành tâm cầu xin Người.

Ngày 27 tháng 2

Thánh Gabriel Mẹ sầu bi

Vị thánh đáng yêu này sinh ở Assisiô, nước Ý vào năm 1838. Lúc rửa tội, thánh nhân đã nhận tên thánh Phanxicô để tỏ lòng tôn kính thánh cả Phanxicô Assisiô. Thân mẫu Phanxicô qua đời lúc ngài mới lên 4. Vì vậy, thân phụ của Phanxicô đã thuê một cô giáo dạy trẻ về nuôi dưỡng ngài và những người con khác.

Phanxicô rất đẹp trai và dễ thương. Thông thường tại các đám tiệc liên hoan, Phanxicô là người được hâm mộ nhất. Phanxicô yêu thích trò vui đùa giễu cợt nhưng ngài cũng có tâm tưởng khác nữa. Đang khi vui vẻ, thỉnh thoảng Phanxicô cảm thấy chán nản. Ngài không thể hiểu được lý do tại sao. Ngài linh cảm thấy trong lòng mình có một sự khao khát Thiên Chúa rất mãnh liệt và những vấn đề quan yếu của cuộc sống.

Hai lần Phanxicô bị bệnh gần chết. Mỗi lần Phanxicô hứa với Đức Mẹ rằng nếu Đức Mẹ chữa cho khỏi thì sẽ đi tu. Cả hai lần, Phanxicô đều được ơn lành bệnh nhưng lại không giữ lời hứa!

Một ngày kia, Phanxicô nhìn thấy người ta đang kiệu bức ảnh Đức Mẹ sầu bi trong một đám rước. Hình như Đức Mẹ đang chăm chú nhìn ngài. Cùng lúc đó, Phanxicô nghe thấy một tiếng nói trong lòng: “Phanxicô, thế gian không ủng hộ con nữa đâu!”

Và điều đó đã xảy ra! Phanxicô vào dòng Thương Khó. Lúc ấy, ngài được 18 tuổi. Phanxicô chọn danh hiệu là Gabriel Mẹ sầu bi.

Thánh Gabriel có lòng yêu mến đặc biệt đối với bí tích Thánh Thể và Mẹ Maria, Mẹ sầu bi. Thánh nhân thích dùng thời giờ tưởng nghĩ về cuộc Thương Khó của Đức Chúa Giêsu và việc Chúa đã chịu đau khổ nhiều vì ngài. Gabriel cũng học cách thực hành đặc biệt hai nhân đức: khiêm nhường và vâng lời. Đặc điểm riêng của Gabriel là hồn nhiên và vui tươi. Trông Gabriel luôn luôn hạnh phúc và ngài lan tỏa niềm hạnh phúc ấy ra cho những người xung quanh.

Thánh Gabriel Mẹ sầu bi về trời ngày 27 tháng Hai năm 1862, chỉ sống được bốn năm trong dòng Thương Khó. Đến năm 1920, Gabriel được đức thánh cha Bênêđictô XV tôn phong lên bậc hiển thánh.

Chúng ta không nên chỉ nghĩ về việc tận hưởng cuộc sống. Chúng ta hãy cầu xin thánh Gabriel Mẹ sầu bi giúp chúng ta tìm ra niềm vui và ý nghĩa đích thực của đời sống chúng ta.

 

Ngày 28 tháng 2

Thánh Rômanô và thánh Lupixinô

Hai vị thánh người Pháp này là anh em ruột sống vào thế kỷ thứ 5. Khi còn trẻ, thánh Rômanô được mọi người mến mộ vì ngài rất tốt lành. Ngài có lòng ham ước nên thánh rất mãnh liệt. Từ khi nhận thức được trên thế giới này người ta quá dễ dàng quên lãng và coi thường Thiên Chúa, thánh Rômanô quyết định sống cuộc đời ẩn sĩ. Trước tiên, Rômanô bàn hỏi với một đan sĩ thánh thiện, rồi ngài tiến hành điều ngài đã quyết định. Rômanô đem theo một cuốn sách. Đó là cuốn Đời sống của các Giáo phụ nơi hoang mạc của tác giả Cassiô. Rômanô cũng mang theo hạt giống để gieo trồng và một ít dụng cụ. Với những thứ dự trữ này, Rômanô vào miền rừng có những dãy núi thuộc giải Jura giữa Thụy Sĩ và Pháp. Rômanô tìm thấy một cây linh sam to lớn và thế là ngài định cư ở dưới gốc cây này. Rômanô dùng thời giờ cầu nguyện và đọc sách. Ngài cũng gieo trồng và chăm nom khu vườn của ngài, một quang cảnh thiên nhiên yên tĩnh đầy thú vị!

Chẳng bao lâu sau đó, người em trai Lupixinô đến xin nhập cuộc với ngài. Rômanô và Lupixinô khác tính nhau. Rômanô thì nghiêm nghị với bản thân mình. Tuy vậy, ngài rất tử tế, hiền lành và đầy tình thông cảm hiểu biết người khác. Lupixinô thì khó khăn nghiêm khắc với chính mình và thường đối xử như vậy cả với tha nhân. Tuy nhiên, Lupixinô có ý tốt. Hai anh em hiểu nhau và sống với nhau rất hòa hợp.

Rồi có nhiều thanh niên đến xin gia nhập với các ngài. Họ cũng muốn trở nên những đan sĩ. Vì thế các ngài xây cất hai đan viện. Rômanô và Lupixinô, mỗi người là đan viện phụ của một  đan viện. Các đan sĩ sống cuộc đời khó khăn và giản dị. Họ cầu nguyện nhiều và hy sinh làm việc cách vui vẻ. Họ ăn năn sám hối để củng cố ơn gọi của mình. Họ vất vả làm việc đồng áng để tăng thêm thực phẩm và luôn luôn giữ luật thinh lặng. Họ quyết định sống như thế vì mối quan tâm chính yếu của họ là kết hợp mật thiết với Thiên Chúa. Lối sống này giúp họ dễ hướng về cùng đích siêu nhiên.

Thánh Rômanô về trời năm 460. Người em trai của ngài, thánh Lupixinô, qua đời năm 480.

Thánh Rômanô và thánh Lupixinô, cả hai đều là những vị thánh dù các ngài có những cá tính khác nhau. Chúng ta hãy học nơi hai vị thánh điểm này là tất cả chúng ta đều có những ân sủng và những tài năng mà chúng ta có thể dùng để đem người khác đến gần Thiên Chúa. Điều Thiên Chúa kiếm tìm là tấm lòng sẵn sàng hy sinh của chúng ta.

 

Tháng 03

Các Thánh Dành Cho Bạn Trẻ

 

Ngày 01: Thánh Phêlích II

Ngày 02: Chân phước Carôlô nhân hậu

Ngày 03: Thánh Catarina Đrêxel

Ngày 04: Thánh Casimia

Ngày 05: Thánh Gioan Giuse Thánh Giá

Ngày 06: Thánh Côlét

Ngày 07: Thánh Pécpêtua và thánh Phêlixita

Ngày 08: Thánh Gioan Thiên Chúa

Ngày 09: Thánh Phanxica Rômana và Thánh Đa Minh Saviô

Ngày 10: Thánh Simplixiôâ

Ngày 11: Thánh Êulôgiô Tây Ban Nha

Ngày 12: Thánh Phina (Sêraphina)

Ngày 13: Thánh Êuphrasia

Ngày 14: Thánh Matilđa

Ngày 15: Thánh Dacaria

Ngày 16: Chân phước Tôrêlô

Ngày 17: Thánh Patriciô

Ngày 18: Thánh Syrilô Giêrusalem

Ngày 19: Thánh Giuse

Ngày 20: Thánh Cubơ

Ngày 21: Thánh Sêrapiôntc

Ngày 22: Thánh Đêôgraxia

Ngày 23: Thánh Turibiô Môngrôvêjô

Ngày 24: Chân Phước Đađicô

Ngày 25: Lễ truyền tin cho Đức Maria

Ngày 26: Thánh Lugiơ

Ngày 27: Thánh Gioan Ai Cập

Ngày 28: Thánh Tutilô

Ngày 29: Thánh Giona và thánh Barakisiô

Ngày 30: Thánh Gioan Climacô

Ngày 31: Chân phước Gioan Tuluz

 

 

Ngày 1 tháng 3

Thánh Phêlích II

Thánh giáo hoàng này là vị tiền nhiệm của thánh giáo hoàng tương lai Grêgôriô cả (sống từ năm 540 đến năm 604). Thánh Grêgôriô cả viết rằng khi người cô của ngài, là thánh nữ Tarsila, đang hấp hối thì giáo hoàng Phêlích II đã hiện ra với cô. Ngài vẫy tay chào cô rồi ngài về thiên đàng. Vậy thánh giáo hoàng Phêlích II là ai? Và trong cuộc đời, những sự kiện thực tiễn nào đã làm cho Phêlích II nên thánh?

Dù không có nhiều chi tiết lắm nhưng chúng ta cũng biết được Phêlích là người Rôma. Ngài có tấm lòng tử tế đôn hậu và can đảm ngay trong những thời buổi khó khăn bất ổn. Phêlích II lên ngôi giáo hoàng năm 483. Vì những giáo huấn sai lầm mà nhiều nhóm người trong Giáo hội đã tự phân chia. Những nhân tố liên quan đến chính trị đã gây nhiều khó khăn cho sứ vụ của vị giáo hoàng này. Nhưng Phêlích vẫn một mực tỏ ra can đảm trong việc bảo vệ các chân lý đức tin và quyền lợi của Giáo hội. Nhiều người sánh ví Phêlích II với thánh giáo hoàng Lêô cả (về trời năm 461). Thánh giáo hoàng Phêlích II có một lối quan sát chung thật chính xác. Thánh nhân đã cố gắng nắm bắt và giải quyết nhiều vấn đề của Giáo hội nơi những miền khác nhau trên thế giới.

Thánh Phêlích II làm giáo hoàng được chín năm. Người ta sẽ tưởng nhớ đến thánh nhân như ngài đã luôn luôn trung thành với Đức Chúa Giêsu và Giáo hội của Người. Thánh giáo hoàng Phêlích II qua đời năm 492.

 Chẳng bao lâu hết thảy chúng ta sẽ nhận thức rõ được rằng cuộc sống phải có sự đóng góp và chia sẻ những trách nhiệm, những ràng buộc của nó. Đôi khi chúng ta nghĩ mình không muốn bị ràng buộc bởi bất cứ người nào hoặc vật gì có thể hạn chế chúng ta. Những lúc ấy, chúng ta hãy cầu khấn với thánh Phêlích II và xin ngài ban cho tấm lòng khoan dung quảng đại và can đảm trung thành với những điều chúng ta đã cam kết.

 

Ngày 2 tháng 3

Chân phước Carôlô nhân hậu

Bá tước Carôlô Flăngđơ được thần dân trong tiểu quốc của ngài gọi là “nhân hậu.” Họ đặt cho Carôlô Flăngđơ cái tên đó bởi vì họ thấy ngài thực sự đúng như vậy. Carôlô Flăngđơ là con trai của thánh vương Canut, vua nước Đan Mạch. Lúc vua cha bị ám sát năm 1086, Carôlô mới được 5 tuổi. Khi lớn lên, Carôlô cưới Magarita, một thiếu nữ trẻ đẹp tốt lành, làm vợ. Carôlô là nhà lãnh đạo có tính ôn hòa, hiền dịu và công bằng. Thần dân rất tín nhiệm Carôlô và luật lệ của ngài. Carôlô cố gắng trở nên tấm gương sáng mà ngài mong muốn thần dân noi theo.

Một số quý tộc đã tố cáo Carôlô hành xử bất công vì chuyện ưu đãi và bênh vực người nghèo hơn người giàu. Carôlô tử tế trả lời rằng: “Đó là vì tôi quá biết những cảnh khó khăn của người nghèo và niềm kiêu hãnh của người giàu!” Những người nghèo khổ trong vương quốc được nuôi ăn hằng ngày tại lâu đài của Carôlô.

Carôlô Flăngđơ ra lệnh cho những người giàu trồng cấy các vụ mùa để thần dân có nhiều của ăn với giá cả phải chăng. Một số nhà giàu đã cố tích trữ lúa thóc để bán với giá đắt đỏ. Carôlô “nhân hậu” nghe biết điều đó liền lập tức bắt họ phải bán với giá bình thường. Carôlô đã khiển trách một người cha có uy thế lớn và các con ông vì những sách lược bạo hành của họ. Và họ liền cấu kết với một nhóm kẻ thù nhỏ đang muốn hãm hại Carôlô.

Mỗi sáng, bá tước Carôlô đi chân không đến tham dự thánh lễ và thường tới nhà thờ thánh Đônasianô rất sớm. Ngài làm việc này với tinh thần sám hối và đền tội. Carôlô mong muốn đào sâu hơn đời sống thiêng liêng của ngài với Thiên Chúa. Các kẻ thù biết Carôlô thường cầu nguyện một mình trước giờ lễ. Có nhiều người yêu mến Carôlô đã lo lắng cho tính mạng của ngài. Họ báo cho Carôlô biết quãng đường dẫn đến nhà thờ Đônasianô có thể đưa ngài tới chỗ chết. Nhưng Carôlô đáp lời họ rằng: “Chúng ta luôn luôn ở giữa những nguy hiểm, nhưng chúng ta thuộc về Thiên Chúa!” Rồi vào một buổi sáng kia, đang khi cầu nguyện một mình trước bức ảnh Đức Mẹ, Carôlô Flăngđơ đã bị các kẻ thù tấn công và giết chết. Carôlô Flăngđơ được phúc tử vì đạo năm 1127. 

Nếu chúng ta muốn làm một việc có ý nghĩa, chúng ta hãy noi gương bắt chước chân phước Carôlô nhân hậu. Ngài đã để cho tình yêu Đức Chúa Giêsu ảnh hưởng trên đời sống thường nhật của ngài. Mỗi sáng khi rời khỏi nhà thờ, Carôlô thật sự bắt đầu “sống thánh lễ.” Chúng ta cũng hãy nài xin chân phước Carôlô nhân hậu giúp chúng ta biết sống như ngài.

 

Ngày 3 tháng 3

Thánh Catarina Đrêxel

Thánh nữ Catarina Đrêxel sinh ngày 26 tháng Mười Một năm 1858 ở Philađelphia thuộc tiểu bang Pensylvania, nước Mỹ. Thân mẫu Catarina qua đời khi Catarina còn rất nhỏ. Thân phụ Catarina kết hôn lần hai với một người đàn bà tuyệt vời tên là Emma. Bà dưỡng dục Luy, đứa con riêng của họ. Bà cũng là một người mẹ đáng yêu đối với hai cô gái nhỏ của Đrêxel do cuộc hôn nhân trước. Chúng tên là Êlisabeth và Catarina. Các bé gái có tuổi thơ ấu thật dễ thương. Dù gia đình giàu có, các bé cũng được dạy bảo phải có lòng yêu thương đối với người đồng loại. Cách riêng, các bé được chỉ dạy phải quan tâm đến những người nghèo. Đây là cách thức biểu lộ lòng yêu mến của các bé đối với Thiên Chúa.

Khi lớn khôn, Catarina là một tín hữu Công giáo rất năng động. Catarina rất rộng rãi trong việc sử dụng thời giờ và tiền bạc của mình. Catarina nhận thấy rằng Giáo hội có nhiều nhu cầu cần thiết. Catarina dành hết mọi khả năng cũng như tài sản của mình để săn sóc những người nghèo khổ và bị bỏ rơi. Việc làm Catarina dâng cho Đức Chúa Giêsu là sống giữa những người Mỹ gốc Phi và những người Mỹ bản xứ. Năm 1891, Catarina lập một cộng đoàn thừa sai mới, gọi là dòng các Chị Em Tôn Sùng Bí Tích Thánh Thể. Catarina được mọi người biết đến với danh hiệu là Mẹ Catarina.

          Các nữ tu trong dòng của Mẹ Catarina đặt Chúa Giêsu Thánh Thể làm trung tâm chính yếu của đời sống. Họ dâng hiến tình yêu và khả năng của mình để phục vụ những người Mỹ gốc Phi và những người Mỹ bản xứ. Sau đó, Mẹ Catarina nhận được phần gia sản của gia đình Mẹ và Mẹ đã dùng số tiền ấy cho những công việc bác ái cao cả. Mẹ và các nữ tu của Mẹ mở các trường học, các nữ tu viện và các cộng đoàn truyền giáo. Năm 1925, họ thiết lập trường đại học Xaviê ở Niu Ôlin. Suốt cả quãng đời dài lâu và hữu ích, Mẹ Catarina đã dùng hàng triệu đôla của phần tài sản gia tộc Đrêxel để lại cho những công việc cao cả mà Mẹ và các nữ tu dòng Mẹ đã làm cho người nghèo. Mẹ tin rằng Mẹ đã gặp được Đức Chúa Giêsu đang hiện thân thật sự trong bí tích Thánh Thể. Vì vậy, Mẹ cũng tìm gặp Người trong những người Mỹ gốc Phi và những người Mỹ bản xứ mà Mẹ đã phục vụ với đầy tình thương mến.

          Mẹ Catarina Đrêxel về trời ngày mùng 3 tháng Ba năm 1955, hưởng thọ 97 tuổi. Ngày mùng 1 tháng Mười năm 2000, đức thánh cha Gioan Phaolô II đã tôn phong Mẹ Catarina Đrêxel lên bậc hiển thánh.

Mẹ Catarina Đrêxel đã dạy chúng ta một bài học thật quý. Chúng ta có thể dùng đời sống mình để chăm sóc bản thân và lo cho sự thoải mái dễ chịu riêng mình. Tuy nhiên, sống như Mẹ Catarina Đrêxel thật ích lợi hơn nhiều. Vì với cách này, chúng ta có thể giúp đỡ nhiều người khác.

 

Ngày 4 tháng 3

Thánh Casimia

Thánh Casimia sinh năm 1458, là con trai của Casimia IV, vua nước Ba Lan. Casimia là một trong mười ba người con. Với sự hướng dẫn của người mẹ rất mực đạo hạnh và cũng là người thầy tận tâm tận lực, Casimia nhận được một nền giáo dục thật tuyệt vời.

Khi lên mười ba tuổi, Casimia có cơ hội làm vua nước láng giềng Hungari nhưng ngài đã từ chối. Casimia dùng phần thời giờ còn lại của ngài để sống những lý tưởng Kitô giáo. Casimia sống rất vui vẻ, hòa mình và thân ái với mọi người. Ẩn dưới lớp mặt bên ngoài của cuộc sống bận rộn, Casimia đã cố gắng hết sức để trau dồi đời sống thiêng liêng bên trong. Casimia thường hay ăn chay và ngủ dưới nền nhà để sám hối đền tội. Ngài cầu nguyện mỗi ngày, đôi khi ngay cả giữa lúc đêm khuya thanh vắng. Casimia yêu thích việc cầu nguyện và tưởng niệm về cuộc Thương Khó của Đức Chúa Giêsu. Casimia nhận ra đây là phương thế tuyệt hảo để học biết để yêu mến Đức Chúa Giêsu hơn. Casimia cũng yêu mến Đức Mẹ Đồng Trinh Maria với một mối tình đặc biệt. Để tôn kính Đức Mẹ, Casimia đã năng đọc đi đọc lại bài thánh ca ý vị. Tên của bài ca là: “Ngày ngày, hãy hát mừng Mẹ Maria!” Sau này người ta đã chôn táng thánh Casimia cùng với bản viết tay bài hát ấy của ngài.

Tuy sức khỏe của Casimia không được khá lắm nhưng ngài có tính khí thật can đảm và mạnh mẽ. Casimia luôn luôn làm điều ngài nhận biết là phải. Thậm chí đôi khi Casimia đề nghị với thân phụ của ngài, là quốc vương, hãy cai trị thần dân cách công bằng. Casimia luôn luôn bày tỏ việc này với tấm lòng hết sức kính trọng nên vua cha đã làm theo những gì ngài nói.

Thánh Casimia có một tình yêu và niềm tôn trọng đặc biệt đối với đức trinh khiết. Song thân Casimia tìm cho ngài một thiếu nữ đức hạnh trẻ đẹp để làm bạn đường. Tuy thế, Casimia đã quyết định hiến dâng trọn trái tim ngài cho một mình Thiên Chúa. Đang khi ở Lituania trong chuyến công tác phục vụ cho đất nước này, Casimia đã ngã bệnh vì chứng lao phổi. Ngài qua đời lúc vừa được hai mươi sáu tuổi. Đức thánh cha Lêô X đã tôn phong Casimia lên bậc hiển thánh năm 1521. 

Thánh Casimia giúp chúng ta nhận biết rằng dù thân xác chúng ta không được tráng kiện, chúng ta vẫn có thể mạnh mẽ trong tính cách của mình. Chúng ta luôn có thể ủng hộ và bênh vực lẽ phải với cách thức thân thiện tử tế.

 

Ngày 5 tháng 3

Thánh Gioan Giuse Thánh Giá

Thánh Gioan Giuse Thánh Giá sinh ở miền nam nước Ý vào ngày lễ Đức Mẹ mông triệu năm 1654. Gioan Giuse là một quý tộc trẻ tuổi nhưng lại ăn mặc giống như người nghèo. Ngài làm điều đó chỉ vì muốn sống khó nghèo như Đức Chúa Giêsu.

Năm lên 16 tuổi, Gioan Giuse vào tu dòng thánh Phanxicô nghèo. Ngài rất ham thích sống cuộc đời vị tha như Đức Chúa Giêsu. Điều này khiến Gioan Giuse làm nhiều việc hy sinh cách vui vẻ. Mỗi đêm Gioan Giuse chỉ ngủ ba giờ đồng hồ và chỉ ăn uống rất đơn sơ giản dị.

Rồi, Gioan Giuse được thụ phong linh mục. Gioan Giuse làm bề trên tu viện Santa Luxia ở Napôli, nơi ngài sống hầu như cả cuộc đời lâu dài ở đó. Cha Gioan Giuse luôn luôn đòi làm những công việc nặng nhọc nhất. Ngài vui vẻ chọn làm những phần việc mà không ai muốn làm.

Thánh Gioan Giuse có một tính tình rất đáng yêu nhưng ngài đã không gắng công lôi kéo sự chú ý của bất kỳ ai. Thay vì đợi cho người ta nhận ra những ân lộc của mình và tiến đến với mình thì Gioan Giuse đã đi đến với tha nhân trước. Hết thảy mọi anh em linh mục và tu sĩ đều xem Gioan Giuse là một linh mục đáng quý. Thánh nhân cũng đặc biệt yêu mến Đức Thánh Trinh Nữ Maria và cố gắng giúp cho người khác cũng yêu mến Đức Mẹ.

Vị linh mục yêu mến Thiên Chúa nhiều đến độ dù ngã bệnh cũng vẫn tiếp tục làm việc. Thánh Gioan Giuse Thánh Giá qua đời ngày mùng 6 tháng Ba năm 1734, thọ 80 tuổi. Năm 1839, ngài được đức thánh cha Piô VIII tôn phong lên bậc hiển thánh.

 Tình yêu đối với Thiên Chúa và tha nhân của thánh Gioan Giuse Thánh Giá thật quảng đại. Thánh nhân mời gọi chúng ta hãy vượt thắng sự ích kỷ hẹp hòi để giữ chúng ta lại trên cuộc hành trình đến với Thiên Chúa. Chúng ta hãy cố gắng cư xử với mọi người bằng tấm lòng tử tế và tôn trọng nhau trong sự bình đẳng dù chúng ta có thể yêu thích một số người này hơn một số người kia.

 

Ngày 6 tháng 3

Thánh Côlét

Sinh năm 1380, Nicôlét được đặt tên để tỏ lòng tôn kính thánh Nicôla Myra. Song thân yêu quý đặt cho ngài tên hiệu Côlét ngay từ khi thánh nữ còn là đứa trẻ sơ sinh. Thân phụ của Côlét làm nghề thợ mộc tại nơi mà trước đây từng là tu viện ở thị trấn Picacđi. Âm thầm và chăm chỉ, Côlét là người rất hữu ích trong việc giúp đỡ thân mẫu quán xuyến việc nhà. Cha mẹ Côlét chú ý theo dõi việc ham thích cầu nguyện và bản tính nhạy cảm, đáng yêu của Côlét.

Khi thánh nữ Côlét lên 17 tuổi, song thân qua đời. Người thiếu nữ này được đặt dưới sự quản nhiệm của đan viện phụ đan viện nơi thân phụ ngài đã giúp việc ngày xưa. Côlét đã xin và nhận được một túp lều dựng gần nguyện đường của đan viện. Côlét sống ở đó. Thánh nữ dùng thời giờ để làm việc hy sinh và cầu nguyện cho Giáo hội của Đức Chúa Giêsu. Càng ngày càng có nhiều người nhận biết về người thiếu nữ thánh thiện này. Họ đến thăm và xin Côlét lời khuyên về những vấn đề quan trọng. Họ biết Côlét khôn ngoan bởi vì thánh nữ sống gần gũi thân mật với Thiên Chúa. Côlét tiếp đón mọi người với tấm lòng thân ái dịu dàng. Sau mỗi cuộc thăm viếng, Côlét đã cầu nguyện để những người khách của thánh nữ tìm lại được bình an tâm hồn.

Thánh nữ Côlét là hội viên của dòng Ba Phanxicô. Thánh nữ biết luật dòng thánh Clara sống theo lối thánh Phanxicô. Họ được đặt tên theo danh xưng của thánh Clara, vị sáng lập của họ, cũng là môn đệ của thánh Phanxicô. Trong thời của Côlét, dòng thánh Clara cần phải quay trở về với mục đích chính yếu của dòng. Thánh Phanxicô Assisiô đã hiện ra với thánh Côlét và xin thánh nữ canh tân hội dòng. Hẳn là Côlét rất đỗi ngạc nhiên và lo sợ trước một nhiệm vụ khó khăn như thế! Nhưng thánh nữ tin tưởng vào ơn Thiên Chúa. Thánh Côlét hành trình đến các nữ tu viện. Ngài giúp các nữ tu sống khó nghèo và chuyên cần cầu nguyện hơn.

Đời sống của thánh nữ Côlét gợi hứng cho các nữ tu dòng thánh Clara. Côlét có lòng sùng kính đặc biệt đối với Chúa Giêsu Thánh Thể. Côlét cũng hay dùng thời giờ để suy gẫm về cuộc Khổ Nạn và Sự Chết của Đức Chúa Giêsu. Thánh nữ rất yêu mến Đức Chúa Giêsu và ơn kêu gọi tu trì của ngài.

Thánh nữ Côlét được ơn biết chính xác thời giờ mình sẽ chết và sẽ chết ở đâu. Thánh nữ qua đời tại một trong những tu viện ở Ghent, Flăngđơ vào năm 1447, hưởng thọ 67 tuổi. Năm 1807, Côlét được đức thánh cha Piô VI tôn phong lên bậc hiển thánh.

Thánh nữ Côlét khuyên dạy chúng ta rằng dù chúng ta bị yêu cầu làm những công việc khó khăn, chúng ta vẫn có thể tìm được niềm vui như ngài. Chúng ta hãy thực hiện việc này bằng cách mỗi ngày liên kết mật thiết hơn với Thiên Chúa.

 

Ngày 7 tháng 3

Thánh Pécpêtua và thánh Phêlixita

Pécpêtua và Phêlixita sống ở thành phố Cáctagô, Bắc Phi, vào thế kỷ thứ ba. Đây là thời gian các Kitô hữu bị bách hại khốc liệt bởi hoàng đế Septimô Sêvêrô.

Pécpêtua hai mươi hai tuổi là con gái của một nhà quý tộc giàu có. Khi lớn lên, Pécpêtua nhận được mọi thứ ngài muốn. Nhưng Pécpêtua hiểu được mình yêu mến Đức Chúa Giêsu và đức tin Kitô giáo của mình hơn bất cứ sự gì thế gian ban tặng. Vì lý do này, Pécpêtua coi mình như một tù nhân đang trên đường đến nơi hành quyết.

Thân phụ của Pécpêtua là một người ngoại giáo. Ông làm mọi điều có thể hầu thuyết phục cô con gái của ông từ bỏ đức tin Công giáo. Ông dùng thế lực cưỡng ép Pécpêtua hãy cứu lấy mạng sống của ngài. Nhưng Pécpêtua không chịu nhượng bộ dù biết rằng sẽ phải bỏ lại người chồng và đứa con yêu quý.

Phêlixita, người hầu gái của Pécpêtua, là một nô lệ thuộc Kitô giáo. Thánh nữ và Pécpêtua là hai người bạn rất thân. Các ngài cùng có chung một niềm tin và tình yêu dành cho Đức Chúa Giêsu. Phêlixita cũng sẵn lòng hy sinh đời sống mình vì Đức Chúa Giêsu và vì đức tin. Do bởi điều này, Phêlixita cũng nhận thấy bản thân mình chính là tù nhân trên đường hành quyết.

Phêlixita là một người vợ trẻ. Đang khi chịu tù vì đức tin, thánh nữ cũng trở nên một người mẹ. Đứa trẻ bé bỏng được một phụ nữ Công giáo tốt lành nhận làm con nuôi. Phêlixita cảm thấy thật sung sướng hạnh phúc vì giờ đây mình có thể chịu tử vì đạo. Pécpêtua và Phêlixita tay nắm tay cùng anh dũng đối diện với phúc tử đạo. Các ngài bị thú dữ giày xéo và sau đó bị xử trảm. Các ngài mất vào khoảng năm 202.

 Các thánh tử đạo thật trung thành với Chúa Kitô đến nỗi các ngài đã thực hiện những hy sinh lớn lao. Thậm chí các ngài đã từ bỏ mạng sống mình vì Người. Chúng ta cũng hãy nài xin hai thánh Pécpêtua và Phêlixita giúp chúng ta biết vui vẻ chấp nhận những hy sinh nhỏ bé xảy đến trong đời sống thường ngày.

 

Ngày 8 tháng 3

Thánh Gioan Thiên Chúa

Thánh Gioan sinh ngày mùng 8 tháng Ba năm 1495 tại nước Bồ Đào Nha. Cha mẹ Gioan tuy nghèo khổ nhưng rất có tinh thần bác ái. Gioan là cậu bé vất vả: khi thì làm anh chăn cừu, lúc thì làm chú lính, lúc khác lại làm người thủ kho. Suốt những năm ở tuổi thanh niên, Gioan chẳng có lòng mộ đạo gì hết! Gioan và các bạn hữu của ngài đã lãng quên Thiên Chúa. Rồi khi bước vào tuổi 40, tâm hồn Gioan bắt đầu cảm thấy trống vắng. Ngài tiếc nuối về cuộc sống mà ngài đã hoang phí. Trong ngôi thánh đường, Gioan lắng nghe bài giảng của cha Gioan Avila, một vị thừa sai thánh thiện. Ấn tượng về cuộc đời của nhà truyền giáo này đã ảnh hưởng mạnh mẽ trên Gioan Thiên Chúa. Ngài bắt đầu khóc lóc nức nở. Suốt những ngày đầu, thánh Gioan Avila đã giúp Gioan làm lại cuộc đời trong niềm hy vọng và can đảm.

Gioan Thiên Chúa bắt đầu sống một đời sống khác lạ. Gioan cầu nguyện và sám hối hằng ngày. Người ta cho rằng một vị giám mục đã ban tặng cho Gioan tên gọi ấy, bởi vì Gioan đã hoàn toàn thay đổi lối sống ích kỷ để thật sự trở nên giống như “Thiên Chúa.” Dần dần, Gioan Thiên Chúa thấu hiểu được sự nghèo khó và nỗi khổ đau miên man tràn ngập cuộc sống con người. Thế là Gioan bắt đầu dùng thời giờ của mình chăm sóc bệnh nhân nơi các bệnh viện và các nhà thương điên. Rồi Gioan nhận thấy thật đáng buồn là có nhiều người quá nghèo khổ không đủ khả năng để được điều trị tại bệnh viện. Ai sẽ quan tâm chăm lo cho họ đây? Gioan quyết định, vì yêu mến Thiên Chúa, sẽ đảm nhận công việc này.

Khi 45 tuổi, thánh Gioan Thiên Chúa tìm được một căn nhà dành để chăm sóc những người đau ốm nghèo khổ. Căn nhà trở thành một bệnh viện nhỏ nơi mọi người lâm cảnh khó khăn nghèo túng sẽ được tiếp đón ân cần. Dần dà, người ta đến giúp Gioan lập nên một hội dòng chuyên chăm lo cho những người nghèo, gọi là dòng Gioan Thiên Chúa.

Vài người hẳn đã phân vân không biết Gioan có thực thánh thiện như vẻ bên ngoài không! Lần kia, có một vị hầu tước đã cải trang làm một người hành khất. Ông đến gõ cửa nhà Gioan xin của bố thí. Gioan vui vẻ trao cho ông mọi thứ ngài có, ước tính khoảng vài đôla. Lúc đó người hầu tước không tiết lộ tông tích của mình nhưng đã ra đi trong nỗi ấn tượng sâu sắc. Ngày hôm sau, người đưa thư đến trước cửa nhà của Gioan trao cho ngài lá thư giải thích và gởi trả lại số tiền Gioan đã bố thí. Hơn thế nữa, vị hầu tước còn gởi cho ngài 150 chiếc vòng nguyệt quế bằng vàng. Mỗi sáng ông cũng cho người đến bệnh viện phát trứng, thịt và bánh mì nóng. Số lượng đủ dùng cho tất cả các bệnh nhân và các nhân viên phục vụ.

Sau 10 chăm chỉ làm việc trong bệnh viện của mình, bản thân Gioan cũng bị đau bệnh. Năm 1550, Gioan qua đời vào đúng sinh nhật của ngài. Chân phước giáo hoàng Innôcentê XI đã tôn phong Gioan Thiên Chúa lên bậc hiển thánh năm 1690.

 Thánh Gioan Thiên Chúa đã nghe lời khuyên bảo của thánh Gioan Avila và những vị linh hướng khác. Họ đã giúp ngài thực hiện những chọn lựa tối hảo. Hết thảy chúng ta cũng cần đến lời khuyên nhủ tốt lành của những người chúng ta tin cậy.

 

 

Ngày 9 tháng 3

Hôm nay, lịch Rôma hiện hành mừng lễ kính thánh nữ Phanxica Rômana. Bởi cuốn sách này có ý soạn cho các bạn trẻ, nên chúng tôi cũng thêm vào đây tích truyện thánh Đa Minh Saviô được các bạn trẻ rất yêu chuộng, mà lễ kính ngài mừng vào ngày mùng 9 tháng Ba theo lịch cũ kính các thánh.

 

Thánh Phanxica Rômana

Thánh nữ Phanxica Rômana sinh năm 1384. Song thân của ngài là những người giàu có nhưng họ đã dạy cho Phanxica biết quan tâm đến tha nhân và sống đời Kitô hữu tốt lành. Phanxica là một cô bé thông minh lanh lẹ. Phanxica cho cha mẹ biết khi lên 11 tuổi thì sẽ đi tu. Nhưng thay vào đó, họ lại khuyến khích Phanxica nghĩ tưởng đến chuyện kết hôn. Theo truyền thống, họ chọn cho Phanxica một thanh niên trẻ trung tốt lành làm chồng. Khi ấy, Phanxica chỉ mới được 13 tuổi!

Thánh nữ Phanxica và người chồng của ngài, ông Lôrenzô Ponzianô, đã say mê tha thiết yêu nhau. Dù cho cuộc hôn nhân được sắp đặt, họ đã sống đời đôi bạn thật hạnh phúc bên nhau suốt 40 năm. Lôrenzô rất khâm phục người vợ và người chị họ Vannôza của mình. Cả hai cùng cầu nguyện hằng ngày và làm các việc sám hối cho Giáo hội của Chúa. Lúc ấy, Giáo hội đang gặp nhiều thử thách gian truân. Phanxica và Vannôza cũng thăm viếng người nghèo. Họ chăm sóc những người đau ốm. Họ mang lương thực và củi đốt cho những người cần dùng. Các phụ nữ giàu có khác được gợi hứng bởi gương sáng của họ cũng hy sinh đời sống mình và phục vụ nhiều hơn. Phanxica lợi dụng mọi dịp để tăng triển đời sống cầu nguyện. Thánh nữ thực sự sống kết hợp mật thiết với Chúa Giêsu và Mẹ Maria trong cuộc đời của ngài.

Thánh nữ Phanxica và Lôrenzô là những người giàu lòng từ bi trắc ẩn. Các ngài biết phải chịu đau khổ là thế nào! Các ngài đã mất hai trong ba người con vì cơn bệnh dịch. Điều này làm cho các ngài dễ nhạy cảm hơn trước những tình cảnh khó khăn của dân nghèo. Trong suốt những cuộc chiến giữa giáo hoàng hợp lệ và các giáo hoàng đối cử, Lôrenzô đã dẫn dắt những đạo quân bảo vệ đức giáo hoàng đích thực. Đang lúc chiến đấu tại sa trường, các kẻ thù của Lôrenzô đã cướp phá tài sản của ngài. Dầu vậy, Phanxica cũng thu quén được một phần ngôi biệt thự của gia đình đã bị hư hỏng và dâng cho bệnh viện sử dụng. So sánh những khó khăn xảy đến cho gia đình của Phanxica Rômana, thì những cư dân sống trên đường phố vẫn hoạn nạn túng bấn hơn rất nhiều. Sau đó, Lôrenzô bị thương trở về nhà và được chính người vợ yêu quý của mình chữa trị. Ông qua đời năm 1436. Phanxica Rômana dùng bốn năm còn lại của đời mình sống trong hội dòng mà ngài đã giúp thành lập.

Thánh nữ Phanxica Rômana mất ngày mùng 9 tháng Ba năm 1440. Ngài được đức thánh cha Phaolô V tôn phong lên bậc hiển thánh năm 1608.

 Thánh nữ Phanxica Rômana thật hết lòng yêu mến Đức Chúa Giêsu và Giáo hội của Người. Ngài nhận biết được cách tốt nhất để chứng tỏ tình yêu ấy là cầu nguyện cho Giáo hội. Những cách khác là trông nom chăm sóc gia đình và quan tâm đến những người nghèo khổ. Chúng ta hãy nài xin thánh Phanxica Rômana giúp chúng ta biết cách thể hiện tình yêu của mình đối với Đức Chúa Giêsu và Giáo hội của Chúa.

 

Thánh Đa Minh Saviô

Thánh Đa Minh Saviô sinh năm 1842 tại Bắc Ý. Khi mới được 4 tuổi thì vào một ngày kia, Đa Minh Saviô đột nhiên biến mất và thân mẫu của Đa Minh phải đi tìm ngài. Đa Minh đang quỳ gối, hai tay chắp lại... và cầu nguyện trong một góc phố thanh vắng. Lên 5 tuổi, Đa Minh Saviô trở thành một cậu giúp lễ. Khi lên 7, Đa Minh Saviô được rước lễ lần đầu. Trong ngày đó, Đa Minh đã chọn cho mình một phương châm để sống. Đa Minh hứa với Đức Chúa Giêsu trong lòng rằng: “Thà chết chẳng thà phạm tội!” Và hằng ngày, Đa Minh Saviô đã cầu nguyện cho được ơn trung thành với lời hứa ấy.

Khi lên 12 tuổi, Đa Minh Saviô đến học tại trường của thánh Gioan Bôscô ở Turinô, nước Ý. Đa Minh rất nhớ nhà nhưng vẫn cảm thấy hạnh phúc khi được lưu lại trường của Đôn Bôscô. Nơi đây, Đa Minh Saviô học biết mọi điều cần thiết để trở nên một linh mục. Mục đích chính yếu của Đa Minh là làm linh mục. Đa Minh là một cậu trò giỏi nhưng cũng hay vui đùa giễu cợt. Ngài là mẫu người mà Đôn Bôscô và các bạn có thể nhờ cậy.

Lần kia, Đa Minh Saviô giải tán một trận đánh nhau giữa hai thiếu niên hung dữ. Cuối cùng, Đa Minh bị trói vào một cây thánh giá. Lần khác, Đa Minh thấy một nhóm thanh niên lớn hơn đang chụm đầu vào nhau thành vòng tròn. Đa Minh Saviô cất bước tiến lại xem có chuyện gì mà thú vị quá như thế, và biết được là họ đang xem những tranh ảnh khiêu dâm. Đa Minh Saviô liền chộp lấy và xé nát ra. Các cậu thanh niên chưa bao giờ nhìn thấy Đa Minh nóng giận như vậy. “Ồ, tóm lại, nhìn xem những bức tranh như thế này thì có gì sai trái hả?” một đứa trong bọn thanh niên lên tiếng. Đa Minh Saviô đáp lại cách buồn bã: “Thật là quá tệ! Thì ra các bạn thường hay xem những đồ nhơ bẩn như thế à?!”

Sau đó, Đa Minh Saviô yếu bệnh. Người ta gởi ngài về gia đình để được chăm sóc tốt hơn. Nhưng ngay tại quê nhà, sức khỏe của Đa Minh cũng không cải tiến. Thay vào đó, bệnh tình trở nên trầm trọng hơn và Đa Minh Saviô đã lãnh nhận các bí tích sau cùng. Rồi Đa Minh Saviô bắt đầu cảm nhận là mình sẽ không trở lại trường học của Đôn Bôscô được nữa. Hoài bão to lớn muốn làm linh mục của Đa Minh Saviô sẽ không trở thành hiện thực. Ngay trước lúc qua đời, Đa Minh Saviô cố gắng chỗi dậy và nói với thân phụ của mình: “Con đang xem thấy những điều kỳ diệu!” Rồi Đa Minh Saviô tựa đầu lên chiếc gối và nhắm nghiền mắt lại.

Thánh Đa Minh Saviô mất năm 1857, lúc được 15 tuổi.

 Chúng ta có thể tạo ra những dự án phi thường và sắp đặt những mục tiêu lớn cho cuộc sống chúng ta. Nhưng Đa Minh Saviô nhắc nhớ chúng ta rằng chúng ta không biết mình sẽ sống được bao lâu trên trái đất này. Đa Minh Saviô không làm linh mục nhưng ngài lại trở nên một vị thánh. Đó là vì Đa Minh Saviô đã cố gắng hết sức để sống khẩu hiệu ngài đã chọn: “Thà chết chẳng thà phạm tội!” Chúng ta cũng có thể xin Đa Minh Saviô giúp chúng ta sống lời châm ngôn của ngài.

 

Ngày 10 tháng 3

Thánh Simplixiôâ

Thánh Simplixiô làm giáo hoàng năm 468. Đôi lúc, người ta nghĩ rằng hình như chỉ có mình ngài đang ra sức cố gắng chấn chỉnh lại những thói lệ xấu đang hiện diện khắp nơi. Những kẻ chiến thắng đã nắm quyền cai trị các địa hạt rộng lớn. Thậm chí quân xâm lăng chiếm giữ cả Rôma. Dân chúng đói khổ lầm than. Họ bị những cựu quan chức Rôma đàn áp và cướp bóc. Cảnh nghèo túng rình mò lảng vảng trên các đường phố và tước đi niềm an vui của mọi người. Dù sao thì những kẻ cai trị mới đã không đòi phải đóng sưu nộp thuế. Giáo hoàng Simplixiô cố tìm mọi cách để khuyến thiện và nâng đỡ đàn chiên của ngài. Simplixiô luôn hiện diện ở đó để nâng đỡ họ dù những cố gắng của ngài xem ra thật nhỏ bé và chẳng đáng kể gì. Và vì có tâm hồn thánh thiện, giáo hoàng Simplixiô đã không bao giờ chán nản tuyệt vọng. Hơn cả những lời nói, Simplixiô giảng dạy họ bằng chính gương mẫu đời sống thánh thiện của ngài.

Bởi là giáo hoàng, thánh Simplixiô đã phải rất đau khổ vì một nguyên do khác nữa. Một số bổn đạo của Simplixiô ngoan cố quyết giữ những quan điểm sai lạc của họ. Rồi, hết sức đau buồn, thánh Simplixiô đã phải đuổi họ ra khỏi Giáo hội. Ngài thật nhân hậu và khiêm tốn khi sửa dạy những con chiên làm điều sai quấy.

Thánh Simplixiô ở trong chức vụ giáo hoàng được 15 năm và 11 tháng. Rồi Thiên Chúa đã gọi ngài về lãnh nhận phần thưởng do những lao nhọc vất vả của ngài. Năm 483, thánh Simplixiô qua đời và được mai táng tại vương cung thánh đường thánh Phêrô ở Rôma.

Chúng ta được thánh Simplixiô nhắc nhớ rằng khi mang giữ trách nhiệm thì đòi cần phải có lòng can đảm. Chẳng có sự gì trong cuộc đời này xảy ra theo như cách chúng ta mong muốn. Chúng ta hãy học hỏi để chấp nhận những trường hợp đau khổ hoặc những hoàn cảnh khó chịu xảy đến với chúng ta. Một vài người dường như có vẻ cố ý đặt ra những chướng ngại hầu cản ngăn chúng ta thực hiện những việc tốt lành. Khi ấy, chúng ta hãy cầu nguyện với thánh Simplixiô. Chúng ta hãy khấn xin thánh nhân giúp chúng ta biết sống như ngài và không bao giờ chán nản thất vọng.

 

 Ngày 11 tháng 3

Thánh Êulôgiô Tây Ban Nha

Thánh Êulôgiô sống vào thế kỷ thứ chín. Gia đình ngài rất có thế giá ai cũng biết đến; và Êulôgiô được hấp thụ một nền giáo dục thật tuyệt vời. Khi học những bài học, Êulôgiô cũng học luôn gương sáng của các thầy giáo. Êulôgiô thích đọc và nghiên cứu Kinh Thánh. Việc đọc Kinh Thánh giúp Êulôgiô yêu mến lời Chúa. Êulôgiô muốn mang Tin mừng của Chúa Kitô đến cho mọi người. Khi trưởng thành, Êulôgiô làm linh mục và làm hiệu trưởng của một trường danh tiếng.

Lúc này, các tín đồ Hồi giáo đã nắm quyền cai trị đất nước Tây Ban Nha. Họ chống báng Công giáo. Đầu tiên, họ cố gắng làm cho các Kitô hữu chối bỏ đức tin. Những giáo dân nào từ chối không chịu thay đổi tôn giáo liền bị tống giam. Thậm chí một vài người đã bị giết chết.

Êulôgiô và đức giám mục của ngài cũng bị giam tù cùng với nhiều Kitô hữu khác. Trong chốn lao tù, Êulôgiô đọc Kinh Thánh lớn tiếng để khuyến khích các tù nhân. Khi họ lắng nghe, họ không còn cảm thấy sợ chết vì Đức Chúa Giêsu nữa. Suốt thời gian này, thánh Êulôgiô viết một cuốn sách phấn khích các Kitô hữu thà chết còn hơn là chối bỏ đức tin thánh thiện của mình.

Chính thánh Êulôgiô cũng muốn được là một vị tử đạo hơn bất cứ điều gì khác. Nhưng thay vào đó, ngài lại bị mời ra khỏi tù. Ngay khi vừa được tự do, thánh Êulôgiô bắt đầu giảng dạy và hoán cải nhiều tâm hồn. Những người bắt giam Êulôgiô trước đây quá tức giận đến nỗi họ lại bắt giữ ngài lần nữa. Trước mặt quan tòa, Êulôgiô can đảm tuyên xưng Đức Giêsu là Thiên Chúa. Êulôgiô bị họ kết án và ngài đã hiến dâng mạng sống mình cho Đức Chúa Giêsu. Êulôgiô về trời năm 859.

 Chúng ta hãnh diện về những vị anh hùng thời chiến của đất nước chúng ta. Chúng ta mơ ước được làm những việc cả thể như họ đã làm. Cuộc sống của thánh Êulôgiô nhắc nhở chúng ta rằng chúng ta cũng rất có thể tự hào về những vị anh hùng của đức tin. Chúng ta hãy cố gắng trở nên giống họ.

 

Ngày 12 tháng 3

Thánh Phina (Sêraphina)

Thánh nữ Phina được sinh tại San Giêminianô, một thị trấn nhỏ thuộc nước Ý. Song thân Phina từng có một thời rất khá giả nhưng sự rủi ro đã làm cho họ trở nên nghèo khó. Sêraphina (hay Phina như gia đình vẫn thường quen gọi,) là con gái của họ. Phina rất xinh đẹp và có tính tình vui vẻ hoạt bát. Phina có tấm lòng bao dung quảng đại. Mỗi ngày Phina dành ra nửa phần ăn tối cho một ai đó trong thị trấn có tình cảnh nghèo khổ hơn mình. Suốt ngày, Phina may vá và dệt vải để phụ giúp gia đình trả nợ. Vào buổi tối, Phina thường dành ra một thời gian dài để cầu nguyện với Đức Chúa Giêsu và Đức Mẹ Maria.

Thân phụ Phina qua đời lúc ngài còn rất trẻ. Lại nữa, Phina phải chịu một chứng bệnh làm cho thân thể bị tê liệt và biến dạng. Phina hầu như không thể cử động được và phải nằm liệt suốt 6 năm trên những tấm ván gỗ. Nỗi đau đớn xâm chiếm toàn thể thân xác Phina. Cách duy nhất Phina có thể chịu đựng là hướng tâm trí lên Đức Chúa Giêsu lúc Người bị đóng đinh thập giá. Phina thì thầm: “Lạy Chúa Giêsu, con xin kết hợp những đau khổ của con với những nỗi thống khổ của Chúa!” Thỉnh thoảng, khi cơn đau lên đến cùng cực, Phina nói: “Ôi Chúa Kitô! Không phải là những nỗi đau của con nhưng chính sự thống khổ của Chúa làm con đau đớn!”

Mỗi ngày, thánh nữ Phina bị bỏ lại một mình trên giường hàng giờ vì thân mẫu ngài phải đi làm hoặc đi xin ăn. Những người láng giềng biết tình cảnh của Phina, nhưng các chỗ viêm nhức của Phina lại bốc mùi hôi thối quá đến nỗi người ta đành phải cáo lỗi không dám đến thăm ngài.

Rồi bất ngờ, thân mẫu Phina cũng lìa đời. Giờ đây, cô gái bị bỏ lại mồ côi một mình. Chỉ có một người hàng xóm, người bạn Bêlđia tốt bụng của Phina, đến chăm sóc ngài. Bêlđia cố gắng lưu tâm săn sóc Phina hết sức có thể nhưng Phina cũng thường bị bỏ rơi. Rõ ràng là Phina không thể sống lâu hơn được nữa. Phina không muốn làm mất đi nhiệt tâm của mình. Một người kia đã đề cập với Phina về những đau khổ khủng khiếp mà thánh Grêgôriô cả đã bền tâm chịu đựng. Phina liền dâng hiến tấm thân cho thánh nhân. Người ta nói rằng ngày kia, đang khi Phina rên rỉ đau đớn, thánh Grêgôriô cả đã hiện ra với ngài. Thánh nhân nói một cách đầy nhân hậu: “Hỡi con, trong ngày lễ kính cha, Chúa sẽ ban cho con được an nghỉ!” Lễ kính thánh Grêgôriô cả trong lịch cũ được cử hành ngày 12 tháng Ba bởi thánh nhân qua đời ngày 12 tháng Ba năm 604. Vì thế, ngày 12 tháng Ba năm 1253, thánh Grêgôriô cả đã đến đưa Phina về quê trời.

 Thánh nữ Phina giúp chúng ta biết quý trọng ý nghĩa và giá trị đau khổ của Kitô giáo. Chúng ta cũng có thể thấy được giá trị của việc viếng thăm những người già nua, đau ốm, bị bỏ rơi. Chúng ta hãy nài xin thánh Phina ban cho chúng ta một trái tim biết nhạy cảm đối với những ai đang cô đơn hoặc sầu khổ.

 

Ngày 13 tháng 3

Thánh Êuphrasia

Thánh nữ Êuphrasia được sinh ra ở thế kỷ thứ năm trong một gia đình Công giáo gốc. Thân phụ Êuphrasia, là người thuộc dòng dõi hoàng tộc, qua đời khi Êuphrasia mới được một tuổi. Nhà vua trông nom săn sóc Êuphrasia và thân mẫu ngài. Khi lên bảy, thân mẫu đưa Êuphrasia sang Ai Cập. Ở đó, họ sống trong một ngôi nhà lớn tọa lạc gần bên một nữ đan viện. Êuphrasia bị hấp dẫn bởi các nữ tu. Ngài năn nỉ thân mẫu cho phép mình được phục vụ Thiên Chúa trong đan viện mà các chị nữ tu thánh thiện đang sống. Mới chỉ là một cô bé vậy mà Êuphrasia không lìa bỏ ý tưởng hoặc quên mất lời thỉnh cầu của mình. Chẳng bao lâu sau đó, thân mẫu dẫn Êuphrasia đến đan viện và trao gởi Êuphrasia cho đan viện mẫu chăm sóc.

Năm tháng trôi qua! Khi thân mẫu của Êuphrasia qua đời, nhà vua nhắc nhớ Êuphrasia rằng cha mẹ đã hứa gả Êuphrasia cho một nghị sĩ trẻ tuổi. Tuy nhiên, Êuphrasia chỉ muốn được thuộc trọn về một mình Đức Chúa Giêsu mà thôi. Vì vậy, Êuphrasia đã viết một lá thư hết sức cảm động cho nhà vua. Trong đó ngài nói: “Con thuộc về Đức Chúa Giêsu và con không thể trao thân gởi phận mình cho bất cứ một ai khác. Ước muốn duy nhất của con là được thế gian quên đi hoàn toàn. Con khiêm tốn nài xin bệ hạ đem phân phát cho người nghèo khó tất cả phần tài sản cha mẹ con để lại cho con. Con cũng xin bệ hạ trao trả lại tự do cho tất cả những người nô lệ của gia đình con!” Nhà vua thấy lá thư của Êuphrasia quá cảm động đến nỗi ông đã đọc to lên cho tất cả mọi nghị sĩ cùng nghe. Rồi vua thực hiện mọi điều Êuphrasia xin.

Êuphrasia sống phần đời còn lại của mình trong chốn viện tu. Êuphrasia chẳng bao giờ nuối tiếc vì Thiên Chúa đã chọn ngài làm nữ tu. Êuphrasia qua đời năm 420.

Thật là sung sướng hạnh phúc khi chúng ta có những áo quần đẹp và nhiều của cải tiện nghi đáng kể. Nhưng đừng bao giờ chúng ta quên rằng cuộc sống này còn có điều quan trọng hơn thế nữa. Chúng ta hãy nài xin thánh nữ Êuphrasia giúp chúng ta biết quý trọng tha nhân không vì họ có cái gì nhưng họ là ai.

 

Ngày 14 tháng 3

Thánh Matilđa

Thánh nữ Matilđa sinh khoảng năm 895. Ngài là con gái của một bá tước người Đức. Lúc còn rất trẻ, cha mẹ của Matilđa đã xếp đặt việc hôn nhân của ngài với một chàng quý tộc tên là Henri. Sau đám cưới chẳng bao lâu, Henri làm vua nước Đức.

Khi trở thành hoàng hậu, Matilđa sống cuộc đời khiêm tốn đơn sơ với những giờ kinh nguyện hằng ngày. Ai trông thấy Matilđa thì đều phải chân nhận rằng Matilđa thật tốt lành và rất nhân hậu. Matilđa giống một hiền mẫu hơn là một nữ hoàng. Matilđa thích thăm nom và an ủi những người đau yếu. Matilđa giúp đỡ các tù nhân. Matilđa đã không để cho mình bị hư hỏng bởi quyền cao chức trọng nhưng đã cố gắng đến với những người nghèo túng hoạn nạn. Vua Henri nhận thấy hoàng hậu của ông là một người vĩ đại lạ thường. Nhiều lần ông nói với Matilđa rằng sở dĩ ông được là một người khá hơn và là một quốc vương tốt hơn là vì nhờ có Matilđa làm vợ. Dù cho cuộc hôn nhân của hai người bị xếp đặt đi nữa, Henri và Matilđa vẫn thật lòng yêu nhau.

Matilđa được tự do sử dụng vàng bạc của vương quốc làm việc bác ái và Henri chẳng bao giờ tra hỏi Matilđa về điều đó. Thật ra, Henri dần dần ý thức hơn về những nhu cầu cần thiết của thần dân. Henri nhận thấy ông có quyền giảm bớt nỗi đau khổ cho dân chúng nhờ chức vị của ông. Hai người sống đời đôi bạn thật hạnh phúc suốt 23 năm. Rồi vua Henri qua đời một cách bất ngờ khoảng năm 936. Hoàng hậu đã đau khổ rất nhiều vì sự mất mát này. Rồi ngay lúc ấy, Matilđa đã đoan hứa chỉ sống cho riêng mình Thiên Chúa. Vì thế Matilđa xin linh mục dâng thánh lễ cầu cho linh hồn của vua Henri. Rồi Matilđa trao cho vị linh mục tất cả đồ trang sức ngài đang mang. Matilđa làm như thế để cho biết rằng từ lúc này trở đi, Matilđa có ý từ bỏ mọi sự thế gian.

Dù là một vị thánh, Matilđa cũng đã phạm một lỗi nặng. Matilđa biệt đãi Henri hơn Ôttô trong việc tranh đấu lên ngôi vua. Và Matilđa đã hối hận vì chuyện này. Matilđa đền bù khuyết điểm bằng cách chấp nhận những đau khổ xảy đến mà không kêu ca phàn nàn chi.

Trải qua những năm đền tội và làm việc bác ái, thì đến năm 968, thánh nữ Matilđa qua đời trong an bình. Thánh nữ được chôn cất bên cạnh người chồng thân yêu của ngài.

Như thánh nữ Matilđa, chúng ta hãy học cách dâng lên những đau khổ nhỏ mọn để đền bù vì những lầm lỗi và khuyết điểm của chúng ta.

 

Ngày 15 tháng 3

Thánh Dacaria

Thánh Dacaria là tu sĩ dòng thánh Bênêđictô ở Hy Lạp. Ngài sống vào thế kỷ thứ tám. Dacaria được chọn làm hồng y rồi giáo hoàng. Vào thời đại của Dacaria, đã xảy ra một cuộc đấu tranh trên khắp nước Ý. Thánh giáo hoàng Dacaria nắm giữ việc xây dựng hòa bình và cứu lấy người dân thoát khỏi những cuộc chinh chiến thảm khốc. Đôi lúc, thánh Dacaria đã liều mạng sống mình để làm việc này.

Chính vì thánh Dacaria thật hiền lành và tử tế nên các nhà lãnh đạo đã thực hiện điều ngài yêu cầu. Dù là kẻ thù, Dacaria cũng vẫn làm ơn và đối xử với họ bằng tấm lòng hết sức quảng đại. Thánh nhân không bao giờ trả thù họ. Khi giáo hoàng Dacaria biết được những người thuộc phái Lômba sắp sửa tấn công thành Rôma, ngài liền xin đi gặp vị lãnh đạo của họ. Đức giáo hoàng Dacaria và Liut Prand, người cầm đầu phái Lômba, đã gặp gỡ nhau. Bất cứ điều gì họ thảo luận với nhau thì kết quả hai bên đều nhất trí đồng tình. Liut Prand bỏ đi kế hoạch xâm lược của ông. Ông cũng trao trả lại tất cả lãnh thổ mà ông đã chiếm lấy trong vùng đó trên ba mươi năm trước. Thậm chí ông đã phóng thích tất cả các tù nhân. Liut Prand ký một hiệp ước hai mươi năm bảo đảm cho người dân Rôma sẽ không bị những người thuộc phái Lômba tấn công.

Thánh Dacaria cũng được mọi người biết đến như một người cha đích thật đối với những người nghèo khổ. Ngài xây dựng nhà cửa cho họ và cho những lữ khách. Trái tim yêu thương của Dacaria không thể nằm yên khi thấy người ta đau khổ. Lần kia, Dacaria nghe biết có một vài thương gia đã mua các nô lệ ở Rôma và sẽ bán họ tại Phi châu. Thánh nhân liền cho gọi những thương gia ấy và quở trách họ vì tội quá ác độc. Rồi, ngài trả cho họ giá tiền họ đã mua các nô lệ và thả các nô lệ tự do.

Khi thánh Dacaria qua đời năm 752, hết thảy mọi người đều buồn bã thương tiếc vì đã mất đi một người cha đầy nhân hậu và thánh thiện.

Thánh Dacaria được mọi người yêu mến và kính phục vì ngài đã không để ý đến bản thân mình. Thánh nhân chỉ quan tâm đến những nhu cầu của người khác. Chúng ta hãy nài xin thánh Dacaria chỉ cho chúng ta biết cách sống quảng đại và vị tha.

 

 

Ngày 16 tháng 3

Chân phước Tôrêlô

Chân phước Tôrêlô sinh năm 1202 ở Pôppi, nước Ý. Cuộc đời của Tôrêlô khi còn là một cậu trẻ làng quê thật bình dị và chẳng có gì đặc biệt. Nhưng sau cái chết của thân phụ, Tôrêlô bắt đầu thay đổi toàn bộ lối sống. Tôrêlô quan hệ với phường bạn bè say xỉn. Chúng suốt ngày lang thang trong thành phố thay vì làm việc lao động. Tôrêlô thích những đứa bạn mới và gắng sức thu chiếm lòng họ.

Thế rồi, vào một ngày kia, đang khi chơi một môn thể thao ngoài trời, một con gà trống từ chỗ đậu của nó bay xà xuống. Nó đậu trên cánh tay của Tôrêlô rồi gáy ba hồi dài và lớn tiếng. Tôrêlô xúc động không nói lên lời. Ngài đã chuồn đi và bỏ dở cuộc chơi. Tôrêlô nghĩ rằng việc con gà trống vừa làm không phải là một chuyện ngẫu nhiên. Tôrêlô bị khuyến cáo y như thánh Phêrô ngày xưa. Lối sống vô trách nhiệm của Tôrêlô sẽ dẫn Tôrêlô quay trở về với Đức Chúa Giêsu.

Ngay lúc ấy, Tôrêlô quyết định thay đổi cuộc sống. Ngài đến gặp đức đan viện phụ San Phêđel và người đã giúp Tôrêlô xưng thú tội lỗi cách sốt sắng. Rồi Tôrêlô đi đến miền rừng núi tĩnh mịch và chọn một nơi gần cây cổ thụ. Tôrêlô trải qua tám ngày cầu nguyện liên lỉ. Vào cuối kỳ, Tôrêlô quyết định sẽ làm một ẩn sĩ. Ngài trở về Pôpi và bán tất cả của cải. Tôrêlô chỉ giữ lại số tiền vừa đủ để mua một mảnh đất vuông nhỏ xung quanh cây cổ thụ mà ngài đã tìm thấy trong rừng. Cạnh cây gỗ đó, Tôrêlô dựng một cái lều và chính tại đây, Tôrêlô đã trải qua phần đời còn lại của ngài. Tôrêlô trồng rau để ăn và múc nước từ dòng suối để uống. Tôrêlô cầu nguyện và sám hối. Đặc biệt nhất là mỗi đêm Tôrêlô chỉ ngủ có ba giờ đồng hồ.

Chân phước Tôrêlô cảm thấy rằng Thiên Chúa muốn ngài làm ẩn sĩ. Đây là điều làm cho Tôrêlô được bình an và thanh thản. Khi còn sống, rất ít người biết được cuộc đời ẩn tu của Tôrêlô. Chỉ có một người bạn biết được đời sống tu rừng kín ẩn của Tôrêlô mà thôi. Sau khi sống trên 50 năm như một ẩn sĩ, chân phước Tôrêlô qua đời năm 1282, lúc vừa tròn 80 tuổi.

Chân phước Tôrêlô dạy chúng ta chiếm thủ lấy số phận đời đời cách nghiêm túc bằng chính đời sống của ngài. Mỗi người đều phải chết và bị Thiên Chúa phán xét. Con đường chúng ta chọn lựa để sống chính là con đường chúng ta sẽ trải qua hạnh phúc đời đời.

 

Ngày 17 tháng 3

Thánh Patriciô

Người ta cho rằng thánh Patriciô sinh vào thế kỷ thứ năm ở nước Anh, bởi cha mẹ gốc người Rôma. Khi lên mười sáu tuổi, Patriciô bị bọn cướp biển bắt giữ và đưa về Ai Len. Ở đó, Patriciô bị bán làm nô lệ. Chủ nhân của Patriciô đã sai ngài đi chăn giữ đàn chiên trên miền đồi núi. Patriciô có rất ít thực phẩm để ăn và quần áo để dùng. Tuy nhiên, Patriciô chăm sóc đàn vật trong tiết trời mưa gió và bão tuyết rất tốt. Trên sườn đồi, Patriciô cảm thấy quá cô đơn nên thường hay than thở cầu nguyện với Đức Chúa Giêsu và Mẹ Maria. Đời sống của Patriciô thật khó nhọc và bất công. Tuy vậy, niềm tin tưởng cậy trông vào Thiên Chúa của Patriciô vẫn luôn luôn tăng triển mãnh liệt.

Cuối cùng, khi trốn thoát khỏi Ai Len, Patriciô học làm linh mục. Nhưng Patriciô luôn có cảm nghĩ rằng phải trở lại Ai Len để đem xứ sở ngoại giáo này về với Chúa Kitô. Cuối cùng, niềm mơ ước của Patriciô cũng biến thành sự thực. Patriciô làm linh mục và sau đó được tấn phong giám mục. Patriciô đến Ai Len vào thời thánh Sêlestinô I đang làm giáo hoàng. Patriciô cảm thấy thật vui sướng khi được sai đem Tin mừng của Thiên Chúa đến cho những người mà trước đây đã bắt giữ ngài làm nô lệ.

Ngay từ lúc vừa khởi sự, thánh Patriciô đã chịu nhiều đau khổ. Các người bà con thân thuộc và bè bạn của Patriciô muốn ngài rời bỏ trước khi những người ngoại giáo Ai Len giết ngài. Nhưng thánh nhân vẫn cứ tiếp tục rao giảng về Đức Chúa Giêsu. Thánh Patriciô đi từ làng này qua thôn nọ. Patriciô hiếm khi nghỉ ngơi và ngài làm những việc đền tội đăïc biệt thay cho những người ngài yêu mến. Trước lúc qua đời, cả quốc gia đã trở về với đạo Công giáo.

Dù thành công lớn lao như thế, thánh Patriciô vẫn không bao giờ hãnh diện tự hào. Thánh nhân chỉ xem bản thân mình là một tội nhân đáng thương và dâng cho Thiên Chúa tất cả mọi lời tán dương khen ngợi.

Thánh Patriciô về trời năm 461.

Nhiều vị thừa sai hôm nay đang vất vả gắng công đem Tin mừng của Đức Chúa Giêsu đến cho thế giới chúng ta như thánh Patriciô đã làm. Chúng ta có thể cầu nguyện và dâng những hy sinh để công việc khó nhọc của các vị sẽ hướng dẫn và lôi kéo nhiều người tin yêu Đức Chúa Giêsu.

 

Ngày 18 tháng 3

Thánh Syrilô Giêrusalem

Thánh Syrilô Giêrusalem sinh khoảng năm 315 khi một giai đoạn mới bắt đầu hình thành trong giới Kitô hữu. Trước thời điểm ấy, Giáo hội bị các vua chúa bách hại. Hàng ngàn Kitô hữu đã tử vì đạo. Năm 315, hoàng đế Constantinô thừa nhận Công giáo là một đạo hợp pháp. Đây là chuyện thật kỳ lạ nhưng nó cũng chẳng tóm kết được mọi vấn đề rắc rối. Thật ra, suốt những năm sau “sắc lệnh năm 315” các Kitô hữu lại phải đương đầu với một vấn đề khó khăn mới. Đó là sự lúng túng về điều các Kitô hữu tin và không tin. Trong Giáo hội xuất hiện nhiều giáo thuyết sai lầm gọi là “những lạc thuyết.” Một số linh mục và giám mục trở nên những người rất can đảm sẵn sàng đứng ra bênh vực những giáo huấn của Giáo hội. Có một vị giám mục như thế tên là Syrilô Giêrusalem.

Khi thánh giám mục Giêrusalem là Maximô qua đời, Syrilô được chọn thay vào chỗ của thánh nhân. Syrilô là giám mục Giêrusalem suốt 35 năm. Trải qua 16 năm trời, Syrilô đã phải sống đời ẩn trốn và lưu đầy. Thánh nhân phải chạy ra ngoài thành phố ba lần bởi những người có thế lực muốn Syrilô phải chạy trốn. Họ cố bắt ép Syrilô chấp nhận những học thuyết sai trái về Đức Chúa Giêsu và về Giáo hội. Nhưng Syrilô Giêrusalem đã không bao giờ nhượng bộ.

Triều đại của hoàng đế Julianô là kẻ phản đạo bắt đầu từ năm 361. Julianô quyết định xây cất lại đền thờ danh tiếng Giêrusalem. Ông có một chủ đích rõ rệt chắc chắn trong tâm trí là muốn chứng minh rằng Đức Chúa Giêsu thật sai lầm khi tuyên bố đền thờ Giêrusalem sẽ không được xây dựng lại; và ông quyết chứng minh điều đó. Vì thế, Julianô gom góp thật nhiều tiền của và cung cấp tất cả những thứ vật liệu cần thiết cho việc phục hồi ngôi đền. Nhiều người đã giúp đỡ bằng cách dâng tặng những đồ trang sức và những kim loại quý hiếm. Tuy nhiên, thánh Syrilô đối phó với khó khăn này bằng dáng vẻ bình thản. Thánh nhân tin chắc rằng ngôi đền sẽ không thể nào được hồi phục vì Đức Chúa Giêsu, là Thiên Chúa, đã nói như thế. Vị giám mục yên lặng quan sát hết thảy những vật liệu và nói: “Tôi tin rằng việc này sẽ thất bại!” Và y như dự kiến, đầu tiên một cơn bão, rồi một trận động đất, rồi một vụ hỏa hoạn đã làm cản trở công việc của vua. Cuối cùng, ông đã phải bãi bỏ dự án.

Thánh Syrilô Giêrusalem về trời năm 386, lúc khoảng bảy mươi tuổi. Con người khoan dung, dịu dàng và tốt bụng này sống vào thời buổi đau buồn đầy biến động. Dầu vậy, Syrilô Giêrusalem đã không bao giờ đánh mất đi lòng can đảm phát xuất từ Đức Chúa Giêsu. Suốt cả cuộc đời, Syrilô Giêrusalem đã sống trung thành với Thiên Chúa. Syrilô Giêrusalem thật là anh dũng trong việc rao giảng những chân lý về Đức Chúa Giêsu và Giáo hội của Người.

Thánh Syrilô Giêrusalem dạy chúng ta rằng Thiên Chúa trao ban cho mỗi người chúng ta những cơ hội để làm điều tốt. Chúng ta hãy nài xin thánh Syrilô Giêrusalem giúp cho can đảm để xả thân dù phải gặp cảnh gian nan khốn khó.

 

Ngày 19 tháng 3

Thánh Giuse

Giuse là một vị thánh rất đặc biệt. Ngài là cha đồng trinh của Đức Chúa Giêsu và là vị hôn phu của Đức Maria. Thánh Giuse được ban tặng đặc ân thật lớn lao là chăm sóc Đức Chúa Giêsu, Con Một Thiên Chúa và Đức Maria, Mẹ yêu dấu của Người. Suốt cả một đời, thánh Giuse sống thật khó nghèo. Thánh Giuse phải làm việc rất vất vả trong xưởng mộc của ngài nhưng thánh nhân chẳng bận tâm lo lắng điều gì. Ngài sung sướng khi được làm việc phục vụ gia đình nhỏ bé của ngài. Thánh Giuse rất yêu mến Đức Chúa Giêsu và Đức Mẹ Maria. Bất cứ điều gì Thiên Chúa muốn thánh Giuse thực hiện, thì thánh nhân liền thi hành ngay dù cho công việc ấy có khó khăn thế nào! Thánh Giuse sống thật khiêm tốn, trong sạch, hiền từ và khôn ngoan. Đức Chúa Giêsu và Đức Mẹ Maria đã hết lòng yêu mến và vâng phục thánh Giuse vì Thiên Chúa đã đặt ngài làm gia trưởng. Đối với thánh Giuse, niềm vui sướng hạnh phúc là được sống với chính Con Thiên Chúa. Đức Chúa Giêsu cũng đã vâng lời, giúp đỡ và yêu mến ngài.

Chúng ta khẩn cầu cùng thánh Giuse như đấng che chở khi lâm cơn hấp hối là có lý do đặc biệt. Người ta tin rằng thánh Giuse đã được chết an bình trong tay Đức Chúa Giêsu và Đức Maria.

Thánh nữ Têrêsa Avila cũng chọn thánh Giuse làm đấng bảo trợ các chị em dòng Cátminh của ngài. Thánh nữ tin tưởng đặc biệt vào lời khẩn cầu vạn năng của thánh Giuse. Thánh nữ nói: “Mỗi khi tôi cầu xin thánh Giuse điều gì, thì tôi đều nhận được!”

Đức thánh cha Piô IX đã tôn phong thánh Giuse làm quan thầy của Giáo hội hoàn cầu.

Như Đức Chúa Giêsu đã vâng lời và giúp đỡ thánh Giuse trong công việc khiêm tốn và vất vả của ngài, chúng ta cũng hãy sẵn lòng giúp đỡ cha mẹ chúng ta làm những công việc nhỏ bé trong gia đình.

 

Ngày 20 tháng 3

Thánh Cubơ

Thánh Cubơ sống ở nước Anh vào thế kỷ thứ bảy. Ngài là một cậu bé chăn chiên nghèo khó, thích chơi đùa với chúng bạn. Cubơ chơi cũng rất khá. Một người trong nhóm bạn bè đã la rầy Cubơ vì tính quá mê chơi. Thật ra, anh bạn nói mà chẳng suy nghĩ gì về bản thân mình cả! Anh ta nói: “Cubơ, sao anh lại có thể phí phạm thời giờ để chơi những trò mà trong khi anh được chọn làm linh mục hay giám mục nhỉ?” Cubơ bối rối và rất xúc động. Ngài phân vân và tự hỏi rồi đây liệu mình sẽ thật là linh mục hay giám mục?

Vào tháng Tám năm 651, cậu bé Cubơ 15 tuổi nhận được một cảm nghiệm đạo đức. Cubơ nhìn thấy bầu trời hoàn toàn đen tối. Rồi đột nhiên, một luồng sáng chói lòa chiếu xuyên qua nó. Trong luồng sáng là các thiên thần đang mang một quả cầu lửa trên bầu trời. Một thời gian sau, Cubơ biết được ngay trong đêm xảy ra thị kiến, thánh giám mục Aiđen qua đời. Cubơ không biết làm sao toàn bộ việc này lại liên quan đến mình; nhưng Cubơ đã quyết định về ơn kêu gọi của ngài và đã vào tu trong một đan viện. Cubơ trở thành linh mục và giám mục.

Thánh Cubơ đã đi bộ hoặc có khi đi ngựa từ làng này sang thôn nọ, từ nhà này qua nhà kia. Cubơ thăm nom bổn đạo và giúp họ tinh thần. Đặc biệt thánh Cubơ có thể nói tiếng địa phương của những người dân quê vì xưa kia thánh nhân cũng đã từng là một cậu bé chăn chiên nghèo khổ. Cubơ làm phúc bố thí khắp nơi và đem nhiều người về với Thiên Chúa. Cubơ rất vui vẻ, bao dung và quảng đại. Người ta cảm thấy bị lôi cuốn đến với ngài mà không sợ sệt gì. Cubơ cũng là một đan sĩ thánh thiện và chuyên chăm cầu nguyện.

Khi được tấn phong giám mục, thánh Cubơ hoạt động rất tích cực nhằm giúp đỡ giáo dân của ngài. Thánh nhân cố gắng thăm nom họ dù phải vất vả hành trình trên những con đường lởm chởm gồ ghề hay trong những tiết trời khắc nghiệt. Đang khi thở hơi cuối cùng, thánh Cubơ khuyên nài các đan sĩ hãy sống an bình và bác ái với mọi người. Thánh nhân qua đời năm 687.

Thánh Cubơ đã vượt ra khỏi bản thân để quảng đại yêu mến bổn đạo của ngài. Chúng ta cũng hãy nài xin thánh Cubơ giúp chúng ta biết hành động như vậy để không ai cảm thấy buồn sầu hoặc khó chịu khi sống với chúng ta.

 

Ngày 21 tháng 3

Thánh Sêrapiôntc

Thánh Sêrapiôn sống ở Ai Cập vào thế kỷ thứ bốn. Đối với Giáo hội và với thánh Sêrapiôn, đó là thời kỳ có những biến động lớn. Khi còn trẻ, Sêrapiôn được hấp thụ một nền giáo dục thâm sâu về khoa thần học Kitô giáo và các môn học đời. Chỉ trong một thời gian ngắn, Sêrapiôn đã làm giám đốc một trường Kitô giáo danh tiếng dạy khoa đức tin ở Alêxanđria. Sau đó, Sêrapiôn trẩy vào sa mạc sống đời ẩn tu. Ngài gặp một ẩn sĩ danh tiếng là thánh Antôn Ai Cập. Sêrapiôn cố gắng hết sức để học hỏi và bắt chước vị ẩn tu này. Khi qua đời, thánh Antôn đã để lại cho Sêrapiôn một trong những chiếc áo khoác của ngài và Sêrapiôn đã trân trọng giữ gìn nó suốt cuộc đời mình.

Thánh Sêrapiôn làm giám mục thành Tơmui, một thành phố thuộc vùng thấp. Năm 347, ngài đi dự buổi hội nghị rất quan trọng của các giám mục ở Sađica. Sêrapiôn tỏ ra là một giám mục rất can đảm. Ngài yêu mến các chân lý đức tin và gắng sức bảo vệ chúng khỏi những người muốn phế bỏ niềm tin Kitô giáo. Sêrapiôn làm việc với thánh Athanasiô, một vị giám mục can đảm khác. Cả hai cùng trổi vượt về lòng dũng cảm. Các ngài dùng những bài giáo huấn và chữ viết của mình để chống lại những lạc thuyết. Hầu hết các bản giáo huấn của thánh Sêrapiôn đều bị thất lạc. Chúng là những bài bình giảng cũng như cắt nghĩa đức tin và thánh vịnh rất phong phú. Tác phẩm quan trọng nhất của Sêrapiôn, gọi là Sách Phụng vụ của Giáo hội Chính thống Đông phương, đã bị thất lạc hàng trăm năm trước. Cuối thế kỷ thứ mười chín, nó mới được tìm thấy và được xuất bản.

Một vị thánh khác nổi danh vào thời đó, thánh Giêrônimô, nói rằng hoàng đế Constantiô đã trục xuất Sêrapiôn. Dường như thánh Sêrapiôn đã mất vào khoảng năm 370 tại nơi ngài bị đày ải.

Thánh Sêrapiôn chỉ cho chúng ta thấy cách thức mà ngài đã sống là trở nên người Kitô hữu đạo đức, can đảm và lương thiện. Thường thì chúng ta không hiểu biết hoặc không bằng lòng với những khả năng chọn lựa của mình. Nhưng nếu muốn được trung thành với Đức Chúa Giêsu và với Giáo hội, đôi lúc chúng ta cũng phải liều mình để chịu khinh chê coi thường. Chúng ta hãy nài xin thánh Sêrapiôn ban cho chúng ta một chút lòng can đảm của ngài.

 

Ngày 22 tháng 3

Thánh Đêôgraxia

Vào năm 439, thành phố Cáctagô bị những đạo quân man rợ chiếm giữ. Bọn chúng là những “kẻ phá hoại những công trình văn hóa nghệ thuật.” Chúng bắt bớ giám mục và các linh mục và đặt các ngài trên một chiếc bè gỗ lớn cũ kỹ rồi thả nó trôi lênh đênh trên biển cả. Thật chẳng ngờ, chiếc bè của các ngài lại tiến đến hải cảng Napôli và các ngài được cứu vớt. Nhưng suốt mười bốn năm, thành phố mà các ngài bỏ lại phía sau không hề có một giám mục nào!

Ở Rôma, hoàng đế Valentinianô xin Giênsênic, người lãnh đạo “những kẻ chiếm đoạt,” cho phép ông được chọn một giám mục cho thành Cáctagô. Giênsênic đồng ý và người ta đã chọn một linh mục trẻ tuổi của thành ấy. Vị linh mục này được “những kẻ chiếm đoạt” kính trọng và các Kitô hữu yêu mến. Tên gọi của ngài bằng tiếng Latinh là “Đêôgraxia” mà bên tiếng Anh có nghĩa là “Tạ ơn Thiên Chúa.” Giám mục Đêôgraxia đã gắng công hoạt động cho đức tin và cho hạnh phúc sung mãn của dân thành Cáctagô.

Sau đó, Giênsênic cướp phá Rôma. Ông trở về Phi châu với hàng trăm nô lệ gồm đàn ông, đàn bà và con trẻ. Tất cả các con cái trong gia đình đều bị bắt cóc và bị phân tán bởi “những kẻ phá hoại” và “những người Hồi giáo Bắc phi.” Giênsênic hoàn toàn làm ngơ chẳng đếm xỉa gì đến những quan hệ máu mủ ruột thịt. Các phần tử gia đình được bán riêng từng người một và bị tách biệt khỏi những người thân yêu.

Giám mục Đêôgraxia nghe biết bi kịch thảm khốc. Với hết khả năng, ngài mua lại các nô lệ khi những chiếc tàu chở nô lệ cập bến tại hải cảng Cáctagô. Đêôgraxia thu gom tiền bạc bằng cách bán các vật dụng thánh, lễ phục và những đồ trang trí. Đêôgraxia đã giải thoát được nhiều gia đình. Đêôgraxia tìm nơi sinh sống cho họ. Khi các nhà ở đã chứa đầy người, Đêôgraxia sử dụng hai ngôi thánh đường lớn vào mục đích này. Đêôgraxia sắm cho họ những bộ giường nệm và các vật dụng cần thiết khác để họ có thể cảm thấy y như nhà của mình dù đang sống trong môi trường mới lạ.

Giám mục Đêôgraxia qua đời khi mới làm giám mục của thành Cáctagô được ba năm. Ngài hoàn toàn mỏi mệt vì đời sống vị tha và các việc bác ái từ thiện. Những người được giám mục Đêôgraxia giúp đỡ sẽ không bao giờ quên ơn ngài. Đêôgraxia về trời năm 457.

Thánh giám mục Đêôgraxia giúp chúng ta nhận biết rằng chúng ta không bao giờ được phép định giá cho mạng sống con người. Mỗi một người đều là con của Thiên Chúa, là con của Người Cha rất đáng yêu mến. Chúng ta hãy cầu xin với thánh Đêôgraxia cho cuộc sống con người được tôn trọng hơn. Cách riêng, chúng ta cầu nguyện cho việc quảng bá thông tin đại chúng được ảnh hưởng nhiều đến mọi người.

 

Ngày 23 tháng 3

Thánh Turibiô Môngrôvêjô

Thánh Turibiô Môngrôvêjô sinh năm 1538 tại thành Lêôn, nước Tây Ban Nha. Ngài là giáo sư đại học và là một quan tòa danh tiếng. Turibiô là một Kitô hữu tốt lành trổi vượt về sự khôn ngoan và lòng trung thực.

Một điều bất thường xảy ra làm thay đổi cả cuộc đời của Turibiô Môngrôvêjô là người ta đã xin ngài làm tổng giám mục thành Lima, nước Pêru. Trước hết, Turibiô chưa là linh mục. Thứ nữa, Pêru lại ở tận bên vùng Nam Mỹ xa xôi. Việc này đã xảy ra vì Lima đang cần một tổng giám mục. Nhiều người trong Giáo hội nhận thấy Turibiô có những khả năng và tiêu chuẩn phù hợp với chức vị đáng tín nhiệm trên. Phần Turibiô thì lại xin được miễn thứ cho vinh dự ấy. Nhưng khi nghe biết tình cảnh đau khổ đáng thương của những người dân xứ Pêru, Turibiô đã không thể từ chối. Ngài muốn giúp đỡ và đem đức tin đến cho họ. Rồi, Turibiô được thụ phong linh mục, giám mục và sau đó đã lên đường trẩy đến Pêru. Với cương vị là tổng giám mục, thánh Turibiô kinh lý qua các miền đất nước. Ngài lội bộ qua những vùng đồi núi băng tuyết. Thánh nhân băng qua những dải cát nóng trên bờ biển. Turibiô xây cất nhiều nhà thờ và bệnh viện. Ngài cũng mở một trường đào tạo các linh mục đầu tiên ở Châu Mỹ La Tinh. Người ta gọi loại trường học như vậy là đại chủng viện. Turibiô học nhiều tiếng thổ âm khác nhau. Thánh nhân mong muốn giáo dân có thể nghe và hiểu được những bài giảng huấn trong thánh lễ và cáo giải bằng chính ngôn ngữ riêng của họ. Turibiô bảo vệ người dân bản xứ cho khỏi bị những kẻ thống trị đối xử tàn bạo.

Thánh Turibiô Môngrôvêjô yêu mến người dân Pêru. Thánh nhân đã dành trọn phần đời của ngài trong chức vị linh mục và giám mục cho họ. Turibiô Môngrôvêjô qua đời ngày 23 tháng Ba năm 1606, hưởng thọ 68 tuổi. Năm 1726, đức thánh cha Bênêđictô XIII đã tôn phong Tubiriô Môngrôvêjô lên bậc hiển thánh. 

Chúng ta không muốn bị những người có thế lực lừa gạt bất công bởi tiền bạc hoặc những đồ xa xỉ đắt tiền của họ. Mỗi người chúng ta thật quan trọng vì Thiên Chúa là Cha của tất cả mọi người. Chúng ta hãy nài xin thánh Turibiô Môngrôvêjô giúp chúng ta cư xử với mọi người trong niềm kính trọng và tử tế như ngài.

 

 

Ngày 24 tháng 3

Chân Phước Đađicô

Chân phước Giuse Đađicô sinh ngày 29 tháng Ba năm 1743 ở Cađi, nước Tây Ban Nha. Ngài được đặt tên là Giuse Phanxicô. Song thân ngài yêu mến Giáo hội và rất trung thành giữ đạo. Họ lấy làm vui thích khi thấy con trai mình phục vụ và trang hoàng bàn thờ. Cậu bé thường hay quỳ gối cầu nguyện với Đức Chúa Giêsu, Đức Mẹ và thánh cả Giuse.

Khi đến tuổi khôn lớn, Giuse học giúp lễ tại nhà thờ dòng Capuxinô ngay ở khu phố bên dưới. Giuse học cách yêu mến thánh lễ. Mỗi sáng, Giuse thường đi lễ rất sớm và đợi người ta mở cửa nhà thờ. Ngài không bao giờ bỏ lễ dù chỉ một ngày. Một cha hay một thầy dòng Capuxinô đã tặng cho Giuse một quyển sách nói về đời sống của các thánh dòng Capuxinô. Giuse đã cầm lấy và đọc đi đọc lại nhiều lần. Giuse học từng truyện một. Giuse yêu mến ngưỡng mộ những vị thánh đã sống cuộc đời khó nghèo và khiêm tốn như Đức Chúa Giêsu. Rồi đến ngày Giuse xin vào dòng tu. Giuse được nhận và được chuyển đến thành Sêvil, nước Tây Ban Nha để dự khóa huấn luyện, gọi là thời kỳ tập viện. Giuse bắt đầu một đời sống mới với tên gọi mới: thầy Điđacô.

Sau nhiều năm chuẩn bị tâm hồn, thầy Đađicô được thụ phong linh mục. Ngài được sai đi rao giảng Tin mừng của Đức Chúa Giêsu cho dân chúng. Cha Đađicô thích làm công việc này. Những bài giảng thuyết của cha thật rõ ràng, dễ hiểu và ý vị đến nỗi ai ai cũng muốn nghe. Thậm chí họ kéo cả bạn bè cùng tới nghe nữa! Chẳng mấy chốc ngôi thánh đường vắng lặng ngày nào bỗng trở nên quá bé nhỏ và chật hẹp đến nỗi không thể nào chứa hết những nhóm đông người. Khi cha Đađicô thuyết giảng, các lời của cha được truyền lan ra bên ngoài, thường là trong các quảng trường trung tâm thành phố hay nơi các phố xá. Cha Đađicô thích giảng về Thiên Chúa Ba Ngôi. Cha cũng luôn luôn sẵn lòng nghe những lời thú tội của các hối nhân. Cha Đađicô thật sung sướng khi thấy người ta tìm đến với bí tích Xá giải. Bất cứ khi nào có thời giờ rảnh, cha Đađicô liền đi thăm nom các trại tù và các bệnh xá. Cha cũng hay ghé thăm những gia đình bị xã hội bỏ quên.

Cha Đađicô qua đời năm 1801 và được đức thánh cha Lêô XIII tôn phong chân phước hồi năm 1894. 

Cha Đađicô đã sống một cuộc đời phục vụ dân Chúa thật phi thường. Chúng ta hãy nài xin chân phước Đađicô giúp chúng ta biết khôn ngoan làm cho điều tốt ảnh hưởng trên đời sống chúng ta. Những ảnh hưởng như thế có thể là những người thánh thiện, những lời chỉ dẫn về đàng thiêng liêng, thánh lễ, các tạp chí hay sách vở đạo đức.

 

Ngày 25 tháng 3

Lễ truyền tin cho Đức Maria

Đã đến lúc Đức Chúa Giêsu giáng thế. Thiên Chúa sai đức tổng thần Gabriel đến thành Nazareth, nơi Mẹ Maria đang sống. Đức tổng thần với dung mạo rực rỡ huy hoàng tiến vào căn nhà bé nhỏ của Mẹ Maria và trông thấy Mẹ đang cầu nguyện.

“Kính chào Bà, hỡi Đấng đầy ân sủng!” thiên thần nói, “Thiên Chúa ở cùng Bà, Bà có phúc giữa các người phụ nữ.” Mẹ Maria thật ngạc nhiên khi nghe những lời ca ngợi của sứ thần.

“Hỡi Maria, đừng sợ!” Gabriel trả lời. Rồi đức tổng thần nói với Mẹ rằng Mẹ sắp sửa làm thân mẫu của Đức Chúa Giêsu, Đấng Cứu Độ loài người. Mẹ Maria hiểu được vinh dự mà Thiên Chúa dành ban cho Mẹ thật lớn lao. Và Mẹ đã thưa: “Này tôi là nữ tỳ của Chúa!” Ngay lúc ấy, Mẹ Maria trở nên Mẹ Thiên Chúa và Mẹ vẫn xưng mình là nữ tỳ, là đầy tớ của Người.

Mẹ Maria cũng biết rằng khi chấp nhận làm Mẹ Chúa Giêsu, Mẹ sẽ phải chịu rất nhiều đau khổ. Mẹ nhận biết Mẹ sẽ phải đau khổ khi Con của Mẹ chịu đau khổ. Thế nhưng với tất cả tâm hồn, Mẹ đã thưa lên: “Xin hãy thực hiện nơi tôi như lời sứ thần truyền!” 

Trong dịp này, Mẹ Maria đã ban tặng cho chúng ta một mẫu gương khiêm nhượng và vâng phục thật cao cả. Cũng thế, chúng ta hãy bày tỏ lòng mến yêu Thiên Chúa qua việc vâng lời những vị đại diện của Người là cha mẹ và các thầy cô giáo của chúng ta.

 

Ngày 26 tháng 3

Thánh Lugiơ

Thánh Lugiơ sinh ở Bắc Âu vào thế kỷ thứ tám. Sau nhiều năm học hành vất vả, ngài được thụ phong linh mục. Lugiơ bắt đầu đi khắp nơi rao giảng Tin mừng. Lugiơ rất lấy làm vui sướng khi được chia sẻ những điều ngài đã học biết về Thiên Chúa cho mọi người. Nhiều người ngoại giáo được ơn trở lại và đời sống của các Kitô hữu được cải thiện. Thánh Lugiơ cũng xây cất nhiều nhà thờ và tu viện.

Rồi đột nhiên những người man rợ, cũng gọi là những người Xắc Xông, đến tấn công xứ sở của thánh Lugiơ và đuổi các linh mục đi. Dường như thể tất cả mọi việc Lugiơ đã làm đều ra thất bại. Nhưng thánh nhân không chịu bỏ dở. Trước hết, Lugiơ tìm một nơi an toàn cho các môn đệ của mình. Sau đó, Lugiơ tới Rôma để bàn hỏi với đức thánh cha về việc ngài sắp làm.

Hơn ba năm trời, thánh Lugiơ sống như một đan sĩ tốt lành thánh thiện trong đan viện Bênêđictô. Nhưng Lugiơ không quên được những người dân sống nơi quê hương của ngài. Vừa khi về tới đất nước, thánh Lugiơ tiếp tục lại công việc. Thánh nhân gắng sức hoạt động và đã làm cho nhiều người Xắc Xông ngoại giáo ăn năn trở lại.

Khi được tấn phong giám mục, thánh Lugiơ đã làm gương sáng đặc biệt hơn về lòng mộ đạo và tâm hồn hào hiệp quảng đại. Lần kia, những người ghen ghét Lugiơ tố cáo ngài với vua Samác. Nhà vua cho triệu Lugiơ đến hoàng cung để ngài tự biện hộ cho mình. Lugiơ vâng lời đến hoàng triều. Ngày hôm sau, khi nhà vua cho gọi ngài, Lugiơ nói rằng sau khi cầu nguyện xong thì sẽ đến ngay. Thoạt đầu, vua Samác tỏ vẻ giận dữ nhưng thánh Lugơ giải thích rằng mặc dù ngài rất tôn trọng đức vua nhưng ngài phải kính trọng Thiên Chúa trước hết. Lugiơ nói: “Tâu đức vua, xin đừng nổi giận với hạ thần! Vì chính đức vua đã bảo hạ thần phải luôn luôn dành cho Thiên Chúa phần ưu tiên mà!” Đứng trước câu trả lời đầy khôn ngoan như thế, nhà vua nhận biết rằng Lugiơ rất thánh thiện. Từ đó trở đi, vua Samác tỏ ra rất khâm phục và quý mến Lugiơ.

Thánh Lugơ qua đời nhằm ngày Chúa nhật lễ lá năm 809. Thánh nhân đã làm trọn bổn phận của ngài trong việc tôn thờ Thiên Chúa cho tới khi nhắm mắt lìa đời.

Thánh Lugiơ đã dồn hết sinh lực của mình phục vụ ơn kêu gọi linh mục. Đức Chúa Giêsu đã dùng thánh nhân để đem nhiều người tới gần Thiên Chúa hơn. Chúng ta có thể năng cầu xin Đức Chúa Giêsu giúp các linh mục sống thánh thiện và quảng đại như thánh Lugiơ.

 

 

Ngày 27 tháng 3

Thánh Gioan Ai Cập

Con người mơ ước được sống kết hợp với Thiên Chúa đã trở nên một trong số các vị ẩn tu danh tiếng nhất trong thời đại của ngài. Thánh Gioan Ai Cập sinh vào khoảng năm 304. Người ta không được biết nhiều về thời niên thiếu của thánh Gioan ngoài công việc thợ mộc. Khi lên 25 tuổi, Gioan quyết định lìa bỏ thế gian vĩnh viễn để dùng đời sống mình hy sinh, cầu nguyện và tôn thờ Thiên Chúa. Thánh Gioan chính là một trong số những vị tu rừng nổi danh vào thời ấy.

Suốt 10 năm trời, Gioan là môn đệ của một ẩn sĩ cao niên đầy kinh nghiệm. Vị ẩn tu thánh thiện này chỉ dạy Gioan cách thức sống cuộc đời đạo đức. Thánh Gioan gọi ngài là “cha linh hồn.” Sau khi vị ẩn sĩ già này qua đời, thánh Gioan trải qua 4 hay 5 năm nữa sống trong các đan viện khác nhau. Thánh nhân muốn làm quen với lối sống và cách thức cầu nguyện của các đan sĩ. Sau cùng, Gioan tìm được một hang đá khá sâu. Khu vực ấy thật yên tĩnh và được bảo vệ thật an toàn khỏi những cơn gió và sức nóng của sa mạc. Gioan chia chiếc hang làm ba phần: một phòng khách, một phòng làm việc và một nhà nguyện nhỏ. Dân cư trong vùng mua thức ăn và những thứ cần dùng cho Gioan. Nhiều người cũng đến nhờ Gioan khuyên bảo về những vấn đề quan trọng. Ngay cả hoàng đế Thêôđôsiô I cũng hai lần đến xin Gioan lời khuyên, một lần vào năm 388 và lần khác năm 392.

Những vị thánh danh tiếng như Augustinô và Giêrônimô đã viết sách nói về tinh thần thánh thiện của thánh Gioan. Trong số những khách tới thăm Gioan, có vài người đã trở nên môn đệ của ngài. Họ đã lưu lại nơi ấy và xây cất một nhà nghỉ. Họ trông coi nhà nghỉ để nhiều người có thể đến học hỏi sự khôn ngoan nơi vị ẩn sĩ này. Thánh Gioan được ơn tiên đoán những sự việc tương lai. Ngài có thể đoán biết được tâm hồn của những người tìm đến với ngài. Gioan có thể đọc được tư tưởng của họ. Khi Gioan xức dầu thánh trên những người mắc bệnh thể xác, họ thường được chữa lành.

Ngay cả khi nổi danh, thánh Gioan vẫn một mực giữ thái độ khiêm tốn và không bao giờ để cho mình được sống thoải mái dễ chịu. Thánh nhân chẳng khi nào dùng bữa trước lúc mặt trời lặn. Thức ăn của Gioan thường là rau quả sấy khô. Ngài không bao giờ dùng thịt hay những thức đã được nấu chín hoặc hâm nóng. Thánh Gioan tin rằng cuộc sống hy sinh hãm mình của ngài sẽ giúp ngài sống kết hợp mật thiết hơn với Thiên Chúa. Năm 394, thánh Gioan qua đời trong an bình, hưởng thọ 90 tuổi.

Chúng ta hãy cầu xin thánh Gioan ẩn tu chỉ cho chúng ta cách sống thân mật với Thiên Chúa. Thánh nhân sẽ giúp chúng ta quyết tâm để Thiên Chúa hoạt động trong và qua chúng ta.

 

Ngày 28 tháng 3

Thánh Tutilô

Thánh Tutilô sống vào cuối thế kỷ thứ chín đầu thế kỷ thứ mười. Thánh nhân được giáo dục tại đan viện Bênêđictô của thánh Gal. Hai người bạn cùng lớp với Tutilô vừa được phong “chân phước.” Cả ba lần lượt trở thành những đan sĩ tại đan viện nơi họ đã một thời cùng nhau cắp sách đến trường.

Thánh Tutilô là người có nhiều tài khéo. Thánh nhân vừa là thi sĩ, họa sĩ vẽ chân dung, nhà điêu khắc, nhà hùng biện và kiến trúc sư. Thánh Tutilô cũng là một công nhân cơ khí nữa!

Tài năng nổi bật nhất của Tutilô là âm nhạc. Tutilô có thể chơi tất cả các loại nhạc cụ được các đan sĩ biết tới trong phụng vụ. Tutilô và người bạn của ngài là chân phước Nôtkơ đã sáng tác những cung bậc cho các bài đáp ca phụng vụ. Trong tất cả những tác phẩm của Tutilô, chỉ còn sót lại ba bài thơ và một bài thánh ca. Thế nhưng, ngày nay người ta vẫn còn tìm thấy các bức vẽ và các tác phẩm điêu khắc của Tutilô trong nhiều thành phố của Âu châu. Các họa phẩm và các tác phẩm ấy được coi như đồng nhất với thánh Tutilô vì ngài luôn luôn để lại trên những tác phẩm của mình một câu châm ngôn thích hợp.

Nhưng không phải vì các tài năng kiệt xuất của mình mà Tutilô được tôn phong hiển thánh. Tutilô là người khiêm tốn chỉ muốn sống cho Thiên Chúa. Ngài biết tôn vinh Thiên Chúa bằng việc sơn vẽ, chạm trổ và sáng tác âm nhạc. Tutilô được tôn phong là “thánh” vì ngài đã khéo dùng đời sống mình để ca ngợi và yêu mến Thiên Chúa. Thánh nhân qua đời năm 915.

Dù chúng ta có nhiều hay ít tài khéo, dù chúng ta có óc thực tế hay không... thì điều quan trọng là hãy cố gắng hết sức có thể bằng chính cuộc sống của mình. Đây chính là cách thức để chứng tỏ tấm lòng chúng ta yêu mến Thiên Chúa.

 

Ngày 29 tháng 3

Thánh Giona và thánh Barakisiô

Vua Sapô nước Ba Tư lên ngôi cai trị vào thế kỷ thứ tư. Ông rất căm ghét những tín hữu Công giáo và đã bắt bớ tra tấn họ cách rất dã man. Ông phá hủy các nhà thờ và các tu viện của họ.

Có hai anh em tên là Giona và Barakisiô nghe nói về những chuyện bách hại và biết được nhiều Kitô hữu đã bị thiệt mạng. Các ngài đã quyết định đến giúp đỡ và khuyến khích họ giữ vững niềm tin vào Chúa Kitô. Giona và Barakisiô biết rằng mình cũng có thể bị bắt giữ, nhưng các ngài vẫn cứ tiếp tục công việc ấy. Tâm hồn các ngài tràn đầy lòng yêu mến tha nhân đến nỗi các ngài luôn luôn quan tâm tới họ.

Sau cùng, hai anh em cũng bị bắt. Người ta nói với các ngài rằng nếu không chịu thờ lạy mặt trời, mặt trăng, nước và lửa thì sẽ bị tra tấn hành hạ và bị giết chết. Dĩ nhiên, cả hai đã không thờ lạy bất cứ vật gì hoặc bất cứ ai khác ngoại trừ một Thiên Chúa chân thật. Hai anh em phải chịu những cực hình tra tấn thật ghê sợ nhưng các ngài đã cầu nguyện. Các ngài cứ suy gẫm về cách thức Đức Chúa Giêsu đã chịu đau khổ vì mình. Hai anh em nhẫn nhục vui chịu những nhục hình thật kinh khủng để bảo vệ đức tin. Cuối cùng, cả hai bị lên án tử và cả hai đã vui mừng hy sinh mạng sống mình vì Đức Chúa Giêsu.

Thánh Giona và thánh Barakisiô tử đạo năm 327. 

Khi gặp một chút đau khổ nho nhỏ, chúng ta hãy nài xin các thánh tử đạo này giúp chúng ta biết phó dâng nó cho Đức Chúa Giêsu. Các ngài sẽ chỉ cho chúng ta biết cách làm thế nào để được can đảm.

 

Ngày 30 tháng 3

Thánh Gioan Climacô

Người ta cho rằng thánh Gioan Climacô được sinh tại Palestina vào thế kỷ thứ bảy. Hình như Gioan Climacô là một trong số những môn đệ của thánh Grêgôriô Nazianzênô. Gioan tuy là một giáo sư danh tiếng nhưng đã cương quyết phục vụ Thiên Chúa với tất cả tâm hồn. Khi lên mười sáu tuổi, Gioan Climacô gia nhập đan viện trên núi Sinai. Rồi ngài đã sống ở đó một mình suốt bốn mươi năm trời. Gioan dùng tất cả thời giờ để cầu nguyện và đọc truyện các thánh.

Thoạt đầu, thánh Gioan bị ma quỷ cám dỗ. Ngài cảm thấy đủ mọi thứ đam mê xấu xa đang chèn ép ngài nhượng bộ và phạm tội. Nhưng Gioan vẫn đặt trọn niềm tin tưởng của mình nơi Chúa Giêsu và tích cực chăm chỉ cầu nguyện hơn bao giờ hết. Vì vậy, những chước cám dỗ kia đã không thể nào làm cho Gioan phạm tội mà thật ra chỉ làm cho ngài càng thêm thánh thiện hơn thôi! Gioan sống mật thiết với Thiên Chúa đến nỗi nhiều người nghe biết về sự thánh thiện của Gioan đã đến xin Gioan những lời khuyên bảo.

Thiên Chúa ban tặng cho thánh Gioan Climacô một ân huệ kỳ diệu. Ngài có thể đem lại an bình cho những người đang bị bối rối và cám dỗ. Lần kia, có người gặp phải một cơn cám dỗ khủng khiếp đã chạy đến với Gioan. Ông xin thánh Gioan giúp mình và nói thật là đối với ông, việc chiến đấu chống lại cơn cám dỗ thật là điều khó. Sau khi cả hai cùng cầu nguyện, bình an lại tràn ngập tâm hồn người đàn ông đáng thương này. Ông không bao giờ bị khốn khổ bực dọc bởi cơn cám dỗ ấy nữa.

Khi bước qua tuổi bảy mươi tư, thánh Gioan Climacô được chọn làm đan viện trưởng của đan viện miền núi Sinai. Ngài là bề trên của hết mọi đan sĩ và ẩn sĩ sống trong miền ấy. Một đan phụ khác xin thánh Gioan viết ra những quy tắc ngài đã sống trong suốt cuộc đời của ngài. Với lòng khiêm nhượng sâu thẳm, thánh Gioan Climacô đã viết một cuốn sách nhan đề: Bậc trọn lành hay Đường trọn lành của Climax. Và đó là lý do tại sao thánh nhân được gọi là “Climacô.” Thánh Gioan Climacô qua đời năm 649.

Thật là khôn ngoan khi giữ lại một cuốn sách quý trong phòng ngủ của chúng ta. Mỗi ngày hoặc trước khi đi ngủ, chúng ta có thể đọc chút ít.

 

Ngày 31 tháng 3

Chân phước Gioan Tuluz

Vào năm 1240, một số tu sĩ dòng Cátminh từ Palestina đã thành lập một tu viện ở Tuluz, nước Pháp. Hai mươi lăm năm sau đó, thánh Simon Stóc, vị linh mục bề trên cả thuộc hội dòng Cátminh có dịp kinh lý qua miền Tuluz. Một bà đạo đức đến xin gặp ngài. Hết sức đơn sơ, bà tự giới thiệu mình là Gioan. Bà nghiêm túc xin vị linh mục: “Con có thể chia sẻ luật dòng Cátminh với tư cách là một hội viên không?” Lúc ấy thánh Simon Stóc đang là bề trên hội dòng. Ngài có quyền ban phép theo lời thỉnh cầu của bà ấy. Ngài trả lời: “Được chứ.” Và Gioan đã trở thành hội viên đầu tiên. Gioan lãnh nhận tu phục của dòng Cátminh. Gioan tuyên khấn giữ mình trinh khiết trọn đời trước sự chứng kiến của thánh Simon Stóc.

Gioan tiếp tục đời sống đơn sơ, trầm lặng ngay tại căn nhà riêng của ngài. Suốt phần đời còn lại, Gioan đã cố gắng hết sức để bền đỗ với những điều luật của dòng Cátminh. Gioan tham dự thánh lễ và đọc kinh cầu hằng ngày tại nhà thờ Cátminh. Phần thời giờ còn lại trong ngày sống, Gioan thăm viếng những người nghèo khổ, đau ốm và những người bơ vơ không nơi nương tựa. Gioan tập cho các bé trai giúp lễ. Gioan nâng đỡ những người già yếu bằng cách giúp họ làm những công việc lặt vặt hữu ích. Gioan cầu nguyện với họ và đã làm tươi sáng nhiều con tim bằng những câu chuyện vui.

Chân phước Gioan Tuluz luôn mang trong túi áo mình một tấm ảnh Chúa Giêsu Chịu Nạn. Đó là “cuốn sách” của ngài. Thỉnh thoảng Gioan Tuluz lấy tấm ảnh ra chiêm ngắm. Ánh mắt Gioan rạng rỡ hẳn lên. Người ta nói rằng Gioan Tuluz đọc được vài lời khuyên mới mỗi khi ngài học nơi tấm ảnh ấy.

Khi qua đời, chân phước Gioan Tuluz được chôn cất tại nhà thờ Cátminh miền ấy. Suốt một đời, Gioan Tuluz đã là một người con ngoan của xứ đạo.

Chúng ta hãy nài xin chân phước Gioan Tuluz chỉ cho chúng ta cách thức lan truyền tình yêu Đức Chúa Giêsu trong xứ đạo và nơi những người láng giềng của chúng ta.

 

 

Tháng 04

Các Thánh Dành Cho Bạn Trẻ

 

Ngày 01: Thánh Hiu Grênôp

Ngày 02: Thánh Phanxicô Paola

Ngày 03: Thánh Richơ Chichestơ

Ngày 04: Thánh Isiđôrô Sêvil

Ngày 05: Thánh Vinhsơn Phêriê

Ngày 06: Chân phước Nôtkơ

Ngày 07: Thánh Gioan Baotixita La Sal

Ngày 08: Thánh Giuliê Bilia

Ngày 09: Thánh Waltruđi

Ngày 10: Chân phước Antôn Nâyrôt

Ngày 11: Thánh Stanítlao

Ngày 12: Thánh Giuse Môscati

Ngày 13: Thánh Máctinô I

Ngày 14: Thánh Chân phước Liguyna

Ngày 15: Chân phước Đamien Môlôkai

Ngày 16: Thánh Bênêđictô Giuse lao động

Ngày 17: Thánh Têphanô khó khăn

Ngày 18: Chân phước Maria Nhập Thể

Ngày 19: Chân phước Giacôbê Đukê

Ngày 20: Thánh Annê Montêpulxianô

Ngày 21: Thánh Anselmô

Ngày 22: Thánh Sôtơ và thánh Caiô

Ngày 23: Thánh Giogiơ

Ngày 24: Thánh Phiđelis Simarigen

Ngày 25: Thánh ký Marcô

Ngày 26: Thánh Rabêtô

Ngày 27: Thánh Zita

Ngày 28: Thánh Phêrô Sanel

Ngày 29: Thánh Catarina Siêna

Ngày 30: Thánh Piô V

 

 

 

Ngày 1 tháng 4

Thánh Hiu Grênôp

Thánh Hiu Grênôp sinh năm 1052 tại Pháp. Ngài có thân hình cao lớn, đẹp trai với tính tình hiền lành và rất lịch duyệt. Thánh nhân được ban tặng những chức vị cao cả dù ngài luôn luôn muốn sống phục vụ Thiên Chúa như một tu sĩ. Hiu được thụ phong linh mục; và sau đó được tấn phong giám mục.

Với vị thế giám mục, thánh Hiu Grênôp lập tức điều chỉnh lại những thói tục xấu của một số giáo hữu trong giáo phận của ngài. Hiu Grênôp thực hiện những phương sách khôn ngoan nhưng đó chưa phải là tất cả. Để lôi kéo lòng từ bi thương xót của Thiên Chúa xuống cho bổn đạo của mình, thánh Hiu đã cầu nguyện với tất cả tâm hồn. Ngài thực hiện những hành vi khổ chế. Và chỉ trong một quãng thời gian ngắn, nhiều người đã trở nên rất sốt sắng. Chỉ còn một ít quý tộc vẫn tiếp tục chống báng Hiu Grênôp mà thôi!

Giám mục Hiu Grênôp vẫn tưởng nghĩ về đời sống của người tu sĩ. Ngài thực sự mong muốn điều này. Và Hiu đã xin từ chức giám mục thành Grênôp để vào tu trong một đan viện. Cuối cùng, Hiu được toại nguyện. Thế nhưng thánh ý Thiên Chúa không muốn cho Hiu làm tu sĩ. Sau một năm, đức thánh cha yêu cầu Hiu phải trở về Grênôp. Thánh Hiu vâng lời. Ngài biết rằng làm vui lòng Thiên Chúa thì trọng hơn là làm theo ý riêng mình.

Suốt bốn mươi năm, Hiu Grênôp hầu như luôn luôn yếu bệnh. Ngài bị đau bao tử và nhức đầu kinh niên. Nhưng thánh nhân vẫn ép mình làm việc. Hiu yêu quý đàn chiên của ngài và thánh nhân đã giúp họ làm rất nhiều việc. Hiu cũng phải đau khổ vì những thử thách cám dỗ. Nhưng thánh Hiu luôn cầu nguyện và chẳng bao giờ chịu nhượng bộ cho tội lỗi.

Thánh Hiu qua đời ngày mùng 1 tháng Tư năm 1132, hai tháng trước sinh nhật lần thứ tám mươi của ngài. Suốt năm mươi hai năm trời, Hiu Grênôp là một giám mục thánh thiện và giàu lòng quảng đại. Năm 1134, chỉ hai năm sau khi qua đời, Hiu Grênôp được đức thánh cha Innôcentê II tôn phong hiển thánh.

Đôi lúc chúng ta nghĩ mình biết điều này điều nọ là rất tốt cho mình. Đôi lúc chúng ta cũng cảm thấy làm công việc này thì thoải mái dễ chịu hơn làm công chuyện kia. Nhưng giả như Thiên Chúa để cho chúng ta biết rằng Người đang hiện diện trong tâm trí của mình, chắc chúng ta sẽ vui sướng làm theo ý muốn của Người. Chúng ta có thể nài xin thánh Hiu Grênôp giúp đỡ chúng ta.

 

Ngày 2 tháng 4

Thánh Phanxicô Paola

Thánh Phanxicô được sinh tại Paola, một ngôi làng nhỏ thuộc nước Ý vào khoảng năm 1416. Song thân của Phanxicô rất nghèo nhưng thánh thiện và khiêm tốn. Ông bà đã cầu nguyện cùng thánh Phanxicô thành Assisiô cho đứa con trai của mình. Khi sinh hạ ngài, họ lấy tên thánh Phanxicô mà đặt cho ngài. Cậu nhỏ đi học ở trường của các cha dòng Phanxicô. Ở đó, cậu học môn tập đọc. Khi lên 15 tuổi, được phép của cha mẹ, Phanxicô trẩy đến sống trong một cái hang. Phanxicô muốn làm một ẩn sĩ và muốn dâng hiến đời sống mình phục vụ Thiên Chúa.

Khi lên 20, có những thanh niên khác tìm đến gia nhập với ngài. Sau đó, thánh Phanxicô rời bỏ chiếc hang của ngài. Người dân thành Paola xây cất cho Phanxicô và các môn đệ của ngài một ngôi thánh đường và một tu viện. Phanxicô Paola gọi hội dòng mới của ngài là “Minims.” “Minims” có nghĩa là “những anh em rất hèn mọn.”

Mọi người đều yêu mến thánh Phanxicô Paola. Thánh nhân cầu nguyện cho họ và làm nhiều phép lạ. Phanxicô Paola dạy các môn đệ của mình sống khiêm tốn, quảng đại và thực hành nhiều việc đền tội. Chính bản thân Phanxicô là mẫu gương ngời sáng các nhân đức ngài giảng dạy. Lần kia, có một người đến thăm thánh nhân và buông lời lăng mạ trước mặt ngài. Khi ông ta nói xong, Phanxicô Paola đã làm một cử chỉ hết sức phi thường. Phanxicô Paola lặng lẽ nhặt lên vài cục than nóng đỏ từ lò sưởi và nắm chặt chúng trong tay mình. Nhưng thánh nhân chẳng hề bị bỏng tí nào cả. “Đến đây, hãy sưởi ấm đi!” Phanxicô Paola nói với kẻ tố cáo ngài cách thân thiện. “Anh đang run lạnh và anh cần một chút tình khoan dung bác ái!” Và như một phép lạ, người khách liền thay đổi ý nghĩ về Phanxicô. Từ đó trở đi, ông hết sức ngưỡng mộ khâm phục Phanxicô.

Vua Luy XI của nước Pháp có một lối sống chẳng mấy đạo hạnh. Lúc gần chết, vua cho người đi mời thánh Phanxicô Paola đến. Chỉ tưởng nghĩ đến cái chết thôi cũng đủ làm cho vua khiếp sợ. Vua muốn Phanxicô Paola làm một phép lạ cứu chữa mình. Nhưng thay vào đó, thánh nhân lại ân cần giúp cho con người khiếp hãi này dọn mình thật tốt để được chết lành thánh. Nhà vua mềm lòng. Ông đã chấp nhận thánh ý Thiên Chúa và chết cách an bình trong vòng tay của thánh nhân.

Thánh Phanxicô Paola đã sống một cuộc đời dài lâu trong sự tôn thờ và yêu mến Thiên Chúa. Thánh nhân qua đời nhân ngày Thứ Sáu Tuần Thánh năm 1507, hưởng thọ 91 tuổi.

Đôi khi chúng ta có thể bị vây phủ bởi những tiếng nhạc ồn ào, những cuộc trình diễn trên tivi, các loại băng từ và những trò chơi điện tử… làm cho chúng ta cảm thấy rằng mình chỉ sống cho cuộc đời tạm này. Thậm chí chúng ta không dành ra chút thời giờ nào để suy nghĩ về linh hồn bất tử của chúng ta. Chúng ta sẽ thêm được điều gì vào kế hoạch giúp chúng ta đạt tới hạnh phúc đời đời bên Thiên Chúa? Thánh lễ hằng ngày? Kinh nguyện ban mai? Lời nguyện ban chiều? Làm những việc lặt vặt trong nhà cách tử tế và vui vẻ? Làm bài và chuẩn bị bài thật tốt? Và việc gì nữa?

 

Ngày 3 tháng 4

Thánh Richơ Chichestơ

Thánh Richơ Chichestơ được sinh tại nước Anh vào năm 1197. Richơ và anh trai của ngài phải mồ côi cha mẹ khi còn rất nhỏ. Người anh của Richơ có một số nông trại. Richơ nghỉ việc học hành để giúp anh bảo quản các trang trại khỏi cho bị phá sản suy vi. Ngài làm việc chăm chỉ đến nỗi người anh rất biết ơn muốn giao các trang trại lại cho Richơ, nhưng Richơ đã không nhận. Richơ cũng chẳng nghĩ gì tới chuyện lập gia đình bởi vì ngài muốn đi đại học để có được một nền học vấn khá hơn. Vì biết mình chẳng có nhiều tiền nên Richơ đã phải ra sức làm việc để có đủ số tiền trả học phí và sinh sống.

Richơ học ở đại học Oxphơt và cuối cùng đã được trao tặng một chức vị quan trọng tại trường. Sau đó, thánh Êman, tổng giám mục giáo phận Cantơbơri, trao cho ngài những công việc cao cả trong địa phận. Sau khi thánh Êman qua đời, thánh Richơ tham dự những lớp học của dòng Đa Minh tại Pháp. Ở đó, thánh nhân được thụ phong linh mục. Rồi Richơ được đặt làm giám mục giáo phận Chichestơ nước Anh; và đó là lý do tại sao người ta gọi ngài là Richơ Chichestơ. Vua Henri III chẳng bằng lòng để Richơ sống một mình trong nhà thờ chính tòa của ngài. Ông cũng đe dọa sẽ trừng phạt dân Chichestơ nếu họ quý mến tiếp đón Richơ. Nhưng dù thế nào đi nữa, một vài người đã can đảm giúp đỡ Richơ, như một trong số các linh mục thuộc giáo phận Chichestơ là cha Simon Taring. Hai vị đã trở nên những người bạn rất thân. Khi đức thánh cha ngăm đe rút phép thông công nhà vua, ông mới hết gây ngăn trở và chịu để cho vị tân giám mục được tự do thong dong.

Với tư cách là giám mục, thánh Richơ Chichestơ đã chu toàn rất tốt nhiệm vụ của mình. Thánh nhân luôn luôn cư xử dịu dàng và ân cần với hết mọi người. Đôi lúc Richơ Chichestơ cũng tỏ ra nghiêm nghị. Ngài can đảm đối chất với những người làm điều sai quấy mà chẳng chịu ăn năn hối cải.

Người ta nói rằng khi thánh Richơ Chichestơ ngã bệnh, ngài đã nói tiên tri về cái chết của ngài vì Thiên Chúa cho ngài biết chính xác thời điểm và nơi chốn ngài sẽ qua đời. Các đồng bạn của Richơ Chichestơ, cả cha Simon Taring cũng ở bên giường ngài. Richơ về trời năm 1253, thọ năm mươi lăm tuổi. Richơ Chichestơ được đức thánh cha Urbanô IV tôn phong hiển thánh năm 1262.

Khi là một nông dân, sinh viên, linh mục và giám mục, thánh Richơ Chichestơ đã chu toàn mọi việc thật tốt. Khi ở nhà hoặc lúc ở trường, chúng ta hãy cầu xin thánh nhân giúp chúng ta luôn luôn cố gắng làm mọi việc với hết khả năng của mình.

 

Ngày 4 tháng 4

Thánh Isiđôrô Sêvil

Vị thánh này được sinh vào năm 556. Hai người anh trai của Isiđôrô, Linđơ và Fulgensiô là những giám mục và là những vị thánh. Cô em gái của Isiđôrô là nữ tu Florentina cũng là thánh.

Gia đình của Isiđôrô có lẽ gốc Rôma. Isiđôrô làm giám mục thành Sêvil, nước Tây Ban Nha. Đây chính là nơi thánh nhân đã tạo một ấn tượng đáng chú ý cho Giáo hội vào thời đại của ngài. Isiđôrô giữ chức giám mục thành Sêvil suốt ba mươi bảy năm. Trong thời gian ấy, Isiđôrô tiếp tục công việc của vị giám mục tiền nhiệm là thánh Linđơ, người anh trai của Isiđôrô. Cả hai anh em cùng chịu trách nhiệm trong việc hoán cải những người Visigo trở về với Giáo hội Công giáo.

Từ thuở thơ ấu, Isiđôrô đã được hấp thụ một nền học vấn rất xuất sắc. Các anh của Isiđôrô đoan chắc điều đó. Isiđôrô được chính anh Linđơ giám sát việc học. Cậu nhỏ Isiđôrô lúc ấy tưởng rằng Linđơ là người hà khắc bủn xỉn nhất trên đời. Vì hết thảy mọi việc anh làm là bắt ép cậu bé học bài. Nhưng rồi một ngày kia, Isiđôrô hiểu rằng anh Linđơ thực là một ân nhân đặc biệt. Anh dạy Isiđôrô rằng chúng ta có thể làm được nhiều việc hữu ích cho Giáo hội của Đức Chúa Giêsu nếu chúng ta cố gắng học hành nghiêm túc. Isiđôrô sống trước Công đồng Trentê, là Công đồng đã khai mở những chủng viện đào tạo các linh mục. Isiđôrô nghĩ rằng mỗi địa phận nên có một chủng viện và một trường Công giáo để tăng cường việc học tập. Cả hai ước mơ đó đều biến thành sự thật khi các đại học Công giáo danh tiếng cũng như các chủng viện sau này được thiết lập.

Thánh Isiđôrô Sêvil cũng là một nhà tổ chức có tài. Thánh nhân được mời điều khiển hai cuộc hội nghị quan trọng của Giáo hội gọi là các Công đồng. Lần thứ nhất tại Sêvil, Tây Ban Nha, vào năm 619; và lần nữa ở Tôlêđô, Tây Ban Nha năm 633. Các Công đồng này đã giúp Giáo hội hợp nhất với nhau hơn. Isiđôrô Sêvil cũng viết nhiều sách vở. Ngài viết về những người nam và những người nữ anh thư trong Kinh Thánh. Isidôrô Sêvil còn viết cả một cuốn từ điển nữa.

Giám mục Isiđôrô rất dễ tiếp xúc với giáo dân của ngài. Những người nghèo khó thành Sêvil biết rõ nơi đâu họ sẽ tìm được sự an ủi giúp đỡ. Mỗi ngày đều có một đoàn người đứng xếp thành hàng dài và cả ngày trước cửa nhà của đức giám mục. Isiđôrô cũng chuyên chăm cầu nguyện và sống hy sinh hãm mình. Ngài thực là một giám mục thánh thiện và giàu lòng bác ái. Isiđôrô Sêvil qua đời năm 636. Đến năm 1722, thánh Isiđôrô Sêvil được đức thánh cha Innôcentê XIII tôn phong làm Tiến sĩ Hội Thánh.

Thánh Isiđôrô Sêvil nhắc nhớ chúng ta rằng Thiên Chúa ban cho mỗi người có một tâm trí. Đó là ân huệ mà chúng ta cần sử dụng cùng với sự đào luyện chuyên chăm. Chúng ta hãy nài xin thánh Isiđôrô Sêvil giúp chúng ta biết dùng tâm trí mình vào những việc hữu ích.

Ngày 5 tháng 4

Thánh Vinhsơn Phêriê

Thánh Vinhsơn Phêriê là một anh tài xuất chúng của Kitô giáo. Ngài được sinh tại thành Valenxia, nước Tây Ban Nha vào năm 1350. Vinhsơn Phêriê có lòng sùng kính đặc biệt đối với Đức Trinh Nữ Maria. Thánh nhân rất lấy làm sung sướng khi nghe ai đó nói về Đức Mẹ. Khi lên mười bảy tuổi, Vinhsơn Phêriê vào tu dòng thánh Đa Minh. Vinhsơn Phêriê rất thông minh sáng trí và hết sức tấn tới trong việc học hành. Vinhsơn Phêriê cũng rất bảnh trai nhưng ngài không lấy làm hãnh diện hoặc khoe khoang về điều ấy bao giờ.

Thoạt đầu, cha Vinhsơn Phêriê giảng dạy ở các trường đại học. Rồi cha trở thành một nhà thuyết giáo danh tiếng. Các tu sĩ dòng Đa Minh được gọi là các tu sĩ dòng Anh Em Thuyết Giáo. Suốt hai mươi năm trời, cha Vinhsơn Phêriê giảng dạy trên khắp hai nước Tây Ban Nha và Pháp. Người ta vẫn có thể nghe được giọng nói của cha từ đàng xa dù thời đó chưa có micrô. Nhiều người vừa nghe cha Vinhsơn Phêriê thuyết giảng đã được ơn cải tà quy chính. Ngay đến Phaolô Bugô, một luật sĩ Dothái giáo danh tiếng, cũng trở nên một tín hữu Công giáo. Sau này, Bugô làm linh mục và giám mục thành Catagiêna, nước Tây Ban Nha.

Những bài giảng thuyết và gương sáng đời sống thánh thiện của Vinhsơn Phêriê đã gây ấn tượng sâu xa đối với nhiều Kitô hữu đến nỗi họ trở nên nhiệt thành hơn. Các tín hữu Công giáo chưa thường xuyên thực hành đức tin của mình cũng được ơn biến đổi. Họ sống nhiệt tâm hơn với quãng đời còn lại của họ.

Thánh Vinhsơn Phêriê tin cậy vào Thiên Chúa. Thánh nhân cũng hay xin những lời cầu nguyện và sám hối hy sinh của nhiều người cho các bài giảng của ngài được sinh hoa kết quả. Vinhsơn Phêriê biết rõ không phải do những lời nói hoa mỹ hay các tài khéo của mình mà thu phục được lòng người ta. Đó là lý do tại sao Vinhsơn Phêriê đã sốt sắng cầu nguyện trước mỗi bài giảng. Tuy nhiên người ta nói rằng một lần kia, khi biết được có một nhân vật rất uy thế đến nghe thuyết giảng, cha Vinhsơn Phêriê đã chuẩn bị chu đáo hơn thường lệ cho bài giảng của ngài mà đã không dùng thời giờ để cầu nguyện. Vì vậy, bài giảng mà Vinhsơn đã soạn thảo kỹ lưỡng lại không gây ảnh hưởng bao nhiêu. Thiên Chúa cho phép điều này xảy ra nhằm dạy cho Vinhsơn không được tin cậy vào tài sức riêng mình. Lần khác, cũng nhân vật quan trọng trên đến nghe cha Vinhsơn thuyết giảng. Nhưng lần này vị linh mục không hay biết điều ấy. Như thường lệ, Vinhsơn Phêriê cầu nguyện và tín thác vào Thiên Chúa. Người quý tộc chăm chú lắng nghe bài giảng và rất xúc động bởi những điều thánh nhân nói. Khi người ta kể cho cha Vinhsơn Phêriê biết điều này, ngài nói: “Trong bài giảng trước, chính Vinhsơn Phêriê là người giảng, còn ở bài giảng sau thì chính Đức Chúa Giêsu là Vị thuyết giảng!”

Vinhsơn Phêriê qua đời năm 1419. Đến năm 1455, ngài được đức thánh cha Nicôla V tôn phong hiển thánh.

Chúng ta đừng bao giờ khoe khoang về những điểm hay tốt của mình hoặc bất cứ thành công nào xảy đến trong đời sống chúng ta. Thiên Chúa vẫn tiếp tục nâng đỡ hết thảy cuộc đời chúng ta nếu chúng ta biết tín thác nơi Người. Chúng ta hãy nài xin thánh Vinhsơn Phêriê giúp chúng ta hiểu được điều này.

 

 

Ngày 6 tháng 4

Chân phước Nôtkơ

Vị tu sĩ dòng thánh Bênêđictô này đã có thời từng là một đứa trẻ hay đau bệnh. Ngài có đặc điểm đáng chú ý là nói cà lăm. Nôtkơ không những chẳng khó chịu gì mà thậm chí còn tỏ ra rất vui thích vì điều ấy.

Nôtkơ và hai người bạn khác, Tutilô và Rapơt, là những tu sĩ rất hạnh phúc. Các ngài khuyến khích và nâng đỡ nhau trong ơn gọi của mỗi người tại tu viện thánh Gal ở Đức. Tình yêu chung đối với Thiên Chúa và âm nhạc đã nối kết các ngài trở thành những người bạn chí thân. Bạn có thể đọc lại tiểu sử của vị thánh này được mừng kính ngày 28 tháng Ba. Thỉnh thoảng, vua Carôlô đến viếng thăm tu viện đặc biệt này. Vua rất kính trọng Nôtkơ và xin ngài khuyên bảo. Nhưng quả là hơi buồn vì họa hiếm ông mới thực hiện theo lời khuyên của Nôtkơ. Lần kia, vua Carôlô sai sứ giả của mình tới gặp vị tu sĩ. Nôtkơ đang trông nom thửa vườn của ngài. Nôtkơ gởi cho nhà vua lời nhắn như sau: “Hãy trông coi mảnh vườn của vua như tôi hằng chăm sóc thửa vườn của tôi đây!” Vua Carôlô hiểu ra rằng mình phải chăm giữ linh hồn và vương quốc của mình cách tốt hơn nữa.

Cha tuyên úy riêng của nhà vua là người uyên thâm học rộng nhưng rất kiêu căng tự phụ. Cha rất bất bình và khó chịu vì nhà vua quá nể trọng ý kiến của Nôtkơ. Một ngày kia, tại cung điện, cha hỏi Nôtkơ trước mặt mọi người: “Bởi ngài rất thông minh nên xin ngài nói cho tôi biết bây giờ Thiên Chúa đang làm gì?!” Linh mục nhoẻn miệng cười với vị tu sĩ và nghĩ rằng chắc ngài sẽ không trả lời được. Nhưng thay vào đó, Nôtkơ mau mắn đáp lại: “Bây giờ Thiên Chúa đang làm việc và Người luôn luôn làm việc. Người đang hạ bệ những ai tự đắc và đang nâng cao những người hèn mọn!” Và mọi người bắt đầu cười vang trong khi vị linh mục vội vã rời khỏi căn phòng.

Chân phước Nôtkơ đã sống trọn phần đời còn lại của mình trong ơn gọi đã chọn. Nôtkơ làm thêm nhiều việc nho nhỏ để giúp các anh em tu sĩ cảm thấy dễ chịu hơn với cuộc sống tu viện. Cùng với các bạn Tutilô và Rapơt, Nôtkơ đã sáng tác một số nhạc phẩm vui để tôn vinh Thiên Chúa.

Khi chân phước Nôtkơ qua đời năm 912, toàn thể cộng đoàn tu sĩ đã thương khóc ngài.

Mỗi người trong chúng ta đều có những tài khéo và những năng khiếu riêng. Vì vậy chẳng có lý do gì để ghen tị với những điều Thiên Chúa ban cho người khác. Chúng ta hãy xin chân phước Nôtkơ giúp chúng ta biết tự hài lòng với những tặng ân mình đã lãnh nhận.

 

Ngày 7 tháng 4

Thánh Gioan Baotixita La Sal

Thánh Gioan Baotixita La Sal sinh tại thành Rêms nước Pháp, vào ngày 30 tháng Tư năm 1651. Cha mẹ Gioan xuất thân từ dòng dõi quý tộc. Tuy Gioan là người quý phái lịch lãm nhưng ngài cũng thật là một cậu bé sốt sắng đạo hạnh. Gioan yêu mến Đức Chúa Giêsu và Giáo hội. Lúc Gioan đang theo học làm linh mục thì song thân qua đời. Vì thế, Gioan phải rời bỏ chủng viện để về nhà trông coi các em, nhưng Gioan vẫn tiếp tục nghiên cứu học tập đang khi dạy dỗ và huấn luyện chúng. Các em trai của Gioan đã trở nên những người tốt lành. Khi việc học của chúng hoàn tất, Gioan Baotixita La Sal cũng được thụ phong linh mục.

Lúc ấy, chỉ có các người quý tộc như gia đình của cha Gioan La Sal mới có cơ hội được học hành, còn những người dân thường thì vẫn phải sống cảnh nghèo đói ngu dốt. Họ chẳng có cơ hội nào để đến trường! Thánh Gioan Baotixita La Sal cảm thấy rất buồn cho những trẻ em con nhà nghèo. Thánh nhân quyết định phải làm một điều gì đó trước tình cảnh này. Thế rồi, cha Gioan La Sal bắt đầu mở các trường học dành cho chúng. Để có thêm các giáo viên, cha đã lập một hội dòng mới, là dòng Anh Em Sư Huynh Các Trường Kitô Giáo. Ngoài việc đích thân dạy dỗ bọn trẻ, cha La Sal dùng thời giờ còn lại để huấn luyện và đào tạo các anh em dòng. Ngài viết cho họ một quy luật sống và một cuốn sách trình bày về cách thức huấn luyện rất tuyệt hảo. Cha Gioan La Sal là một trong các nhà giáo dục nổi danh nhất của mọi thời đại. Ngài tin tưởng vào việc huấn luyện bằng chính ngôn ngữ của họ chứ không phải bằng tiếng Latinh như những người khác đã làm. Cha tập họp các học sinh lại thành các lớp. Cha nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc thinh lặng khi có giáo viên đang giảng bài.

Một thời gian sau, các anh em dòng mở thêm các trường học. Họ dạy dỗ các trẻ nam của những dân lao động cũng như của những người quý tộc. Nhiều vấn đề khó khăn đang xảy đến với hội dòng mới. Nhưng lời nguyện cầu bền bỉ trung thành và những hy sinh của thánh Gioan La Sal đã khiến Thiên Chúa chúc lành cho công việc. Hội dòng vẫn tiếp tục phát triển và lan rộng.

Sức khỏe của cha La Sal không được tốt lắm. Chứng bệnh hen suyễn và viêm khớp đã làm cho ngài phải đau đớn triền miên. Dầu vậy, Gioan La Sal vẫn không bao giờ cho phép mình chấp nhận một lối sống thoải mái. Cha Gioan La Sal qua đời vào ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, nhằm ngày mùng 7 tháng Tư năm 1719, thọ sáu mươi tám tuổi. Năm 1900, đức thánh cha Lêô XIII tôn phong cha Gioan Baotixita La Sal lên bậc hiển thánh. Đến năm 1950, đức thánh cha Piô XII đã đặt Gioan La Sal làm thánh quan thầy của các nhà giáo dục.

Thánh Gioan Baotixita La Sal và hội dòng của ngài dạy cho chúng ta biết tầm quan trọng của việc giáo dục. Chúng ta có biết tận dụng những cơ hội để học hành không? Chăm học ở lớp? Làm bài ở nhà?… Khi cảm thấy không thích học, chúng ta hãy thầm thĩ một lời cầu nguyện xin thánh Gioan Baotixita La Sal trợ giúp.

 

Ngày 8 tháng 4

Thánh Giuliê Bilia

Thánh nữ Maria Rôsa Giuliê Bilia sinh tại nước Bỉ vào năm 1751. Người cậu của Giuliê là giáo viên trường làng đã dạy thánh nữ Giuliê tập đọc và tập viết. Giuliê đặc biệt ham thích môn giáo lý. Thực ra mới vừa bảy tuổi, Giuliê đã cắt nghĩa đức tin cho các trẻ em khác. Vì gia cảnh nghèo túng nên Giuliê phải vất vả làm việc để phụ giúp gia đình. Có khi Giuliê đã cùng cha mẹ thu hoạch các vụ mùa, nhưng Giuliê luôn luôn tìm giờ để cầu nguyện, thăm viếng những người đau ốm và dạy giáo lý.

Giuliê đã ngã bệnh rất nặng và hoàn toàn bị liệt đang khi còn rất trẻ. Dù cho không được khích lệ, thánh Giuliê cũng dâng những kinh nguyện của mình để cầu cho nhiều người tìm gặp được hạnh phúc vĩnh cửu trong Thiên Chúa. Thánh nữ đã kết hợp với Thiên Chúa hơn bao giờ hết và tiếp tục giảng dạy giáo lý ngay trên giường bệnh. Giuliê là một người sống rất tu đức. Người ta đến xin Giuliê khuyên bảo vì thánh nữ chỉ cho họ biết cách sống kết hợp mật thiết với Đức Chúa Giêsu và yêu mến đức tin Công giáo hơn. Giuliê khuyến khích mọi người năng lãnh nhận bí tích Thánh Thể. Lòng yêu mến Thiên Chúa của Giuliê đã gợi hứng cho nhiều thiếu nữ khác. Họ sẵn lòng dùng thời giờ và tiền bạc của họ vào những công việc tốt. Cùng với Giuliê, người lãnh đạo của họ, họ đã thành lập hội dòng Nữ Tử Đức Bà Namu.

Lần kia, có một linh mục đến giảng tuần đại phúc trong thị trấn nơi Giuliê cư ngụ. Vị linh mục xin Giuliê hợp ý với ngài làm một tuần cửu nhật mà không cho Giuliê biết rõ lý do. Sau năm ngày, đến ngày lễ Thánh Tâm Chúa Giêsu, ngài nói: “Thưa Mẹ, nếu Mẹ có đức tin, hãy tiến lên một bước để tỏ lòng tôn kính Thánh Tâm Chúa Giêsu!” Mẹ Giuliê, người bị bại liệt suốt hai mươi hai năm trời, đã đứng dậy và liền được chữa lành!

Thánh nữ Giuliê đã dùng phần đời còn lại của mình huấn luyện chị em thành các nữ tu. Thánh nữ đã trông coi hội dòng của ngài. Giuliê phải chịu nhiều đau khổ bởi những người không hiểu biết sứ mệnh của ngài; nhưng Giuliê luôn luôn tín thác vào Thiên Chúa. Những lời mà thánh nữ Giuliê ưa thích là: “Thiên Chúa tốt lành thật nhân hậu biết bao!” Đức Chúa Giêsu đã quả quyết với Giuliê rằng một ngày kia hội dòng của thánh nữ sẽ rất bành trướng và phát triển. Và điều đó đã trở thành hiện thực. Dù cho thánh nữ Giuliê mất ngày mùng 8 tháng Tư năm 1816, thì ngày nay đã có nhiều nữ tu của thánh nữ vẫn đang hoạt động trên khắp thế giới. Mẹ Giuliê được đức thánh cha Phaolô VI tôn phong lên bậc hiển thánh năm 1969. 

Khi có điều gì đó làm chúng ta băn khoăn lo lắng như một bài kiểm tra ở trường hoặc những chuyện phiền toái ở nhà, chúng ta hãy năng đọc: “Lạy Thánh Tâm Chúa Giêsu, con tín thác nơi Chúa!”

 

 Ngày 9 tháng 4

Thánh Waltruđi

Thánh nữ Waltruđi sinh ở nước Bỉ vào thế kỷ thứ bảy. Thân phụ, thân mẫu và người em gái của Waltruđi, tất cả đều đã được phong thánh! Waltruđi là một cô gái xinh đẹp. Thánh nữ cũng tìm được cách để khai trí người khác ngay cả khi ngài được vui vẻ hạnh phúc. Nhiều chàng thanh niên đã muốn kết hôn với Waltruđi. Vào thời ấy, cha mẹ thường chọn chồng cho các con gái của họ. Song thân của Waltruđi đã chọn cho Waltruđi bá tước Mađelga làm chồng. Họ chẳng thể chọn người nào tốt hơn được nữa vì bá tước sau này cũng trở nên một vị thánh! Ngài chính là thánh Vinhsơn Mađelga. Hai vợ chồng sinh được bốn người con. Thật không thể tin được! Tất cả đều được Giáo hội Công giáo tôn phong hiển thánh!

Thánh nữ Waltruđi thật sung sướng hạnh phúc vì được Thiên Chúa ban cho một gia đình đặc biệt như vậy. Nhưng trong suốt cuộc đời, Waltruđi cũng đã phải chịu rất nhiều đau khổ. Các bà ghen tị đã loan truyền những truyện kinh tởm xấu xa về thánh nữ. Các bà chẳng có lòng thật thà và quảng đại như Waltruđi. Họ không muốn thiên hạ nghĩ rằng Waltruđi tốt lành hơn họ. Vì vậy, họ nói là Waltruđi cầu nguyện và làm những việc bác ái là chỉ cốt để che giấu đi những tội lỗi thầm kín của ngài. Dĩ nhiên, đó là những lời dối trá! Nhưng thánh nữ đã không tự biện minh cho mình. Waltruđi nghĩ về cách thức Đức Chúa Giêsu đã chịu đau khổ trên Thánh Giá và, như Chúa, Waltruđi cũng đã tha thứ cho các kẻ thù của ngài.

Sau khi sinh hạ người con cuối cùng được một thời gian, thánh Vinhsơn Mađelga thổ lộ là ngài rất muốn trở nên một tu sĩ. Thật ra, Vinhsơn mong ước được sống phần đời còn lại của ngài trong chốn viện tu. Người vợ hiểu biết tâm ý của chồng và đã chấp thuận cho chồng đi tu. Thánh Vinhsơn Mađelga đoan chắc là gia đình ngài đã được lo liệu đầy đủ rồi. Hai người thương nhớ nhau nhiều lắm! Nhưng Waltruđi không giữ chồng ở lại. Ngài dâng sự hy sinh cho Thiên Chúa.

Hai năm sau, thánh nữ Waltruđi cũng quyết định đi tu. Ngài đã sống một cuộc đời rất hy sinh và quảng đại với những người nghèo khổ. Người ta đến xin Waltruđi những lời khuyên bảo về đàng thiêng liêng; và vài người cho biết là họ đã được mãn nguyện. Thánh nữ Waltruđi mất năm 688. Sau khi thánh nữ qua đời, nhiều người đến cầu nguyện nơi ngôi mộ của ngài tuyên bố là đã được khỏi bệnh cách lạ thường. 

Vị thánh này giúp chúng ta nhận biết rằng cuộc đời của chúng ta có nhiều điều tốt đẹp. Chúng ta nên cảm tạ Thiên Chúa vì những hồng ân ấy. Nhưng đôi khi cũng có những chuyện hơi buồn. Chúng ta hãy cầu nguyện để có can đảm hành động như Đức Chúa Giêsu trong những tình cảnh ấy.

 

Ngày 10 tháng 4

Chân phước Antôn Nâyrô

Chân phước Antôn Nâyrô sinh tại miền bắc nước Ý vào thế kỷ thứ mười lăm. Ngài gia nhập dòng thánh Đa Minh ở Florentia, nước Ý. Lúc ấy, bề trên của hội dòng là thánh Antôniô. Chúng ta cử hành thánh lễ kính ngài ngày mùng 10 tháng Năm. Vị thánh này đã gây một ảnh hưởng rất lớn trên cuộc đời của chân phước Antôn Nâyrô.

Thầy Antôn đang vượt tàu từ Napôli tới Sicily thì bị bọn cướp biển bắt giữ. Antôn bị đem tới Tuni và bị bán làm nô lệ. Sau đó, Antôn đã được trả tự do nhưng lại lìa bỏ Giáo hội. Antôn phủ nhận niềm tin vào Đức Chúa Giêsu và chối bỏ ơn kêu gọi tu trì của ngài. Antôn nhận một bản kinh Kôran là sách thánh của những người Hồi giáo. Suốt nhiều tháng, Antôn thực hành giáo thuyết đạo Hồi. Antôn Nâyrô cũng lập gia đình.

Trong thời gian ấy, bề trên dòng Đa Minh là thánh Antôniô qua đời. Điều này đã gây cho Antôn Nâyrô một cảm nghiệm rất đỗi dằn vặt. Một đêm nọ, hình như Antôn nằm mơ thấy thánh Antôniô hiện ra với mình. Cuộc đàm thoại giữa hai người đã làm cho Antôn Nâyrô thay đổi hoàn toàn. Antôn Nâyrô hết sức hối hận vì đã phản bội Thiên Chúa. Ngài biết không bao giờ có thể loại bỏ niềm tin vào Đức Chúa Giêsu ra khỏi lòng mình. Antôn Nâyrô biết mình vẫn có thể làm một tín hữu Công giáo và nhận thấy mình vẫn còn rất muốn làm một tu sĩ dòng Đa Minh.

Chân phước Antôn Nâyrô gởi trả người vợ về cho gia đình cô ấy. Rồi ngài vận tu phục trắng của dòng Đa Minh vào. Thay vì sợ hãi, Antôn Nâyrô đã đi gặp nhà cầm quyền của thành phố Tuni. Đám đông tụ họp và viên thống đốc bước ra sân nhà. Thầy Antôn Nâyrô công khai thú nhận là đã phạm một tội quái ác. Thầy là người Công giáo. Thầy tin nhận và yêu mến Đức Chúa Giêsu. Thầy là một tu sĩ dòng Đa Minh và muốn mãi mãi là tu sĩ. Viên thống đốc tức giận. Ông ngăm đe phản đối nhưng rồi lại hứa ân thưởng nếu Antôn Nâyrô rút lại điều ngài đã nói. Nhưng Antôn Nâyrô đã không làm theo. Antôn Nâyrô biết rằng điều này sẽ khiến ngài phải nhận lấy cái chết.

Antôn Nâyrô quỳ gối và bắt đầu cầu xin cho được ơn can đảm hiến mình vì Đức Chúa Giêsu. Thình lình Antôn Nâyrô thấy những tảng đá lớn dồn dập nện vào mình ngài. Antôn Nâyrô vẫn tiếp tục cầu nguyện xin ơn can đảm để được trung thành với Thiên Chúa. Rồi ngài không còn nhận biết gì nữa. Antôn Nâyrô chết như một vị thánh tử đạo năm 1460. Một số người lái buôn từ Giơnoa, nước Ý, đã mang xác Antôn Nâyrô về quê hương của ngài.

Chân phước Antôn Nâyrô để lại cho chúng ta một tấm gương can đảm. Khi chúng ta thật lòng ăn năn thống hối, Đức Chúa Giêsu luôn sẵn sàng tha thứ cho chúng ta hết thảy những khuyết điểm và lỗi lầm đã phạm.

 

 

Ngày 11 tháng 4

Thánh Stanítlao

Thánh Stanítlao sinh năm 1030, gần thành phố Cracow, nước Ba Lan. Để sinh hạ Stanítlao, song thân ngài đã phải liên lỉ cầu nguyện suốt ba mươi năm trời. Lúc Stanítlao chào đời, song thân đã khấn dâng ngài cho Thiên Chúa vì họ rất biết ơn có được mụn con. Khi lớn lên, Stanítlao sang học ở Pari, nước Pháp. Sau khi song thân qua đời, Stanítlao đem cho người nghèo tất cả tiền bạc và của cải mà song thân để lại cho ngài. Sau đó, Stanítlao làm linh mục.

Năm 1072, Stanítlao được bổ nhiệm làm giám mục giáo phận Cracow. (Nhiều thế kỷ sau, trước lúc làm giáo hoàng, đức Gioan Phaolô II cũng là giám mục giáo phận Cracow.) Giám mục Stanítlao chiếm được tình cảm của mọi người. Họ hết sức cảm kích cách thức ngài quan tâm chăm sóc những người nghèo, những quả phụ và các trẻ mồ côi. Chính Stanítlao thường hay tiếp đãi phục vụ họ.

Lúc ấy, Bôlêlô II làm vua nước Ba Lan. Vua rất độc ác và sống vô luân. Dân chúng chán ghét lối sống của vua và ghê sợ vua. Thoạt đầu, giám mục Stanítlao sửa lỗi cho nhà vua cách tư riêng. Tuy Stanítlao rất tử tế và lịch duyệt, nhưng ngài cũng nhận định hết sức trung thực về việc làm sai trái của vua. Vua có vẻ hối hận nhưng chẳng bao lâu lại chứng nào tật nấy. Thậm chí vua đã sai phạm những tội còn quái ác hơn! Thế rồi giám mục đành phải loại vua ra khỏi Giáo hội. Vua Bôlêlô liền nổi cơn thịnh nộ. Để trả thù, vua truyền lệnh cho hai trong số những cận vệ của mình đến giết hại thánh Stanítlao. Họ đã cố gắng đến ba lần nhưng đều thất bại. Rồi chính nhà vua, trong một cơn cuồng giận, đã chạy vào nguyện đường của thánh giám mục. Vua đã giết chết thánh Stanítlao khi ngài đang dâng thánh lễ. Hôm đó là ngày 11 tháng Tư năm 1079.

Thiên Chúa đã làm nhiều phép lạ sau khi thánh Stanítlao qua đời. Mọi người đều gọi Stanítlao là vị thánh tử đạo. Năm 1253, đức thánh cha Innôcentê IV đã tôn Stanítlao lên bậc hiển thánh.

Chúng ta ngưỡng mộ và quý mến thánh Stanítlao. Điều ấy giúp chúng ta can đảm sửa lỗi cho những người xúc phạm đến tha nhân và gây gương xấu. Đôi khi chúng ta cũng được người khác giúp sửa chữa những lầm lỗi của riêng mình. Chúng ta hãy nài xin thánh Stanítlao giúp chúng ta quyết tâm sửa lại những khuyết điểm và thói xấu. Chúng ta cũng hãy xin ngài giúp chúng ta biết ơn những người dám thách đố chúng ta sống tốt hơn.

 

Ngày 12 tháng 4

Thánh Giuse Môscati

Thánh Giuse Môscati sinh ngày 25 tháng Bảy năm 1880 tại Bênêventô, nước Ý. Thánh nhân là con thứ bảy trong gia đình có chín người con. Thân phụ của Giuse Môscati là thẩm phán ở Napôli, vì vậy cả gia đình đã chuyển đến sống ở đó. Khi Giuse lên mười hai tuổi, người anh trai Albêtô của ngài bị té ngựa. Thoạt đầu, gia đình hy vọng chữa trị được, nhưng tình trạng của cậu nhỏ dần dần trở nên xấu tệ hơn. Giuse Môscati trải qua nhiều giờ rảnh rang bên giường của anh mình. Ngài cũng có mặt ở đó khi anh Albêtô qua đời.

Cái chết của người anh trai đã gây cho Giuse Môscati một ấn tượng sâu đậm. Ngài xin Đức Chúa Giêsu đang hiện diện trong bí tích Thánh Thể và Mẹ Maria lời giải đáp. Đau khổ phải có mục đích của nó! Giuse Môscati cũng thử tìm đến với những phương dược chữa trị chuyên môn. Qua những phương thuốc tối hảo nhất, Giuse Môscati nhận thấy rằng trong cuộc đời này, chúng ta đang hành trình đến sự sống vĩnh cửu. Vì vậy, chúng ta có bổn phận phải giúp đỡ tha nhân và phục vụ họ đang khi chúng ta cùng nhau hành trình. Giuse Môscati phân vân do dự và đã cầu nguyện cho biết phải làm gì với cuộc đời của mình. Rồi Giuse quyết định muốn đóng góp chút tài lực để chữa trị nỗi đau khổ thể lý của con người. Giuse Môscati sẽ trở thành bác sĩ.

Năm lên hai mươi ba tuổi, bác sĩ Môscati bắt đầu công tác tại bệnh viện chuyên chữa những chứng bệnh nhân nan trị ở thành phố Napôli. Sau đó, ngài mở một phòng mạch tư. Hết mọi bệnh nhân đều được tiếp đón dù họ có thể hoặc không thể hoàn trả phí tổn. Giuse Môscati ghi toa thuốc cho những bệnh nhân nghèo, rồi trả tiền thuốc bằng chính tiền túi của ngài. Mỗi ngày sống trải qua thật dài và vất vả nhưng bác sĩ Môscati vẫn kiên nhẫn dịu dàng và sống bao dung quảng đại. Ngài cố gắng chăm chú lắng nghe các bệnh nhân. Ngài khuyến khích họ và cầu nguyện cho họ.

Không chỉ là bác sĩ ưu tú mà Giuse Môscati còn là một người thánh thiện nữa! Làm sao ngài làm được điều đó? Mỗi sáng, Giuse Môscati đi tham dự thánh lễ và dùng thời giờ đọc kinh nguyện. Rồi ngài thăm viếng những người nghèo khổ đau ốm sống trong những khu nhà ổ chuột của thành phố Napôli. Sau đó, Giuse Môscati tới bệnh xá và bắt đầu các phiên trực của ngài. Giuse Môscati đã làm việc và cầu nguyện cho các bệnh nhân của ngài suốt hai mươi bốn năm. Giuse Môscati đã dốc đổ hết sức lực cho ơn kêu gọi của đời ngài. Vào trưa hôm Thứ Tư ngày 12 tháng Tư năm 1927, bác sĩ Môscati cảm thấy yếu mệt, vì vậy ngài đã tới phòng mạch của ngài và ngồi nghỉ trên chiếc ghế bành. Tại đó, Giuse Môscati bị chứng đột quỵ và tắt thở, hưởng dương bốn mươi bảy tuổi.

Bác sĩ Giuse Môscati được đức thánh cha Gioan Phaolô II tôn phong lên bậc hiển thánh ngày 25 tháng Mười năm 1987.

Chúng ta hãy khẩn nài thánh Giuse Môscati giúp chúng ta sống tử tế, lương thiện và giàu lòng thương cảm. Chúng ta cũng hãy nài xin thánh Giuse Môscati dạy chúng ta biết quý trọng thánh lễ và yêu mến Đức Mẹ Maria như ngài.

 

Ngày 13 tháng 4

Thánh Máctinô I

Thánh Máctinô I là linh mục của thành phố Rôma. Ngài nổi tiếng là người thánh thiện và thông thái. Vào tháng Bảy năm 649, Máctinô lên ngôi giáo hoàng. Khi người ta tranh cãi nhau về những chân lý buộc phải tin, giáo hoàng Máctinô I liền triệu tập một hội nghị các giám mục. Cuộc họp này là Công đồng Lateranô, có mục đích giải thích cách rõ ràng minh bạch các chân lý mạc khải, những điều mà chúng ta phải tin. Tuy thế, có một vài Kitô hữu đã không hài lòng về việc này. Giáo hoàng Máctinô biết rằng sự giải thích cắt nghĩa của Công đồng là điều chân thật. Bổn phận của ngài với cương vị giáo hoàng là phải giảng dạy chân lý cho dân chúng.

Một số người có thế lực không hiểu rõ những việc làm của giáo hoàng Máctinô. Một trong số họ là hoàng đế Constan II thành Constantinôpôli. Ông đã sai thuộc hạ của ông tới Rôma bắt giáo hoàng Máctinô I và giải về Constantinôpôli. Những người thuộc hạ đã đến bắt cóc giáo hoàng. Lập tức họ đưa ngài ra khỏi đền thờ thánh Gioan Latran và đẩy ngài lên một chiếc tàu. Rồi, giáo hoàng Máctinô lâm bệnh nhưng họ vẫn tiếp tục cuộc hành trình. Vào tháng Mười năm 653, họ giam ngài tại Constantinôpôli độ ba tháng. Trong thời gian này, mỗi ngày họ chỉ cho giáo hoàng Máctinô chút ít thực phẩm và nước uống. Thậm chí ngài không được phép tự mình tắm rửa. Sau đó, giáo hoàng Máctinô I bị đưa ra xét xử, bị công khai làm nhục và bị lên án tử. Nhưng sau đó, họ lại mang ngài trở về nhà tù và giam ngài thêm ba tháng nữa. Đức Thượng phụ Giáo chủ Phaolô của Constantinôpôli đã xin tha chết cho ngài. Vì vậy, Máctinô I đã bị án lệnh trục xuất thay vì phải chết. Người ta đặt giáo hoàng Máctinô I trên một chiếc tàu chở ngang qua Biển Đen. Vào tháng Tư năm 654, tàu đổ bộ trên bán đảo Nga gọi là “bán đảo Crinêa.”

Họ làm cho giáo hoàng Máctinô I phải chú ý trước sự thờ ơ lãnh đạm của những người phụ trách việc giam giữ ngài. Giáo hoàng Máctinô I đã viết một bài tường thuật về những ngày buồn thảm ấy. Ngài nói rằng mình cảm thấy rất đau buồn khi bị chính những người thân thuộc và các thành viên trong Giáo hội Rôma quên lãng. Ngài biết rằng họ sợ nhà vua. Nhưng ít ra, đức Máctinô I nói, hẳn là họ cũng có thể gởi cho ngài những đồ tiếp tế như ngũ cốc, dầu mè và các nhu cầu thông thường khác. Nhưng họ đã không làm. Họ đã bỏ rơi giáo hoàng chỉ vì sợ hãi!

Thời gian lưu đầy của giáo hoàng Máctinô I kéo dài hai năm. Ngài qua đời khoảng năm 656. Giáo hoàng Máctinô I được tôn phong là thánh tử đạo vì những đau khổ khủng khiếp ngài đã chịu. Cho tới hiện nay, thánh Máctinô I là vị giáo hoàng sau cùng được Giáo hội công nhận là thánh giáo hoàng tử đạo. 

Đôi khi chúng ta bị rơi vào cạm bẫy ghen tỵ với những người có chức vị quyền hành. Chính lúc đó chúng ta hãy cầu xin với thánh giáo hoàng Máctinô I. Chúng ta hãy xin thánh nhân thay thế tham vọng ấy bằng một tâm hồn can đảm.

 

Ngày 14 tháng 4

Chân phước Liguyna

Danh xưng “Liguyna” có nghĩa là “đau khổ.” Liguyna quê ở Hà Lan. Ngài sinh năm 1380 và mất năm 1433. Khi lên mười lăm tuổi, Liguyna tận hiến trọn vẹn đời mình cho Thiên Chúa. Tưởng chừng như Liguyna đã là một nữ tu. Nhưng rốt cuộc vào một buổi chiều kia, toàn bộ cuộc đời của Liguyna đã bị thay đổi.

Đang lúc trượt băng cùng với các cô bạn, thì bất chợt, một trong các cô nhảy đâm sầm vào Liguyna. Liguyna té mạnh xuống nền băng và bị gãy một xương sườn. Liguyna chịu đau khổ. Nhưng cú ngã cũng gây ra những rắc rối khác. Những ngày tiếp đó, Liguyna bị chứng nhức đầu kinh khủng, khát nước, buồn nôn, cảm sốt và đau nhức khắp cả thân thể.

Liguyna than khóc nói với thân phụ là mình không thể chịu đựng nổi đau đớn nữa. Nhưng cơn đau ngày một gia tăng. Liguyna biểu lộ cơn đau nhức qua khuôn mặt và thân xác ngài. Rồi Liguyna bị mù luôn một mắt. Cuối cùng, Liguyna bị liệt giường.

Liguyna cay đắng và thất vọng! Tại sao Thiên Chúa lại để cho tình cảnh này xảy đến với mình? Thiên Chúa muốn điều gì nơi mình? Và tóm lại, mình có thể dâng cho Đức Chúa Giêsu điều gì đây? Cha Gioan, cha xứ của Liguyna, đã đến thăm hỏi và cùng cầu nguyện với Liguyna. Cha giúp Liguyna nghĩ về những đau khổ Đức Chúa Giêsu đã chịu. Liguyna bắt đầu nhận thức được món quà quý đẹp ngài sẽ dâng tặng Đức Chúa Giêsu: Liguyna sẽ chịu đau khổ vì Đức Chúa Giêsu. Liguyna sẽ dâng những nỗi đau của mình để an ủi Chúa, Đấng đã chịu khổ quá nhiều trên Thánh Giá. Đau khổ của Liguyna sẽ trở nên lời cầu nguyện tuyệt đẹp dâng cho Thiên Chúa. Dần dần, Liguyna bắt đầu hiểu ra.

Chân phước Liguyna đã chịu đau khổ suốt ba mươi tám năm trời. Người ta không thể tin được là Liguyna đã có thể sống được trong một tình trạng bi thảm như thế. Nhưng Liguyna đã vượt qua. Thiên Chúa đã an ủi Liguyna bằng nhiều phương thế. Tại căn phòng bé nhỏ nghèo nàn, Liguyna đối xử thật tốt bụng với mọi người đến thăm Liguyna. Liguyna cầu nguyện với Thiên Chúa và dâng đau khổ cho những ý chỉ đặc biệt của họ. Họ biết rằng Thiên Chúa sẽ nhận lời Liguyna khấn xin.

Chân phước Liguyna có một lòng yêu mến đặc biệt đối với Chúa Giêsu Thánh Thể. Suốt nhiều năm, dường như Liguyna chỉ sống nhờ vào bí tích Thánh Thể.

Chân phước Liguyna giúp chúng ta nhận biết rằng chúng ta có thể dâng những đau khổ thể xác lên Đức Chúa Giêsu với lòng yêu mến. Ngài cũng nhắc nhớ chúng ta rằng nếu chúng ta có sức khỏe tốt, chúng ta hãy nên thường xuyên tạ ơn Thiên Chúa.

 

Ngày 15 tháng 4

Chân phước Đamien Môlôkai

Giuse “Jép” Vơstơ, sinh năm 1840, là con trai của một gia đình nông dân gốc Bỉ. Ngài và người anh trai, Pamphilê, đi tu dòng Hai Thánh Tâm. Công việc của các vị thừa sai này là rao giảng đức tin Công giáo trên vùng đảo Haoai. Jép lấy tên là “Đamien.” Dung mạo thầy Đamien cao to và lực lưỡng. Những năm phụ giúp gia đình chăm lo công việc đồng áng đã tạo cho Đamien có một vóc dáng khỏe mạnh như vậy. Mọi người đều quý mến Đamien vì ngài sống tốt lành và nhân hậu.

Người ta đang cần thêm nhiều nhà truyền giáo tại lãnh địa Haoai. Năm 1863, một nhóm linh mục và tu sĩ dòng Hai Thánh Tâm được cử đi. Pamphilê, anh trai của Đamien, được chọn. Ngay trước ngày lên đường, Pamphilê bị sốt thương hàn nên không thể thực hiện được sứ mệnh truyền giáo. Thầy Đamien đang học làm linh mục đã xin thay thế vào chỗ của người anh. Cha bề trên tổng quyền chấp thuận lời thỉnh cầu của Đamien. Sau đó, Đamien trở về nhà và âu yếm từ biệt gia đình của ngài. Rồi, Đamien vượt tàu từ Bỉ đến Haoai, một cuộc hành trình kéo dài mười tám tuần lễ. Ít lâu sau, Đamien hoàn tất việc học hành và được thụ phong linh mục tại Haoai. Ngài trải qua tám năm sống giữa những cư dân thuộc ba huyện. Cha Đamien dùng ngựa hoặc thuyền nhỏ để làm phương tiện đi lại.

Dân chúng yêu quý vị linh mục cao to và giàu lòng quảng đại này. Đamien cũng nhận thấy họ năng thưa đáp kinh nguyện trong các nghi lễ. Sau đó, Đamien dùng một số tiền nhỏ quyên góp được để xây cất những nguyện đường. Chính Đamien và các bổn đạo đã tự xây lấy những nguyện đường này. Nhưng chẳng mấy chốc, phần đời đặc biệt nhất của Đamien được khai mở. Đức giám mục xin một linh mục tình nguyện tới đảo Môlôkai. Chỉ ngay cái tên thôi cũng đủ làm cho người ta khiếp hãi. Họ biết rằng một khu của hòn đảo tên Kalagao chính là một “bãi tha ma sống” của những người chết vì bệnh phong hủi. Họ chẳng hiểu gì về căn bệnh và rất sợ bị lây nhiễm đến nỗi phần lớn những bệnh nhân phong ở đây đã bị bỏ rơi. Nhiều người đã tuyệt vọng hoàn toàn. Không có linh mục, không có cơ quan đại diện thi hành luật pháp Môlôkai, không có những phương tiện thuận lợi cho việc chăm sóc sức khỏe. Chính phủ Haoai có gởi một ít thực phẩm và thuốc men tới đây nhưng chẳng đáng kể gì! Cũng chẳng có những phương tiện tổ chức phân phát thực phẩm hàng hóa!

Cha Đamien đi Môlôkai. Ngài quyết đương đầu với sự nghèo khổ, hư hóa và thất vọng. Lắm lúc, Đamien dường như bị sốc; nhưng rồi Đamien quyết không bao giờ quay về. Dân chúng đang rất cần sự giúp đỡ. Đamien đi tới Hônôlulu để gặp những thành viên trong ủy ban chăm sóc sức khỏe. Họ nói với Đamien rằng ngài không thể trở lại Môlôkai nữa vì có thể sẽ bị lây bệnh. Chủ ý đích thật của họ chỉ là không muốn cho Đamien đến Môlôkai vì ngài đang gây ra quá nhiều vấn đề khó khăn cho họ. Vì vậy, Đamien phải chọn: nếu trở về Môlôkai, ngài sẽ không thể đi được nữa. Nhưng ủy ban chăm sóc sức khỏe không hiểu Đamien. Ngài đã chọn đi Môlôkai.

 Đamien làm việc suốt mười tám năm cho tới khi qua đời tại Môlôkai. Với sự trợ giúp của các bệnh nhân phong hủi và các anh chị em thiện nguyện quảng đại, Môlôkai đã được biến đổi hoàn toàn. Tên “Môlôkai” giờ đây mang một ý nghĩa mới. Nó trở thành hòn đảo của lòng bác ái Kitô giáo. Rồi, chính cha Đamien cũng bị lây bệnh. Cha qua đời ngày 15 tháng Tư năm 1889 vào độ tuổi bốn mươi chín; và cha được chôn cất tại đó. Đến năm 1994, Đamien Môlôkai được đức thánh cha Gioan Phaolô II tôn phong lên hàng chân phước.

Chúng ta hãy nài xin chân phước Đamien Môlôkai ban cho chúng ta một chút lòng can đảm và hào hiệp của ngài. Còn có quá nhiều người đang cần đến tình yêu và sự nâng đỡ của chúng ta. Chân phước Đamien Môlôkai sẽ giúp chúng ta hành động với niềm vui tươi và với trái tim nhân ái của ngài.

 

Ngày 16 tháng 4

Thánh Bênêđictô Giuse lao động

Vị thánh người Pháp này, sinh năm 1748, có một cuộc đời đặc biệt khác thường. Ngài là con trai của một chủ tiệm và được người cậu linh mục dạy dỗ. Khi vị linh mục tốt lành này qua đời, Bênêđictô đã cố gắng xin vào một tu viện. Tuy nhiên, người ta nói rằng ngài còn quá nhỏ. Rồi Bênêđictô liên hệ với một dòng tu khác. Nhưng khi vào dòng, Bênêđictô trở nên yếu bệnh. Người ta đề nghị ngài hãy trở về nhà sống đời Kitô hữu gương mẫu. Bênêđictô về nhà và sức khỏe của ngài dần dần được hồi phục. Bênêđictô cầu nguyện xin Thiên Chúa giúp đỡ. Rồi Bênêđictô cảm nhận được câu trả lời. Bênêđictô sẽ trở thành một người du hành, một nhà du hành thánh thiện chuyên cầu nguyện và làm việc sám hối. Là người du hành, Bênêđictô sẽ đến thăm viếng những thánh đường danh tiếng của Âu châu.

Bênêđictô bắt đầu cuộc hành trình. Ngài lần lượt viếng từng ngôi thánh đường. Bênêđictô vận một áo choàng vải thô, đeo một Ảnh Chịu Nạn trên ngực và một chuỗi Mân Côi quanh cổ. Bênêđictô ngủ trên nền đất. Thức ăn duy nhất Bênêđictô dùng là những của người ta bố thí. Nếu họ cho Bênêđictô tiền, ngài liền đem cho người nghèo. “Vali” của Bênêđictô là một chiếc bao bố. Trong đó ngài đựng một cuốn Phúc âm của riêng ngài cũng như các ảnh tượng và sách thánh để tặng cho người khác. Thánh Bênêđictô chẳng để ý gì tới những cảnh đẹp nơi các thành phố ngài ghé thăm. Mối quan tâm duy nhất của Bênêđictô là các nhà thờ nơi Đức Chúa Giêsu đang hiện diện trong bí tích Thánh Thể.

Năm tháng trôi qua! Thánh Bênêđictô trông càng ngày càng giống như một người hành khất. Ngài ăn mặc rách rưới và nhơ bẩn. Bênêđictô ăn vỏ bánh mì khô và vỏ khoai tây. Ngài chẳng bao giờ đòi hỏi bất cứ tiện nghi gì hầu giúp cho cuộc sống được dễ chịu. Tại một vài nơi, trẻ con đã lượm đá ném Bênêđictô và chọc ghẹo tên ngài. Những người không biết Bênêđictô dường như muốn xa lánh ngài. Nhưng khi thánh Bênêđictô quỳ gối cầu nguyện trước Nhà Tạm, ngài trở nên bất động như một pho tượng. Khuôn mặt tái xạm và mệt mỏi của Bênêđictô tỏa sáng. Bênêđictô truyện trò với Đức Chúa Giêsu và Mẹ Maria. Ngài thầm thĩ: “Ôi Maria, Mẹ của con!” Bênêđictô thực sự hạnh phúc và vui sướng khi làm bạn với Đức Chúa Giêsu và Đức Mẹ.

Thánh Bênêđictô qua đời năm 1783, lúc được ba mươi lăm tuổi. Danh tiếng của người đàn ông nghèo khó thánh thiện này truyền lan khắp nơi. Cuộc hành trình của Bênêđictô chấm dứt. Chuyến hành hương qua đi và Bênêđictô được ở với Đức Chúa Giêsu và Đức Mẹ Maria mãi mãi. Sau khi chết đúng một thế kỷ, vào năm 1883, Bênêđictô Giuse lao động được đức thánh cha Lêô XIII tôn phong lên bậc hiển thánh. 

Chúng ta không thể noi gương nghèo khó của Đức Chúa Giêsu theo lối thánh Bênêđictô Giuse lao động đã thực hiện. Tuy nhiên, chúng ta có thể bắt chước lòng yêu mến đối với bí tích Thánh Thể của vị thánh này. Chúng ta hãy năng đến nhà thờ để viếng thăm và trò truyện tâm tình với Đức Chúa Giêsu. Người thật là bạn thân quý nhất của chúng ta!

 

 

Ngày 17 tháng 4

Thánh Têphanô khó khăn

Thánh Têphanô khó khăn sinh ở nước Anh vào thế kỷ thứ mười hai. Ngài là một sinh viên xuất sắc và chăm chỉ. Têphanô đặc biệt lưu tâm đến văn chương. Têphanô sống rất nghiêm túc và cầu nguyện hằng ngày. Lần kia, Têphanô và đồng bạn của ngài làm một cuộc hành hương đến Rôma. Khi trở về, Têphanô nhập bọn với một nhóm đan sĩ thánh thiện nghèo khó. Những người này chuyên chăm cầu nguyện, ăn chay và làm việc vất vả. Đó là cách thức họ bày tỏ lòng yêu mến của mình đối với Thiên Chúa. Têphanô nhận thấy họ sống rất hạnh phúc. Đan phụ của họ là thánh Rôbêtô.

Thoạt đầu, Têphanô cùng với những người này hân hoan phục vụ Thiên Chúa. Nhưng dần dần các đan sĩ chẳng muốn sống cuộc đời nghiêm nhặt như vậy nữa. Vì thế, thánh Rôbêtô cùng với thánh Têphanô và 20 đan sĩ khác tách ra rồi thiết lập một đan viện mới. Các ngài tự xây cất đan viện trên một vùng hoang mạc khô cằn trong nước Pháp gọi là Xitô. Họ sống đời lao động và hết sức khó nghèo. Họ muốn bắt chước mẫu gương nghèo khó của Đức Chúa Giêsu. Họ cũng giữ luật thinh lặng cách rất nhiệm nhặt.

Thánh Têphanô gặp nhiều vấn đề khó khăn khi ngài làm đan phụ. Các đan sĩ chỉ có chút ít thực phẩm để dùng. Rồi trên phân nửa số đan sĩ lâm bệnh và qua đời. Trông như thể đan viện đang đến hồi bị hủy diệt! Họ cần có thêm những thành viên trẻ mới để tiếp tục duy trì lối sống của họ. Têphanô cầu nguyện cùng Thiên Chúa với lòng tin tưởng. Và lời cầu xin của ngài đã được chấp nhận. Thiên Chúa gởi đến cho các đan sĩ Xitô này thêm ba mươi thanh niên nữa. Họ cùng nhau tới gõ cửa đan viện. Người lãnh đạo nhóm họ cũng sẽ là một vị thánh. Tên của ngài là Bênađô. Chúng ta mừng lễ kính ngài ngày 20 tháng Tám. Đây là một ngày kỳ diệu lạ lùng đối với thánh Têphanô và các đan sĩ.

Thánh Têphanô dùng ít năm cuối đời để viết tu luật cho các đan sĩ. Ngài cũng huấn luyện thánh Bênađô để đảm trách nhiệm vụ của ngài.

Khi gần tắt thở, thánh Têphanô nghe các đan sĩ đứng xung quanh giường ngài bàn tán. Họ nói rằng Têphanô không hề sợ chết vì ngài đã làm việc rất chăm và mến Chúa hết lòng. Nhưng thánh Têphanô nói rằng ngài sợ mình chưa tốt lành đủ. Và ngài nói rất nghiêm chỉnh. Điều đó cho chúng ta thấy thánh nhân thật khiêm nhượng chừng nào. Thánh Têphanô qua đời năm 1134.

Chúng ta thường sống trong sự ồn ào náo nhiệt cả ban ngày lẫn ban tối. Chúng ta nghe máy thu thanh, xem tivi, chơi vi tính và những trò chơi băng hình. Đầu óc chúng ta chứa đầy những tiếng động! Chúng ta hãy nài xin thánh Stêphanô đan sĩ giúp chúng ta mỗi ngày gắng tìm ra một ít giờ thinh lặng. Đó là lúc chúng ta để Thiên Chúa hoạt động trong tâm trí và con tim của mình. Nhưng chúng ta cần phải cầu nguyện để biết khôn ngoan lợi dụng thời giờ.

 

Ngày 18 tháng 4

Chân phước Maria Nhập Thể

Babara sinh tại nước Pháp năm 1566. Khi lên mười bảy tuổi, Babara kết hôn với Phêrô Acari. Babara và người chồng yêu quý sống niềm tin Công giáo. Hai vợ chồng sinh được sáu người con và đời sống gia đình thật hạnh phúc. Babara cố gắng trở nên một người vợ và người mẹ tốt. Gia đình học được nơi Babara lòng yêu mến cầu nguyện và tâm hồn bác ái cao cả.

Lần kia, khi người chồng của Babara bị người ta buộc tội cách bất công, chính Babara đã cứu giúp chồng. Babara đã đến tòa án và một mình thanh minh cho người chồng vô tội.

Dù bận rộn với công việc gia đình, Babara vẫn luôn tìm thời giờ để bố thí cho những người nghèo túng. Babara hướng dẫn họ sống đức tin. Babara giúp đỡ những người đau yếu và hấp hối. Babara dịu dàng hối thúc những người đang sống lây lất trong tội lỗi hãy thay đổi lối sốngï. Những việc tốt lành Babara thực hiện là những công việc bác ái.

Khi người chồng qua đời, Babara xin vào tu dòng Cátminh. Babara đã dùng bốn năm sau hết để sống đời tu trì. Ba cô con gái của Babara cũng lần lượt trở thành nữ tu Cátminh. Tên mới của Babara khi làm nữ tu là sơ Maria Nhập Thể. Sơ Maria sung sướng phục vụ nhà bếp với những thau chậu và xoong chảo. Khi người con gái của ngài làm bề trên tu viện, chân phước Maria đã hết lòng vâng phục người con. Ngài thật khiêm nhường đến nỗi lúc sắp qua đời, ngài đã nói: “Xin Thiên Chúa tha thứ những gương xấu mẹ đã gây ra cho con!” Các nữ tu thật rất ngạc nhiên vì sơ Maria đã hết sức cố gắng sống một đời tốt lành. Chân phước Maria Nhập Thể qua đời năm 1618, thọ năm mươi hai tuổi.

Chân phước Maria Nhập Thể đã sống kết hợp mật thiết với Thiên Chúa dù cuộc sống của ngài thật bận rộn. Ngài có nhiều nhiệm vụ ràng buộc. Ngài trông nom chăm sóc gia đình. Ngài quan tâm giúp đỡ tha nhân. Ngài cũng có thể giúp chúng ta sống bao dung quảng đại với tinh thần trách nhiệm.

 

Ngày 19 tháng 4

Chân phước Giacôbê Đukê

Giacôbê Đukê là người gốc Anh, sống vào thời trị vì của nữ hoàng Êlisabeth I. Lúc còn trẻ, Giacôbê Đukê là một thợ in tập sự ở Luânđôn. Ở đây, Giacôbê Đukê tình cờ gặp thấy cuốn sách nhan đề: “Nền tảng vững chắc của đạo Công giáo.” Giacôbê Đukê đã nghiên cứu sách đó cách cẩn thận và tin nhận rằng Giáo hội Công giáo là Giáo hội chân thật. Trong những ngày ấy tại nước Anh, các Kitô hữu bị bách hại. Dù sao đi nữa, Giacôbê Đukê quyết định muốn trở nên một tín hữu và muốn giáp mặt với những hậu quả thảm khốc này. Vị giáo sĩ tại nhà thờ cũ đến tìm Giacôbê Đukê vì ngài là người năng đi tham dự thánh lễ. Nhưng Giacôbê Đukê không trở về nhà nữa. Hai lần ngài đã phải vào tù vì tội bướng bỉnh. Cả hai lần, người giúp việc đều xin cho Giacôbê Đukê và ngài được trả tự do. Nhưng người giúp việc khuyên Giacôbê Đukê rằng tốt nhất hãy nên kiếm việc làm ở một nơi khác.

Giacôbê Đukê biết mình sẽ không trở về nữa nên đã tìm gặp một linh mục Công giáo đang hoạt động âm thầm trong nhà tù Ghếthaus. Vị linh mục cao niên cải trang là “ông Wics” đã hướng dẫn ngài. Giacôbê Đukê được gia nhập Giáo hội Công giáo. Ngài kết hôn với một quả phụ cũng người Công giáo và đứa con trai của họ sau này đi tu dòng Brunô. Chính người con đã ghi lại cho chúng ta biết nhiều điều về thân phụ của anh.

Chân phước Giacôbê Đukê không bao giờ quên được cuốn sách đã khai mở cho ngài con đường đến với Giáo hội. Ngài xem việc chu cấp sách vở đạo cho những người láng giềng là trách nhiệm của ngài. Đukê biết rõ những sách này sẽ khuyến khích và hướng dẫn họ. “Nghề” này quá nguy hiểm đến nỗi Đukê đã bị bỏ tù mười hai năm trời, trong đó chín năm ngài không được liên lạc gì với đời sống gia đình của ngài. Sau cùng, Đukê bị đưa ra xét xử và bị kết án tử hình bởi lời chứng gian của một người đóng sách tên là Phêrô Bullock. Ông này làm chứng rằng ông đã đóng các sách cho chân phước Đukê là tên “tội phạm nghiêm trọng.” Bullock đã phản bội bởi ông bị vào tù vì những vấn đề bí ẩn không được kể lại và ông đang mong muốn được trả tự do.

Cả hai người đều bị kết án tử trong cùng một ngày. Trên đoạn đầu đài ở Tybơn, chân phước Giacôbê Đukê đã tha thứ cho Bullock. Đang lúc cả hai sắp trút hơi thở sau cùng, Giacôbê Đukê đã cố gắng khuyến khích Bullock chấp nhận đức tin Công giáo. Rồi, người ta buộc những sợi dây thừng vào cổ họ. Chân phước Giacôbê Đukê được phúc tử đạo năm 1602.

Nếu muốn được lôi kéo bởi sức mạnh của các thông tin như sách vở, các buổi trình chiếu tivi, các chương trình phát thanh, các hình ảnh trên băng từ, cátxét... chúng ta hãy cầu khẩn cùng chân phước Giacôbê Đukê. Chúng ta hãy nài xin ngài giúp chúng ta nhận ra ảnh hưởng mà các phương tiện truyền thông này tác động trên cuộc sống chúng ta.

 

 

Ngày 20 tháng 4

Thánh Annê Montêpulxianô

Vị thánh nữ này sinh gần thành phố Montêpulxianô, nước Ý, vào năm 1268. Khi vừa lên chín tuổi, Annê đã xin song thân cho phép được vào sống trong tu viện cạnh bên nhà ngài. Annê cảm thấy rất hạnh phúc bên các nữ tu. Họ sống đời trầm lặng và cầu nguyện. Họ cũng làm việc vất vả. Dù còn trẻ, thánh nữ Annê cũng hiểu được lý do tại sao các nữ tu đã cầu nguyện và sống thật ân cần tử tế như vậy. Lý do là vì họ chỉ muốn được sống kết hợp mật thiết với Đức Chúa Giêsu.

Năm tháng trôi qua! Thánh nữ Annê Montêpulxianô được nhận vào sống đời tập sinh. Thánh nữ có nhiều đức tính quý báu đến nỗi các chị em khác đều cảm thấy rất hài lòng khi có ngài hiện diện ở bên. Annê cầu nguyện với tất cả tâm hồn. Annê là tấm gương sáng cho các chị em noi theo. Cũng có một số chị em nữa đến xin gia nhập với họ. Annê và các chị em nữ tu thuộc về dòng nữ Thuyết Giáo, cũng gọi là dòng nữ Đa Minh. Sau cùng, Annê được chọn làm bề trên tu viện. Annê cố gắng sống quảng đại và công bằng với mỗi chị em. Annê tự nhắc nhở mình rằng hết thảy mọi việc đều phải làm vì tình yêu Chúa Giêsu. Annê tin rằng Đức Chúa Giêsu hằng điều khiển hướng dẫn tu viện; và Người hằng chăm sóc đến từng chị em.

Mẹ Annê thực hành nhiều việc khổ chế. Mẹ vẫn sống quảng đại và dịu dàng ngay cả những khi Mẹ cảm thấy không thích. Thiên Chúa đã trào đổ niềm vui sướng trên Annê và thỉnh thoảng ban cho ngài những ơn an ủi thiêng liêng. Một lần kia, Thiên Chúa đã để thánh nữ Annê bồng ẵm Chúa Giêsu Hài Nhi trong vòng tay của thánh nữ.

Annê Montêpulxianô là người hay đau ốm; nhưng thánh nữ vẫn nhẫn nại chịu đựng ngay cả khi bệnh tình trở nên rất trầm trọng. Annê chẳng hề tiếc xót hay phàn nàn chi về thân phận của mình. Thay vào đó, Annê hiến dâng mọi sự cho Thiên Chúa. Về cuối đời, các chị em nhận thấy sức khỏe Annê cũng chẳng mấy khá hơn. Họ rất buồn. “Nếu các chị yêu quý em, các chị hãy vui mừng,” Annê nói, “em sắp được tham dự vào vinh quang của Đức Chúa Giêsu!”

Thánh nữ Annê Montêpulxianô qua đời năm 1317, lúc được bốn mươi chín tuổi. Ngài được tôn phong lên bậc hiển thánh vào năm 1726. Ngôi mộ của Annê Montêpulxianô trở thành một nơi hành hương. Nhiều người đã đến cầu nguyện với vị thánh nữ này và xin ngài giúp đỡ. Trong số những khách hành hương có Catarina Siêna, vị thánh nổi tiếng mà chúng ta sẽ mừng kính vào ngày 29 tháng Tư.

Nơi thánh nữ Annê Montêpulxianô, chúng ta được học biết rằng Thiên Chúa có một ý định trong thánh trí của Người về mỗi chúng ta. Người ban tặng chúng ta những tài năng và những cơ hội để chúng ta cố gắng làm triển nở ơn gọi của đời mình. Chúng ta hãy năng xin Thiên Chúa giúp chúng ta chóng trở nên điều mà Người mong muốn.

 

Ngày 21 tháng 4

Thánh Anselmô

Thánh Anselmô được sinh tại miền bắc nước Ý vào năm 1033. Từ ngôi nhà của mình, Anselmô có thể xem thấy những dãy núi Alpơ. Khi lên mười lăm tuổi, Anselmô cố gắng hết sức để xin gia nhập tu viện ở Ý. Nhưng thân phụ của Anselmô ngăn cản việc đó. Thế rồi Anselmô ngã bệnh. Sau khi Anselmô được khỏi bệnh ít lâu thì thân mẫu qua đời. Anselmô vẫn còn rất trẻ, giàu có và thông minh. Chẳng mấy chốc, Anselmô đã quên đi việc muốn phục vụ Thiên Chúa. Anselmô chỉ lo nghĩ đến chuyện vui chơi và hưởng thụ.

Dù vậy, sau một thời gian, Anselmô bắt đầu cảm thấy chán ngán lối sống này. Anselmô mong muốn làm một điều gì đó hữu ích hơn, cao đẹp hơn. Anselmô đến nước Pháp viếng thăm đức đan viện phụ thánh thiện Lanphrăng của đan viện danh tiếng miền Béc. Anselmô trở nên người bạn rất thân của Lanphrăng và đức đan viện phụ đã đem Anselmô đến với Thiên Chúa. Ngài cũng giúp Anselmô cách thức trở nên một đan sĩ dòng Bênêđictô. Anselmô lúc ấy được hai mươi bảy tuổi.

Thánh Anselmô là người nhiệt tâm tốt bụng luôn yêu mến quý trọng các anh em đan sĩ. Cả những đan sĩ trước kia cảm thấy bực tức với Anselmô chẳng bao lâu cũng trở nên bạn hữu thân tín với ngài. Năm 1078, Anselmô được chọn làm đan viện phụ. Khi phải rời Béc để lĩnh chức tổng giám mục miền Cantơbơry bên nước Anh, Anselmô đã nói với các đan sĩ rằng họ vẫn luôn luôn sống mãi trong trái tim của ngài.

Dân Anh yêu mến và quý trọng Anselmô. Tuy thế, vua William II lại bách hại ngài. Thánh Anselmô phải chịu lưu đày biệt xứ vào những năm 1097 và 1103. Thậm chí William II còn ngăn cấm Anselmô không được đến Rôma xin ý kiến của đức thánh cha. Nhưng dẫu sao chăng nữa Anselmô cũng đã đi. Anselmô lưu lại với đức thánh cha cho tới khi nhà vua qua đời. Sau đó, Anselmô trở về giáo phận của ngài ở nước Anh.

Dù phải bận rộn với trăm công nghìn việc, thánh Anselmô vẫn luôn luôn kiếm giờ để viết nhiều sách triết học và thần học quan trọng. Thánh nhân cũng ghi lại nhiều lời huấn thị về Thiên Chúa rất có giá trị mà ngài đã chia sẻ cho các anh em đan sĩ. Họ rất sung sướng về việc này. Anselmô thường nói: “Bạn có muốn biết bí quyết để sống hạnh phúc trong đan viện không? Hãy lãng quên thế gian và hãy sung sướng để quên nó. Đan viện là một thiên đàng thực sự trên trái đất này đối với những ai chỉ sống cho một mình Đức Chúa Giêsu.” Thánh Anselmô qua đời ngày 21 thánh Tư năm 1109. Năm 1720, ngài được đức thánh cha Clêmentê XI tôn phong làm thầy dạy lỗi lạc của Giáo hội hay còn gọi là Tiến sĩ Hội Thánh.

Chẳng có gì là sai lầm hoặc không hợp với đạo đức khi hoan hưởng những niềm vui thanh cao và thiện hảo. Dù vậy, điều chúng ta phải ghi nhớ là tất cả mọi thứ vui thú trên thế gian này sẽ không làm cho chúng ta được hạnh phúc. Chúng ta chỉ được hạnh phúc thực sự khi chúng ta biết dùng thời giờ làm những việc hữu ích cho Thiên Chúa và tha nhân.

Ngày 22 tháng 4

Thánh Sôtơ và thánh Caiô

Thánh Sôtơ làm giáo hoàng trước thời đại vua chúa Rôma. Sôtơ đích thật là vị cha chung của mọi Kitô hữu. Thánh nhân giúp đỡ rất nhiều người nghèo khó. Ngài đặc biệt quan tâm tới những người bị kết tội đang phải làm việc trong những hầm mỏ nguy hiểm. Họ bị đày tới đó vì đã không chịu chối bỏ niềm tin vào Đức Chúa Giêsu. Những Kitô hữu can đảm này luôn luôn phải chịu đói khát. Họ chỉ được phép nghỉ ngơi chút ít mà thôi. Các tín hữu khác thì bị giam hãm trong chốn lao tù. “Giáo hoàng Sôtơ tốt lành” đã làm mọi cách có thể để khuyến khích và giúp đỡ họ.

Thánh Sôtơ cũng trợ giúp những Kitô hữu ở xa Rôma. Vị giáo hoàng thánh thiện này là một nhà giảng thuyết danh tiếng. Mọi Kitô hữu đều ưa thích lắng nghe ngài cắt nghĩa về đạo giáo của mình. Thánh nhân chia sẻ với tất cả tâm hồn. Sôtơ gợi hứng nơi họ lòng can đảm dám liều chết vì Đức Chúa Giêsu hơn là tế lễ cho các ngẫu thần. Chính thánh Sôtơ cũng đã dâng hiến cuộc sống mình cho Đức Chúa Giêsu vào năm 174, sau khi làm giáo hoàng được mười năm.

Thánh Caiô làm giáo hoàng khoảng một trăm năm sau thánh Sôtơ. Ngài cũng sống trong thời kỳ Giáo hội bị bách hại. Vị giáo hoàng này đã làm mọi sự có thể để giúp cho dân chúa giữ vững đức tin dù phải gặp bất cứ một hy sinh nào. Để tiện lợi cho việc giúp đỡ bổn đạo của mình hơn, thánh Caiô đã sống tám năm liền trong những hầm buồng nằm dưới mặt đất, gọi là những hang toại đạo. Đây là những nghĩa trang nơi các Kitô hữu thường họp mặt bí mật để cầu nguyện và lãnh nhận các bí tích. Đây là nơi ẩn náu của họ để trốn thoát khỏi những binh lính ngoại giáo độc ác. Các Kitô hữu biết rằng họ sẽ bị giết chết nếu họ bị bắt giữ.

Thánh Caiô làm giáo hoàng được mười hai năm. Rồi ngài cũng được phúc tử vì đạo. Thánh nhân đã qua đời năm 296.

Ngày nay, có những giáo dân ở nhiều nơi trên thế giới vẫn còn bị bách hại chỉ vì họ là những Kitô hữu mẫu mực. Chúng ta hãy dâng những lời cầu nguyện và hy sinh để nài xin Đức Chúa Giêsu an ủi và ban thêm cho họ lòng can đảm.

 

Ngày 23 tháng 4

Thánh Giogiơ

Những bức ảnh về thánh Giogiơ thường hay mô tả ngài đang giết chết một con mãng xà để cứu lấy một cô nương xinh đẹp. Con mãng xà ám chỉ tội lỗi xấu xa. Cô nương xinh đẹp tượng trưng cho chân lý thánh thiện của Thiên Chúa. Thánh Giogiơ đang giết chết con mãng xà bởi vì ngài đã chiến thắng trong trận chiến đấu chống lại sự dữ.

Chúng ta không được biết nhiều chi tiết về cuộc đời của thánh Giogiơ ngoài sự kiện ngài là vị thánh tử đạo. Giogiơ là một binh sĩ trong đội quân của Điôclêsiô, một quân vương ngoại giáo. Điôclêsiô là kẻ thù rất ác độc của các Kitô hữu. Thật sự, ông đã giết chết mọi Kitô hữu ông gặp thấy.

Người ta cho rằng thánh Giogiơ là một trong những binh sĩ được Điôclêsiô yêu mến. Khi trở thành Kitô hữu, Giogiơ đã tiến đến trước mặt vua và la rầy vua vì lối sống quá độc ác của ông. Rồi Giogiơ rời bỏ chức vụ trong quân đội Rôma. Thánh Giogiơ đã phải trả một giá rất cao cho lòng dũng cảm của mình. Giogiơ bị tra tấn cách dã man và sau đó bị xử trảm.

Tấm gương gan dạ và vui vẻ trong việc tuyên xưng đức tin của thánh Giogiơ đã làm cho mọi người cảm thấy được vững lòng can đảm khi nghe biết việc này. Người ta đã sáng tác nhiều nhạc phẩm và thơ ca dành cho vị thánh tử đạo này. Đặc biệt các binh sĩ đã luôn luôn sùng kính ngài. Năm 1222, Giogiơ được tôn nhận làm thánh quan thầy của nước Anh.

Thánh Giogiơ bị xử tử ở Lyda, Palestina vào khoảng năm 303.

Hết thảy chúng ta đều có một vài “con mãng xà” mà chúng ta cần phải đánh bại. Có thể là tính ích kỷ hay nóng giận. Có thể là sự lười biếng hoặc tham lam, hoặc một thói xấu nào đó. Chúng ta hãy nài xin thánh Giogiơ giúp chúng ta chiến đấu chống lại những “con mãng xà” này. Thánh nhân sẽ trợ giúp nếu chúng ta cầu xin ngài.

 

Ngày 24 tháng 4

Thánh Phiđelis Simarigen

Tên của vị thánh này là Mác Rây. Ngài được sinh tại Đức vào năm 1578. Mác theo học tại trường đại học danh tiếng của thành phố Phrêbơ để trở thành luật sư. Ngay lúc còn là một sinh viên, Mác đã thích thăm viếng những người đau ốm và nghèo khổ. Ngài dùng thời giờ để cầu nguyện mỗi ngày. Người anh trai của Mác thì chọn làm một linh mục dòng Phanxicô Capuxinô. Còn Mác, sau khi tốt nghiệp đại học, đã trở thành một luật sư danh tiếng.

Mác hay đảm trách các vụ biện hộ cho những người nghèo không có tiền để trả. Vì rất giàu lòng quảng đại nên Mác thường bị những quan tòa bất lương ghét bỏ. Sau đó, Mác quyết định noi theo lối bước người anh của ngài và Mác đã trở thành linh mục. Mác nhận áo dòng và lấy tên là Phiđelis, nghĩa là “trung thành.”

Cha Phiđelis rất hân hoan vui mừng khi được chỉ định tới Thụy Sĩ để rao giảng Tin mừng. Lúc ấy, ở Thụy Sĩ có rất nhiều kẻ thù của đạo Công giáo. Cha Phiđelis muốn thuyết phục những người này trở về với Giáo hội. Lời giảng dạy của cha Phiđelis đã mang lại những thành quả phi thường. Nhiều người được ơn trở lại; còn các kẻ thù của Giáo hội thì rất tức giận trước thành công của ngài.

Thánh Phiđelis Simarigen thừa nhận rằng cuộc sống của ngài thật nguy hiểm nhưng thánh nhân vẫn cứ tiếp tục rao giảng. Một ngày kia, đang lúc giảng tới phần giữa của bài giảng, người ta đã bắn một phát súng vào Phiđelis nhưng viên đạn đã bay trượt đi. Cha Phiđelis biết rằng mình phải lập tức rời bỏ thị trấn; và ngài đã lên đường. Nhưng đang khi đi dọc theo lộ trình đến thị trấn bên cạnh thì một nhóm người hung ác giận dữ đã xông ra cản đường cha Phiđelis. Họ ra lệnh cho cha phải bỏ đạo Công giáo. Nhưng thánh Phiđelis Simarigen thẳng thắn trả lời họ rằng: “Tôi sẽ không chối bỏ đạo Công giáo!” Họ liền bất ngờ xông vào đánh cha Phiđelis Simarigen bằng những chiếc dùi cui và những dụng cụ thô bạo của họ.

Vị linh mục mình đầy thương tích cố gắng chỗi dậy, quỳ gối và nguyện rằng: “Lạy Chúa Giêsu, xin thương xót con! Lạy Thánh Nữ Maria là Mẹ con, xin hãy giúp con!” Bọn họ lại đánh thánh nhân cho tới khi biết chắc là ngài đã chết.

Cha Phiđelis Simarigen đã tử vì đạo năm 1622, lúc được bốn mươi bốn tuổi. Năm 1746, đức thánh cha Bênêđictô XIV đã tôn phong cha Phiđelis Simarigen lên bậc hiển thánh.

Thật là một vinh dự lớn lao khi có thể giúp đỡ người ta trở về với Đức Chúa Giêsu và với Giáo hội của Người. Chúng ta hãy cố gắng trở nên những môn đệ đích thực, được thể hiện qua lời cầu nguyện, gương sáng và những lời nói tốt.

 

 

Ngày 25 tháng 4

Thánh ký Marcô

Thánh ký Marcô sống cùng thời với Đức Chúa Giêsu. Mặc dù không ở trong số mười hai tông đồ nhưng thánh Marcô có quan hệ bà con với thánh Barnaba tông đồ. Marcô nổi tiếng vì ngài đã viết một trong bốn sách Tin mừng. Đó là lý do Marcô được gọi là thánh ký, hay còn gọi là tác giả sách Tin mừng. Phúc âm của thánh Marcô tuy ngắn gọn nhưng cung cấp nhiều chi tiết nhỏ mà chúng ta không thấy có trong các sách Phúc âm khác.

Lúc còn trẻ, Marcô cùng với hai vị đại thánh Phaolô và Barnaba đi rao giảng Tin mừng của Đức Chúa Giêsu nơi những miền đất lạ. Dù thế, trước khi cuộc hành trình kết thúc, Marcô dường như đã không hài lòng với thánh Phaolô. Marcô đột nhiên trở về Giêrusalem. Sau này Phaolô và Marcô đã giải quyết với nhau những mối bất hòa của họ. Thật sự là Phaolô, khi bị giam tù ở Rôma, đã viết thư xin Marcô đến an ủi và giúp đỡ ngài.

Thánh Marcô cũng là người môn đệ rất yêu dấu của thánh Phêrô, vị giáo hoàng tiên khởi. Thánh Phêrô gọi thánh Marcô là “con.” Một số người cho rằng thánh Phêrô có ý nói là ngài đã rửa tội cho Marcô. Marcô được truyền chức giám mục và được sai đến Alêxanđria, nước Ai Cập. Ở đó, Marcô đã làm cho nhiều người trở lại đạo Công giáo. Ngài đã hoạt động tích cực nhằm rao giảng cho người ta nhận biết tình yêu của Đức Chúa Giêsu và Giáo hội của Người. Họ cũng cho rằng trước khi qua đời, thánh Marcô đã chịu rất nhiều đau khổ.

Di hài của thánh ký Marcô được mang tới Vêni, nước Ý. Thánh nhân là vị thánh quan thầy của thành phố danh tiếng này. Giáo dân thường tuôn đến vương cung thánh đường xinh đẹp kính thánh Marcô để tôn kính và cầu nguyện với ngài.

Khi bất đồng ý kiến với một ai đó, chúng ta có thể tưởng nhớ đến thánh ký Marcô. Chúng ta cũng hãy nghĩ về ngài khi chúng ta không thể sống hòa hợp được với hết mọi người dù chúng ta rất muốn. Những lúc khó khăn như thế, chúng ta hãy nài xin thánh ký Marcô chỉ cho chúng ta bí quyết của ngài để dàn xếp những mối bất hòa.

 

Ngày 26 tháng 4

Thánh Rabêtô

Vị thánh này sống ở nước Pháp vào thế kỷ thứ chín. Chẳng ai biết được song thân của Rabêtô là ai. Họ đã đặt con trẻ mới sinh trên ngưỡng cửa của tu viện Nốtđam. Các nữ tu ở đây đã yêu mến và chăm sóc con trẻ. Họ đặt tên cho con trẻ là Rabêtô. Khi đủ tuổi đến trường, Rabêtô được gởi đến học với các tu sĩ dòng thánh Phêrô ở một miền gần đó.

Cậu bé Rabêtô yêu thích việc học hành, đặc biệt là ngài quý chuộng các tác phẩm Latinh cổ. Khi lớn lên, thánh Rabêtô sống cuộc đời âm thầm. Ngài vẫn sống đời giáo dân suốt nhiều năm. Sau đó, Rabêtô cảm thấy có ơn kêu gọi làm đan sĩ. Và Rabêtô đã gia nhập một cộng đoàn có hai đan viện phụ rất nhiệt thành là thánh Ađalha và người em kế vị ngài là viện phụ Wala. Rabêtô cố gắng trở nên một đan sĩ thánh thiện. Ngài thường đi theo hộ tống cho hai đan viện phụ trong các chuyến kinh lý của họ. Thánh nhân cũng đã viết tiểu sử của các vị sau khi các vị qua đời.

Sau đó, Rabêtô trở thành học giả Kinh Thánh. Ngài đã viết một bài bình luận dài dựa trên Tin mừng của thánh ký Mátthêu. Rabêtô cũng chú giải những đoạn Kinh Thánh khác. Nhưng tác phẩm danh tiếng nhất của Rabêtô là cuốn “Châu Thân và Bửu Huyết Chúa Kitô.”

Thánh Rabêtô không cảm thấy mình có ơn kêu gọi làm linh mục. Nhưng người ta đã thuyết phục Rabêtô nhận chức viện phụ suốt một nhiệm kỳ dài bảy năm. Rồi thánh nhân nhất định năn nỉ xin được trở về với đời sống cầu nguyện, suy gẫm, nghiên cứu và viết lách. Thời kỳ làm đan phụ đối với Rabêtô thật rất khó khăn vất vả dù ngài đã cố gắng hết sức mình. Sau đó, Rabêtô dùng phần còn lại của đời mình để cầu nguyện, soạn thảo văn bản và làm những công việc bề trên chỉ định.

Thánh Rabêtô về trời năm 860. 

Thánh Rabêtô nhắc nhớ chúng ta về sự bất khả xâm phạm của mỗi đời sống con người. Tuy là một đứa trẻ bị bỏ rơi, nhưng hãy nhìn vào những ân sủng phi thường Thiên Chúa đã ban cho ngài! Chúng ta hãy nài xin thánh Rabêtô gợi hứng cho những nhà lập pháp biết đưa ra những khoản luật khôn ngoan nhằm bảo vệ đời sống con người trong mọi giai đoạn của nó.

 

Ngày 27 tháng 4

Thánh Zita

Thánh nữ Zita được mọi người biết đến với chức vị là quan thầy của những người giúp việc nhà cửa. Thánh nữ được sinh ra trong một ngôi làng thuộc miền Montê Sagrati, nước Ý, vào năm 1218. Song thân của Zita rất có lòng đạo đức và đã nuôi dạy Zita theo tinh thần bác ái Kitô giáo. Thói quen của những đôi vợ chồng nghèo là gởi những bé gái của họ đang trong độ tuổi niên thiếu vào những gia đình đáng tín nhiệm để chúng học biết cách thức trở nên những đầy tớ giúp việc. Các cô sẽ sống với các gia đình độ một thời gian và được thuê mướn làm những công việc nội trợ. Khi lên mười hai tuổi, Zita được gởi đến gia đình Phatinelli ở thành phố Lucca. Ông bà Phatinelli là những người quảng đại tốt bụng và có nhiều người làm thuê. Zita rất lấy làm sung sướng vì có thể làm việc và gởi tiền về cho cha mẹ của ngài. Zita cố gắng sống tinh thần trách nhiệm. Zita tạo cho mình thói quen cầu nguyện phù hợp với chương trình riêng của ngài. Hằng ngày, Zita dậy rất sớm để tham dự thánh lễ.

Zita chăm chỉ làm việc. Ngài cảm thấy đó là nhiệm vụ của ngài. Nhưng những người giúp việc khác thì lại bực dọc khó chịu. Họ chỉ cố làm chút việc để khỏi bị trừng phạt. Họ bắt đầu chửi mắng Zita và phản đối ngài mà chẳng chịu để ý gì đến công việc của họ. Zita cảm thấy bị tổn thương nhưng ngài đã cầu nguyện xin ơn nhẫn nại. Zita không bao giờ tố cáo họ. Dù họ có nghĩ thế nào thì Zita vẫn cứ tiếp tục làm phần việc của ngài cách hết sức tử tế.

Khi một trong các anh chàng giúp việc tìm cách hôn Zita, Zita đã kháng cự và đẩy anh ta ra. Anh đã rời khỏi căn phòng với nhiều vết trầy xước trên mặt. Ông Phatinelli cho gọi riêng Zita và hỏi về chuyện đã xảy ra. Zita đã thuật lại sự việc cách trung thực. Sau đó, Zita được bổ nhiệm làm bà quản gia. Con cái của gia đình Phatinelli được đặt dưới sự trông nom chăm sóc của Zita. Nhất là những người giúp việc khác đã thôi hành hạ Zita. Thậm chí có một vài người đã bắt đầu để ý và bắt chước Zita.

Thánh nữ Zita trải qua cả cuộc đời sống với gia đình Phatinelli. Ngài vẫn lưu lại trong khi các người khác đến rồi lại đi. Zita thích phục vụ họ. Zita yêu mến họ như ngài yêu mến gia đình của ngài. Bằng gương sáng, Zita giúp mọi người nhận biết rằng công việc sẽ thật thú vị khi được làm với tấm lòng yêu mến Đức Chúa Giêsu. Zita qua đời cách an bình vào ngày 27 tháng Tư năm 1278, hưởng thọ sáu mươi tuổi.

Thánh nữ Zita là bài học tuyệt vời cho mỗi người chúng ta. Thánh nữ nhắc nhớ chúng ta rằng công việc chúng ta làm biểu hiện phần nào con người thực của chúng ta. Việc học hành và lao động của chúng ta đòi hỏi nhiều quyết tâm và nỗ lực. Tuy có chút phiền toái nhưng Thiên Chúa sẽ ân thưởng cho sự cố gắng của chúng ta trên thiên đàng.

Ngày 28 tháng 4

Thánh Phêrô Sanel

Thánh Phêrô Sanel sinh gần vùng Belley, nước Pháp vào năm 1803. Từ khi lên bảy, Phêrô Sanel đã phải đi chăn chiên giúp thân phụ ngài. Tuy nghèo khó nhưng Phêrô rất thông minh và rất yêu mến đạo giáo. Ngày kia, cha xứ tốt lành đến gặp Phêrô. Cha suy nghĩ nhiều về Phêrô rồi cha hỏi song thân của Phêrô xem liệu cha có thể nhận giáo dục đứa trẻ không. Phêrô đã chăm chỉ học hành tại trường tiểu học và sau đó tại chủng viện của vị linh mục này. Khi thụ phong linh mục, cha Phêrô Sanel được sai đến một giáo xứ chỉ có rất ít người Công giáo còn giữ đạo. Cha Sanel cầu nguyện. Cha có tấm lòng hiền lành và quảng đại đối với hết mọi người. Tuy chỉ mới ba năm, nhưng đã có sự cải tiến rất đáng kể. Nhiều người lại tận tình yêu mến Đức Chúa Giêsu và Giáo hội.

Thánh Phêrô Sanel có một ước muốn truyền giáo rất mãnh liệt. Ngài gia nhập một hội dòng gọi là dòng Truyền Giáo Đức Bà. Thánh nhân hy vọng sẽ được sai đi đem Tin mừng cho những người chưa tin nhận Thiên Chúa. Sau vài năm, ước mơ trở thành hiện thực. Phêrô Sanel và một nhóm các vị thừa sai thuộc dòng Truyền Giáo Đức Bà đã được gởi đến những hòn đảo thuộc vùng Nam Thái Bình Dương. Cha Sanel và một thầy dòng được chỉ định tới đảo Futuna. Ở đó, dân chúng rất sẵn lòng lắng nghe cha Sanel giảng dạy. “Vị linh mục này yêu mến chúng tôi,” một trong những người dân đã nói, “và chính ngài đã thực hành trước những điều ngài dạy chúng tôi làm!”

Không may thay, thủ lĩnh của bộ tộc này lại ghen tức với sự thành công của cha Sanel. Ông rất giận dữ căm hờn khi thấy người con trai của ông chịu phép Thanh tẩy. Ông đã sai một đội quân tinh nhuệ của ông đến giết vị thừa sai. “Đây thật là điều tốt cho tôi!” Đó là tất cả những gì cha Phêrô Sanel đã nói trước khi thở hơi cuối cùng. Thánh Phêrô Sanel bị giết ngày 28 tháng Tư năm 1841. Chỉ trong khoảng một thời gian ngắn sau cuộc tử đạo của cha Sanel, hết thảy mọi người trên đảo đã trở thành Kitô hữu. Năm 1954, đức thánh cha Piô XII đã tôn phong Phêrô Sanel lên bậc hiển thánh.

Tính ghen tị xui khiến người ta làm nhiều điều xấu. Nếu gặp thấy tha nhân làm việc tốt, chúng ta hãy tạ ơn Thiên Chúa. Chúng ta cũng hãy cố gắng bắt chước gương sáng của họ.

 

Ngày 29 tháng 4

Thánh Catarina Siêna

Vị thánh danh tiếng này, được sinh vào năm 1347, là nữ thánh bổn mạng của nước Ý, quê hương ngài. Catarina Siêna là cô gái út trong gia đình có hai mươi lăm người con. Song thân của Catarina mong muốn ngài có một cuộc hôn nhân hạnh phúc. Tuy nhiên, Catarina Siêna chỉ ao ước đi tu. Để chứng tỏ ý định của mình, thánh nữ đã cắt đi bộ tóc dài xinh đẹp. Catarina Siêna không muốn sắc đẹp của mình hấp dẫn ai! Song thân Catarina rất tức giận và thường xuyên la mắng ngài. Họ cũng trao cho Catarina những công việc nặng nhọc nhất. Nhưng Catarina Siêna quyết tâm không từ bỏ ý muốn. Sau cùng, song thân Catarina đành phải nhượng bộ và thôi ngăn cản ngài.

Thánh nữ Catarina Siêna sống rất đơn thành với Đức Chúa Giêsu. Có lần thánh nữ hỏi Chúa: “Lạy Chúa, Chúa ở đâu khi con chịu những cám dỗ hãi hùng như thế?” Và Đức Chúa Giêsu trả lời: “Con của Cha, Cha ở trong trái tim con đó! Cha giúp con chiến thắng nhờ ân sủng của Cha!” Vào một buổi tối nọ, khi nhiều người dân thành Siêna đổ tràn ra các ngả đường để đón mừng lễ kỷ niệm, Đức Chúa Giêsu đã hiện ra với Catarina lúc thánh nữ đang cầu nguyện một mình trong phòng. Cũng có Đức Maria ở với Đức Chúa Giêsu. Mẹ nắm lấy tay Catarina Siêna và đưa lên cho Con của Mẹ. Đức Chúa Giêsu xỏ một chiếc nhẫn vào ngón tay thánh nữ và ngài trở nên “hiền thê” của Đức Chúa Giêsu.

Vào thời đại của thánh nữ Catarina Siêna, Giáo hội gặp rất nhiều vấn đề khó khăn. Những cuộc đấu tranh xung đột diễn ra trên khắp nước Ý. Catarina Siêna viết nhiều thư gởi cho các vua chúa và các bà hoàng. Thậm chí thánh nữ đã đến xin được các nhà cầm quyền hãy dàn xếp hòa bình với đức thánh cha và hủy bỏ chiến tranh. Catarina Siêna xin đức thánh cha rời bỏ thành Avignhông bên nước Pháp để trở về Rôma cai quản Giáo hội. Thánh nữ nói với đức thánh cha rằng đó là ý muốn của Thiên Chúa. Đức thánh cha đã nghe theo Catarina Siêna và thực hiện điều thánh nữ nói.

Chẳng bao giờ Catarina Siêna quên lãng hình ảnh Đức Chúa Giêsu đang hiện diện trong trái tim mình. Qua Catarina, Đức Chúa Giêsu giúp đỡ những người đau yếu mà thánh nữ đang chăm sóc. Qua Catarina, Đức Chúa Giêsu yên ủi những tù nhân mà thánh nữ viếng thăm trong các lao tù.

Vị thánh nữ vĩ đại này mất tại Rôma vào năm 1380, khi chỉ mới được ba mươi ba tuổi. Năm 1461, đức thánh cha Piô II tôn Catarina Siêna lên bậc hiển thánh. Đến năm 1970, đức thánh cha Phaolô VI tôn phong thánh nữ Catarina Siêna làm Tiến sĩ Hội Thánh. Thánh Catarina Siêna nhận được tước hiệu đặc biệt này vì thánh nữ đã phục vụ Giáo hội của Đức Chúa Giêsu cách anh dũng trong cuộc đời ngắn ngủi của ngài.

Chúng ta hãy dâng hiến trọn vẹn con tim của mình cho Thiên Chúa. Rồi, như thánh nữ Catarina Siêna, chúng ta sẽ khám phá ra rằng: yêu mến Thiên Chúa thật thú vị biết bao!

 

Ngày 30 tháng 4

Thánh Piô V

Vị giáo hoàng thánh thiện này được sinh tại nước Ý vào năm 1504. Ngài được đặt tên là Antôn Ghisliêri. Ngài muốn làm linh mục nhưng dường như niềm mơ ước ấy không bao giờ biến thành hiện thực. Song thân của Antôn rất nghèo. Họ chẳng có đủ tiền cho Antôn ăn học. Rồi vào một ngày kia, có hai tu sĩ dòng Đa Minh đến thăm gia đình Antôn và gặp thấy Antôn. Họ quý mến Antôn đến nỗi đã nhận chu cấp cho ngài ăn học. Và vì vậy, năm lên mười bốn tuổi, Antôn gia nhập dòng thánh Đa Minh. Lúc ấy, Antôn lấy tên là “Micael.” Sau cùng, thầy Micael làm linh mục, rồi giám mục và hồng y.

 Hồng y Micael đã can đảm chống lại các người phản đối những giáo huấn của Giáo hội. Ngài sống đời hãm mình đền tội. Ngài được chọn lên ngôi giáo hoàng lúc sáu mươi mốt tuổi; và đã lấy hiệu là Piô V. Xưa kia, thánh nhân đã từng là một cậu bé chăn chiên nghèo khó; và giờ đây, tuy là thủ lãnh của toàn thể Giáo hội Công giáo, nhưng thánh Piô V vẫn ở khiêm tốn như ngày xưa. Ngài vẫn mặc bộ áo dòng trắng Đa Minh, vẫn bộ áo cũ kỹ mà ngài đã mang ngày trước. Và chẳng ai có thể thuyết phục được thánh nhân thay đổi hết!

Với cương vị là giáo hoàng, thánh Piô V phải đương đầu với nhiều khó khăn. Ngài kín múc nghị lực nơi Ảnh Chúa Chịu Nạn. Hằng ngày, thánh Piô V suy gẫm về những nỗi thống khổ và cuộc tử nạn của Đức Chúa Giêsu. Vào lúc này, những người Thổ đang cố chinh phục toàn thể thế giới Công giáo. Họ có một hạm đội lớn gồm các sĩ quan và binh lính đang đóng quân ở Địa Trung Hải. Một đội quân Công giáo đã chiến đấu với họ tại nơi gọi là Lêpant, gần Hy Lạp. Từ lúc đội quân lên đường ra trận, đức thánh cha đã cầu nguyện bằng kinh Mân Côi. Ngài khuyến khích mọi tín hữu cùng đọc kinh với ngài. Cảm tạ Đức Mẹ đã thương giúp, các Kitô hữu đã khải thắng. Để tỏ lòng biết ơn Đức Mẹ, thánh Piô V đã thiết lập lễ Đức Mẹ Mân Côi. Chúng ta mừng lễ này hằng năm vào ngày mùng 7 tháng Mười.

Đức thánh cha Piô V qua đời vào ngày mùng 1 tháng Năm năm 1572 tại Rôma. Ngày lễ của thánh nhân được mừng kính hôm nay vì mùng 1 tháng Năm là ngày lễ kính thánh Giuse lao động. Năm 1712, đức thánh cha Clêmentê XI đã tôn giáo hoàng Piô V lên bậc hiển thánh. 

Bằng đời sống của mình, đức thánh cha Piô V nhắc nhớ chúng ta rằng Thiên Chúa chọn gọi chúng ta vì những lý do riêng tư của Người. Điều chúng ta phải làm là hãy giữ mối liên lạc thân tình giữa chúng ta với Thiên Chúa. Chúng ta thực hiện việc này qua kinh nguyện hằng ngày, qua việc lãnh nhận các bí tích Thánh Thể và Hòa giải. Chúng ta thực hiện việc này bằng cách xem và theo dõi những phương tiện thông tin lành mạnh. Chúng ta cũng thực hiện việc này bằng cách đi đây đó và chọn chơi với những bạn bè đứng đắn lịch thiệp.

 

 

Tháng 05

Các Thánh Dành Cho Bạn Trẻ

 

Ngày 01: Thánh Giuse lao động

Ngày 02: Thánh Athanasiô

Ngày 03: Thánh Philipphê và thánh Giacôbê

Ngày 04: Chân phước Maria Lêôni Parađi

Ngày 05: Thánh Giuđitha Prusia

Ngày 06: Chân phước Phanxicô Mônmôrency Laval

Ngày 07: Chân phước Rôsa Vênêrini

Ngày 08: Chân phước Catarina dòng thánh Augustinô

Ngày 09: Chân phước Nicôla Albergarti

Ngày 10: Thánh Antôniô

Ngày 11: Thánh Inhaxiô Lacôni

Ngày 12: Thánh Nêrô, Akilêô và Pancrasiô

Ngày 13: Thánh Anrê Phơnê

Ngày 14: Thánh Mátthia

Ngày 15: Thánh Isiđôrô nông gia

Ngày 16: Thánh Ubal

Ngày 17: Thánh Pascal Baylon

Ngày 18: Thánh Gioan I

Ngày 19: Thánh Celestinô V

Ngày 20: Thánh Bênađinô Siêna

Ngày 21: Chân phước Êugiêniô Magiênô

Ngày 22: Thánh Rita Cassia

Ngày 23: Thánh Gioan Baotixita Rôsi

Ngày 24: Thánh Đavít I Scốtlen

Ngày 25: Thánh Bêđa khả kính, thánh Grêgôriô VII và thánh Maria Mađalêna Pazzi

Ngày 26: Thánh Philipphê Nêri

Ngày 27: Thánh Augustinô Cantơbơri

Ngày 28: Thánh Chân phước Magarita Pôlê

Ngày 29: Thánh Maximiniô

Ngày 30: Thánh Giăngđắc

Ngày 31: Lễ thăm viếng của Đức Maria

 

 

Ngày 1 tháng 5

Thánh Giuse lao động

Đây là ngày lễ thứ hai của thánh Giuse trong lịch mừng lễ của Giáo hội. Chúng ta đã mừng lễ kính thánh nhân hôm 19 tháng Ba. Giuse là vị thánh rất quan trọng. Ngài là phu quân của Đức Trinh Nữ Maria Mẹ chúng ta và là cha đồng trinh của Đức Chúa Giêsu.

Hôm nay, chúng ta ca ngợi tấm gương chứng nhân về sự lao động chăm chỉ của thánh Giuse. Ngài là một bác phó mộc đã làm việc cần mẫn trong xưởng mộc nhỏ bé. Thánh Giuse dạy chúng ta rằng công việc chúng ta đang làm là rất quan trọng. Bởi qua việc đó, chúng ta góp phần vào việc phục vụ xã hội loài người. Hơn thế nữa, là những Kitô hữu, chúng ta nhận ra việc làm của mình như tấm gương phản chiếu chính bản thân chúng ta. Đó là lý do tại sao chúng ta cần phải siêng năng chuyên cần làm việc.

Hằng năm, nhiều quốc gia dành ra một ngày để tỏ lòng biết ơn những người lao động. Điều này nói lên ý nghĩa và chân giá trị của việc lao công. Giáo hội ban cho chúng ta một mẫu gương lao công tuyệt hảo là thánh Giuse. Năm 1955, đức thánh cha Piô XII đã công bố ngày lễ thánh Giuse lao động phải được cử hành hằng năm.

Chúng ta hãy nài xin thánh Giuse lao động giúp chúng ta siêng năng chịu khó hơn trong công việc bổn phận của mình.

 

Ngày 2 tháng 5

Thánh Athanasiô

Thánh Athanasiô sinh vào khoảng năm 297 tại Alêxanđria, nước Ai Cập. Thánh nhân đã trung thành tận hiến đời mình để minh chứng Đức Chúa Giêsu là Thiên Chúa chân thật. Điều này quan trọng bởi vì một số người theo bè rối Ariô đã chối bỏ chân lý trên. Ngay trước khi làm linh mục, thánh Athanasiô đã đọc nhiều sách dạy về đức tin. Đó là lý do tại sao thánh nhân có thể dễ dàng vạch ra những giáo huấn sai lầm của bè rối Ariô.

Thánh Athanasiô làm tổng giám mục thành Alêxanđria khi chưa đầy ba mươi tuổi. Suốt bốn mươi sáu năm, Athanasiô là một mục tử hết sức anh dũng. Cả bốn vị hoàng đế Rôma đã không thể nào bắt ép Athanasiô thôi việc viết những bài giải thích rất hay và rất rõ ràng về đức tin thánh thiện của Kitô giáo. Các kẻ thù của Athanasiô thì tìm mọi cách để khủng bố ngài.

Trong cuộc đời, thánh Athanasiô bị đuổi ra khỏi giáo phận của ngài tất cả năm lần. Lần lưu đày đầu tiên kéo dài hai năm. Năm 336, Athanasiô bị đưa đến thành phố Triơ. Vị giám mục quảng đại tốt lành là thánh Maximiniô đã tiếp đón Athanasiô cách rất nồng hậu. Lễ kính thánh Maximiniô được mừng vào ngày 29 tháng Năm. Những lần lưu đày khác kéo dài lâu hơn. Thánh Athanasiô bị những kẻ thù ngài săn đuổi. Trong một kỳ lưu đày, các đan sĩ đã trông giữ Athanasiô cách an toàn trong sa mạc suốt bảy năm. Do đó, các kẻ thù của thánh Athanasiô đã không thể nào tìm được ngài.

Một lần kia, các binh lính của hoàng đế rượt đuổi Athanasiô trên bờ sông Nil. “Họ đang đuổi bắt chúng ta!” các bạn hữu của thánh nhân thét lên. Nhưng Athanasiô chẳng lo lắng gì cả. “Hãy quay thuyền vòng lại,” ngài nói cách bình thản, “và hãy chèo về phía họ!” Các binh lính ở trong thuyền kia la lên: “Các anh có thấy Athanasiô đâu không?” Đằng sau có tiếng trả lời: “Chúng ta chẳng còn cách xa ông ấy bao nhiêu!” Rồi chiếc thuyền của kẻ thù cố sức phóng nhanh hơn vận tốc bình thường; và thế là thánh Athanasiô đã an toàn thoát nạn!

Dân thành Alêxanđria rất yêu mến đức tổng giám mục tốt lành này. Ngài thực là một người cha của họ. Với những năm tháng trôi qua, họ hiểu rõ được những đau khổ mà thánh Athanasiô đã phải chịu vì Đức Chúa Giêsu và Giáo hội thật nhiều chừng nào. Chính giáo dân, những người đã cùng làm việc với thánh nhân, làm chứng rằng Athanasiô đã góp phần rất lớn vào việc kiến tạo hòa bình. Ngài đã sống bảy năm sau cùng với họ trong niềm vui thư thái. Các kẻ thù của Athanasiô đã lùng bắt ngài nhưng không thể nào tìm được ngài. Suốt thời gian ấy, thánh Athanasiô viết truyện “Cuộc đời thánh Antôn ẩn tu.” Thánh Antôn là người bạn chí thân của Athanasiô lúc Athanasiô còn trẻ. Lễ kính thánh Antôn được cử hành ngày 17 tháng Giêng.

Thánh Athanasiô qua đời trong an bình vào ngày mùng 2 tháng Năm năm 373. Ngài vẫn là một trong những vị thánh can đảm đặc biệt nhất qua mọi thời đại.

Vị thánh này thách đố chúng ta hãy khát khao học hỏi và nghiên cứu về đức tin của mình. Chúng ta hãy nài xin thánh Athanasiô ban cho chúng ta được lòng hăng say và yêu mến Đức Chúa Giêsu như ngài.

 

Ngày 3 tháng 5

Thánh Philipphê và thánh Giacôbê

Cả hai vị thánh này đều là thành viên trong nhóm Mười Hai tông đồ của Đức Chúa Giêsu. Philipphê là một trong số những môn đệ được chọn đầu tiên. Ngài sinh tại Bétsaiđa, miền Galilêa. Đức Chúa Giêsu gặp ngài và bảo “hãy theo Ta!” Philipphê cảm thấy rất hạnh phúc và sung sướng được ở với Đức Chúa Giêsu và ngài muốn san sẻ niềm vui sướng ấy với người bạn Nathanael của ngài. “Chúng tôi đã gặp thấy Người mà Môisê và các tiên tri đã viết,” Philipphê giải thích, “Người chính là Giêsu Nazareth!”

Xem ra Nathanael chẳng hồi hộp và bỡ ngỡ chút nào! Nazareth chỉ là một làng quê nhỏ bé. Nó không rộng lớn và quan trọng như Giêrusalem. Vì thế, Nathanael nói: “Nào có cái gì tốt lành xuất từ Nazareth đâu?” Nhưng Philipphê không tức giận trước câu trả lời của bạn mình. Ngài chỉ nói: “Hãy đến mà xem!” Và Nathanael đến gặp Đức Chúa Giêsu. Sau khi trò chuyện với Chúa, Nathanael cũng trở nên môn đồ nhiệt tâm của Đức Chúa Giêsu.

Thánh Giacôbê là con của ông Alphê. Ngài cũng được Đức Chúa Giêsu tuyển chọn làm một trong số mười hai tông đồ. Với tước vị là tông đồ, thánh Giacôbê được sai đi loan truyền Tin mừng và làm chứng cho Chúa Kitô Phục Sinh. Cùng với các tông đồ khác, thánh Giacôbê đã góp sức xây dựng nền móng Giáo hội. Người ta rất coi trọng Giacôbê đến nỗi họ gọi ngài là “Giacôbê công chính,” nghĩa là “Giacôbê thánh thiện.” Họ cũng gọi ngài là “Giacôbê hậu” vì ngài nhỏ tuổi hơn một tông đồ khác cũng mang tên Giacôbê. Người ta gọi Giacôbê kia là “Giacôbê tiền” bởi vì ngài lớn tuổi hơn.

Hết thảy chúng ta đều có thể trở thành những tông đồ của Đức Chúa Giêsu bằng những cách thế riêng mình. Chúng ta có thể chia sẻ Tin mừng qua niềm tin vào Đức Chúa Giêsu trong đời sống chúng ta. Đó là cách thức để bắt chước hai thánh tông đồ Philipphê và Giacôbê.

 

 

Ngày 4 tháng 5

Chân phước Maria Lêôni Parađi

Êlôđiê Parađi được sinh ra trong ngôi làng Acađiê ở Quêbéc, nước Canađa. Đó là ngày 12 tháng Năm năm 1840. Song thân Êlôđiê tuy nghèo khó nhưng là những tín hữu rất có lòng sùng đạo. Họ yêu mến cô gái nhỏ của họ. Khi Êlôđiê lên chín, cha mẹ Êlôđiê quyết định gởi ngài vào một trường nội trú. Họ muốn cho Êlôđiê có được một nền học vấn xuất sắc. Các nữ tu dòng Đức Mẹ đã tiếp nhận em học sinh mới này với tấm lòng thiện cảm. Tuy vậy, cả Êlôđiê lẫn gia đình rất thương nhớ nhau.

Ông Parađi phải vất vả trông coi và điều khiển nhà máy xay bắp. Nhưng thật là tệ vì lợi tức của cả nhà máy cũng chẳng đủ để nuôi vợ nuôi con. Ông Parađi nghe biết những bài tường thuật kỳ lạ thật bùi tai về “cơn sốt vàng” ở California. Và ông đã liều mình quyết đi tới đó. Nhưng ở California, ông Parađi cũng chẳng tìm được của cải như lòng ông mong ước. Khi trở về Acađiê, ông rất kinh hoàng vì nhận thấy cô gái nhỏ Êlôđiê của ông đã đi tu. Êlôđiê đã gia nhập dòng Thánh Giá ngày 21 tháng Hai năm 1854. Ông Parađi liền đến tu viện. Ông năn nỉ cô bé về nhà nhưng Êlôđiê quyết chọn ở lại. Sau cùng, người cha cũng đành phải chấp nhận. Êlôđiê tuyên khấn năm 1857 và nhận tên là Maria Lêôni. Chân phước Maria Lêôni dạy học trong nhiều thành phố. Ngài cầu nguyện và sống rất vui vẻ.

Thời gian cứ thế trôi qua! Nữ tu Maria Lêôni Parađi được Đức Chúa Giêsu soi dẫn thiết lập một hội dòng mới trong Giáo hội. Năm 1880, các Nữ Tu Nhỏ, tức các chị Tiểu Muội dòng Thánh Gia, khởi sự hoạt động. Các chị dòng đáng yêu này dâng hiến đời mình phục vụ hàng linh mục. Công việc đặc biệt của họ là giúp các linh mục trông nom nhà cửa và công việc. Các Nữ Tu Nhỏ dòng Thánh Gia hiện có sáu mươi bảy tu viện ở Canađa, Hoa kỳ, Rôma và Hôđura.

Mẹ Maria Lêôni Parađi đã hy sinh phục vụ các nữ tu của Mẹ cho đến những giờ sau hết của đời Mẹ. Mẹ thường hay đau bệnh. Nhưng Mẹ chẳng bao giờ thôi việc chăm lo cho dân Chúa. Mẹ tu chỉnh lần cuối những trang hiến luật Mẹ đã viết. Rồi Mẹ nhờ người mang ra tiệm in. Cuốn sách ấy chỉ dẫn cho các nữ tu của Mẹ biết những nhu cầu cần thiết trong đời sống của họ. Vào thứ Sáu ngày mùng 3 tháng Năm năm 1912, Mẹ Maria Lêôni Parađi cảm thấy rất mệt. Mẹ đi nghỉ và vài giờ sau đó Mẹ đã qua đời. Mẹ Maria Lêôni Parađi sống thọ bảy mươi mốt tuổi.

Đức thánh cha Gioan Phaolô II đã phong chân phước cho Mẹ Maria Lêôni Parađi. Sự kiện vui mừng này diễn ra tại Jarry Park, Montriơ, Canađa ngày 11 tháng Chín năm 1984.

Đôi khi chúng ta sợ thất bại hoặc lo lắng quá nhiều về tương lai của mình. Những lúc ấy chúng ta hãy nài xin chân phước Maria Lêôni Parađi giúp chúng ta biết sẵn sàng lắng nghe tiếng Chúa như ngài.

 

Ngày 5 tháng 5

Thánh Giuđitha Prusia

Thánh Giuđitha Prusia sống vào thế kỷ thứ mười ba. Ngài được sinh tại Turingia (ngày nay vùng này thuộc Trung Đức). Giuđitha muốn bắt chước mẫu gương của thánh nữ Êlizabeth Hungari. Lễ mừng kính vị thánh này được cử hành vào ngày 18 tháng Mười Một. Thánh nữ Êlizabeth Hungari đã sống từ năm 1207 đến năm 1231. Ngài được phong thánh năm 1235. Ở thời đại của Giuđitha, nhiều nữ Kitô hữu đã chịu ảnh hưởng bởi gương sáng thánh thiện của thánh nữ Êlizabeth.

Khi lên mười lăm tuổi, Giuđitha kết hôn với một chàng quý tộc giàu có. Giuđitha cố gắng trở nên một người vợ mẫu mực theo giáo huấn Kitô giáo. Đặc biệt Giuđitha rất quảng đại với những người nghèo khổ. Chồng của Giuđitha là một người tốt bụng nhưng lại thỏa mãn với lối sống giàu sang của ông. Ông mong muốn người vợ của ông cũng ăn mặc và trưng diện như một bà quý phái. Ông cảm thấy lối phục sức sang trọng của các bà phu nhân làm cho các bà được nể trọng. Nhưng Giuđitha dịu dàng thuyết phục chồng ngài hãy sống và ăn mặc giản dị hơn. Và khi làm điều này, họ sẽ có thêm nhiều của bố thí cho những người xấu số hơn họ.

Chồng của Giuđitha qua đời bất ưng đang khi hành hương tới thánh địa. Người quả phụ trẻ phải ở lại một mình nuôi con. Khi con cái khôn lớn, Giuđitha cảm thấy một sự khao khát thôi thúc trong tâm hồn mình qua những chuỗi ngày hạnh phúc và bận rộn của cuộc sống. Rồi Giuđitha đã bố thí hết mọi của cải và sống như một ẩn sĩ. Sau đó, Giuđitha đến Prusia, nơi người ta không biết ngài xuất thân từ gia đình giàu có. Ở đó, nơi túp lều bé nhỏ của mình, Giuđitha dùng thời giờ để cầu nguyện và chăm sóc những lữ khách rã rời yếu mệt. Đặc biệt ngài cầu nguyện cho những người vô tín ngưỡng được ơn trở lại. Giuđitha Prusia cũng cầu nguyện cho những Kitô hữu mới chịu phép Thánh tẩy được ơn trung thành với đức tin của họ.

Lần kia, thánh nữ nói: “Có ba điều có thể giúp chúng ta sống thân mật với Thiên Chúa, đó là: nhẫn nhục chịu những đau khổ thể xác, chấp nhận cuộc sống lưu vong nơi đất khách quê người và chọn lối sống nghèo khó vì yêu mến Thiên Chúa.” Thánh nữ Giuđitha Prusia qua đời vì cơn bệnh sốt vào năm 1260.

Bất cứ khi nào chúng ta lo lắng về ấn tượng cảm xúc chúng ta gây nên, chúng ta hãy cầu nguyện với thánh nữ Giuđitha Prusia. Chúng ta hãy nài xin thánh nữ giúp chúng ta biết hướng nhìn về Thiên Chúa. Điều đó quan trọng hơn là lo lắng tới những chuyện người ta nói về chúng ta.

 

Ngày 6 tháng 5

Chân phước Phanxicô Mônmôrency Laval

Chân phước Phanxicô Mônmôrency Laval là giám mục đầu tiên của thành phố Quêbéc, nước Canađa. Phanxicô cất tiếng khóc chào đời năm 1623 trong một thị trấn nhỏ bên Pháp. Phanxicô được hấp thụ một nền giáo dục Kitô giáo tuyệt vời. Ngài học với các tu sĩ dòng Tên và sau đó tới Pari để hoàn tất việc chuẩn bị cho thiên chức linh mục. Phanxicô Mônmôrency Laval thụ phong linh mục vào tháng Năm năm 1647. Ngày mùng 8 tháng Mười Hai năm 1658, Phanxicô Mônmôrency Laval được tấn phong giám mục; và qua năm 1659, ngài đến vùng Đất Mới của nước Pháp.

Giám mục Phanxicô Laval rất giàu tinh thần truyền giáo. Ngài chấp nhận cuộc sống khai hoang của bổn đạo mình. Thậm chí, Phanxicô Laval đã can đảm tiếp nhận một nhiệm vụ lớn lao hơn thế nữa. Ngài thiết lập một Giáo hội ở Canađa, nơi trước đây chỉ là khu vực truyền giáo. Giám mục Phanxicô Laval xin các vị thừa sai dòng Tên giúp đỡ những cư dân bản xứ. Ngài lập ra những xứ đạo mới dành cho các Kitô hữu nói tiếng Pháp. Đến năm 1663, Phanxicô Mônmôrency Laval thành lập chủng viện Quêbéc. Đây là một việc rất quan trọng bởi vì chủng viện quý báu này sẽ giúp đào luyện các linh mục tương lai cho dân Chúa.

Giám mục Phanxicô Mônmôrency Laval yêu mến mọi con chiên trong giáo phận rộng lớn của ngài. Phanxicô là vị giám mục biết quan tâm lo lắng và là một người có tâm hồn cầu nguyện. Thánh giá đặc biệt nhất của Phanxicô là vấn đề cản trở liên tục từ phía các nhà cầm quyền dân sự. Cách riêng, Phanxicô thẳng thắn vạch ra những tai hại của việc buôn bán các loại rượu mạnh.

Năm 1688, Phanxicô về hưu và giám mục Valliê lên thay thế. Giám mục Phanxicô Laval cũng cống hiến trọn hai mươi năm sau cùng của đời ngài cho những hoạt động bác ái từ thiện. Phanxicô Mônmôrency Laval về trời năm 1708. Khách hành hương đến cầu nguyện tại ngôi mộ của Phanxicô; và họ đã thuật lại các phép lạ. Ngày 22 tháng Sáu năm 1980, đức thánh cha Gioan Phaolô II đã tôn phong giám mục Phanxicô Mônmôrency Laval lên hàng chân phước.

 Giám mục Phanxicô Mônmôrency Laval giúp chúng ta nhận thức được ý nghĩa của hai chữ “truyền giáo.” Ngài đã can đảm rời bỏ quê hương thân yêu của ngài để đi đến Canađa khi miền đất này mới chỉ là một cứ điểm truyền giáo. Chúng ta hãy nài xin giám mục Phanxicô Mônmôrency Laval giúp chúng ta nhận biết về Giáo hội trên khắp hoàn vũ. Chúng ta cũng hãy nhớ đến mọi người khi đọc kinh nguyện.

 

Ngày 7 tháng 5

Chân phước Rôsa Vênêrini

Chân phước Rôsa Vênêrini sinh tại thành Vitêô, nước Ý, vào năm 1656. Thân phụ của Rôsa là một thầy thuốc khoa nội. Rôsa Vênêrini gia nhập tu viện nhưng sau vài tháng lại trở về nhà. Rồi thân phụ Rôsa qua đời và Rôsa cảm thấy mình có bổn phận phải chăm sóc phụng dưỡng người mẹ góa.

Rôsa Vênêrini tuy vẫn sống độc thân nhưng nhận thấy mình có khả năng lãnh đạo. Vào mỗi buổi tối, Rôsa tập hợp các bạn thanh nữ trong xóm lại và cùng nhau đọc kinh Mân Côi. Khi đã hiểu nhau rồi, Rôsa thấy các bạn trẻ nhận biết về đức tin của mình còn quá kém. Vì vậy năm 1685, Rôsa Vênêrini và hai chị giúp việc đã mở một trường học miễn phí dành cho các trẻ nữ. Các bậc phụ huynh gởi con em của họ nơi đây rất hài lòng với bầu khí và phương pháp giáo dục.

Rôsa Vênêrini là một nhà giáo dục có tài. Nhưng trên hết, Rôsa có thể thông trao cho người khác cách thức truyền đạt của ngài. Vào năm 1692, đức hồng y Barbarigô mời Rôsa Vênêrini tới giáo phận của ngài. Đức hồng y muốn Rôsa thiết lập các trường học và đào tạo các giáo viên cho ngài. Chính nhờ ở trong giáo phận của đức hồng y Barbarigô mà Rôsa Vênêrini đã trở thành người bạn và là giảng viên của một vị thánh tương lai. Vị ấy là thánh nữ Luxia Philippini lập dòng. Nữ tu Luxia Philippini được tôn phong lên bậc hiển thánh vào năm 1930.

Rôsa Vênêrini cũng thiết lập các trường ở nhiều nơi khác nữa. Có vài người bực tức với công việc của Rôsa đã quấy phá Rôsa và các giáo viên của ngài. Nhưng các giáo chức vẫn luôn luôn tin tưởng vào thiện ích của việc giáo dục. Thậm chí Rôsa Vênêrini còn mở một trường học ở Rôma vào năm 1713. Đức thánh cha Clêmentê XI đã vui sướng chúc mừng Rôsa Vênêrini về việc đã thiết lập được một trường học tuyệt vời như vậy.

Người giảng viên trung tín này mất tại Rôma vào ngày mùng 7 tháng Năm năm 1728, lúc được bảy mươi hai tuổi. Sau khi qua đời, các chị giáo không thuộc giới tu sĩ của chân phước Rôsa Vênêrini đã trở thành các nữ tu. Các nữ tu Vênêrini tiếp tục thực hiện sứ vụ giáo dục của họ theo cách thức mà chân phước Rôsa Vênêrini đã làm. Năm 1952, Rôsa Vênêrini được đức thánh cha Piô XII tôn phong lên bậc chân phước. 

Chân phước Rôsa Vênêrini đã nhận thức được chân giá trị của việc giáo dục. Nếu chúng ta muốn quyết tâm cố gắng hơn trong việc học tập của mình, chúng ta hãy nài xin chân phước Rôsa Vênêrini giúp đỡ.

 

 

Ngày 8 tháng 5

Chân phước Catarina dòng thánh Augustinô

Chân phước Catarina sinh ngày mùng 3 tháng Năm năm 1632 trong một ngôi làng nhỏ bên nước Pháp. Ngài được chịu phép Thanh tẩy cùng ngày hôm ấy. Các thành viên trong gia đình Catarina là những Kitô hữu rất đạo đức. Ông bà nội của Catarina đã nêu gương đặc biệt qua việc quan tâm đến những người nghèo khổ. Catarina chăm chú quan sát với đôi mắt tròn xoe ngây thơ khi bà nội của ngài dắt về nhà một người hành khất khuyết tật cả về thể chất lẫn tinh thần. Bà đã cho ông ta nước tắm, quần áo sạch và cả một bữa ăn ngon. Tối hôm ấy, khi Catarina và ông bà ngồi xung quanh bếp lửa, họ đã cùng nhau đọc to kinh Lạy Cha. Họ cảm tạ Thiên Chúa vì những phúc lành Người đã thương ban.

Bởi vì chẳng có bệnh viện nào trong thị trấn nhỏ bé của họ, nên những người đau bệnh đã được điều trị ngay tại căn nhà của ông bà nội. Catarina hiểu rằng bệnh tật và đau khổ đòi phải có lòng kiên nhẫn chịu đựng. Chỉ mới là một cô gái nhỏ nhưng Catarina cũng biết cầu nguyện xin Đức Chúa Giêsu cất bớt đau khổ cho họ. Ngay khi còn rất trẻ, Catarina đã gia nhập dòng nữ Augustinô, lúc ấy mới thành lập. Họ chăm sóc bệnh nhân trong các bệnh viện. Ngày 24 tháng Mười năm 1646, Catarina nhận áo dòng. Đó cũng là ngày người chị gái của Catarina tuyên lời khấn thánh. Năm 1648, Catarina nghe biết các linh mục thừa sai xin các nữ tu đến truyền giáo tại vùng Đất Mới của nước Pháp và Canađa. Chị của Catarina được chọn làm người đầu tiên trong hội dòng đi Canađa truyền giáo. Lúc ấy, Catarina chỉ mới được mười sáu tuổi nhưng cũng xin tình nguyện đi. Catarina tuyên các lời khấn thánh ngày mùng 4 tháng Năm năm 1648. Rồi ngày hôm sau, Catarina trẩy tàu đến Canađa. Hôm đó là ngày áp sinh nhật lần thứ mười sáu của ngài.

Cuộc sống nơi Quêbéc, Canađa thật khó khăn. Sơ Catarina yêu mến các cư dân sống ở đây. Những người thổ dân cảm thấy thật dễ chịu vì thái độ vui vẻ của Catarina. Catarina nấu nướng và chăm sóc những người đau ốm trong khu bệnh xá nghèo nàn của dòng. Nhưng Catarina cũng cảm thấy sợ hãi. Những người thổ dân Irôquơ đang giết chết nhiều người và đốt phá nhiều làng mạc. Catarina cầu nguyện cho thánh Brêbô, một linh mục dòng Tên, đã bị những người Irôquơ giết hại năm 1649. Catarina xin thánh nhân giúp mình trung thành bền đỗ trong ơn gọi tu trì. Trong lòng, Catarina nghe thấy thánh nhân khuyên hãy ở lại. Thế rồi, thực phẩm dần dần khan hiếm; và về mùa đông, khí hậu trở nên cực kỳ giá lạnh. Vài người trong số các nữ tu không thể chịu đựng nổi cuộc sống khắc nghiệt và sự đe dọa của thần chết. Và thật tiếc thay, họ đã trở về nước Pháp. Sơ Catarina cũng lo sợ. Đôi lúc sơ hầu như không thể cầu nguyện được. Sơ cảm thấy buồn sầu đang khi mỉm cười với hết thảy những người thân yêu mà sơ chăm sóc trong dãy nhà thương dành cho các bệnh nhân. Thế rồi, chính trong lúc mọi sự mù mịt và đen tối nhất xảy đến, sơ Catarina đã khấn là sẽ không bao giờ rời bỏ Canađa. Sơ đoan hứa rằng sẽ ở lại làm những công việc bác ái cho đến chết. Khi thực hiện lời khấn này, sơ Catarina mới chỉ có hai mươi hai tuổi.

Tuy cuộc sống khai hoang mở đường nơi vùng đất Pháp thuộc có nhiều khó khăn, thì càng ngày vẫn càng có thêm nhiều người đến đây cư trú. Giáo hội phát triển. Thiên Chúa chúc lành cho miền đất mới qua việc ban thêm các vị thừa sai. Vào năm 1665, sơ Catarina trở thành Mẹ tập sư của cộng đoàn. Sơ vẫn tiếp tục sống đời cầu nguyện và giúp việc bệnh xá cho tới lúc qua đời. Sơ Maria Catarina dòng thánh Augustinô mất ngày mùng 8 tháng Năm năm 1668, hưởng dương ba mươi sáu tuổi. Đến năm 1989, đức thánh cha Gioan Phaolô II đã tôn phong sơ Catarina lên bậc chân phước.

Đức Chúa Giêsu không hứa với chúng ta rằng cuộc sống của chúng ta sẽ được thoải mái dễ chịu, không có đau khổ hoặc phiền toái chi. Người chỉ hứa sẽ luôn luôn ở với chúng ta. Khi gặp sợ hãi hay chán nản, chúng ta hãy cầu xin chân phước Catarina dòng thánh Augustinô ban cho chúng ta chút lòng can đảm của ngài.

 

Ngày 9 tháng 5

Chân phước Nicôla Albergarti

Chân phước Nicôla Albergarti sinh tại Bôlônha, nước Ý. Gia đình Nicôla đã chu cấp cho ngài đi đại học, nơi ngài sẽ học môn luật. Nhưng sau vài năm, Nicôla lại quyết định không chọn làm luật sư. Khi lên hai mươi tuổi, Nicôla Albergarti gia nhập dòng Brunô. Năm 1417, vị tu sĩ Brunô này được chọn làm giám mục giáo phận quê hương ngài. Nicôla không hề kỳ vọng điều đó bao giờ. Thậm chí, ngài cũng không thể tin rằng đó là ý muốn của Thiên Chúa. Nhưng các bề trên của Nicôla thì quả quyết đây là thánh ý của Thiên Chúa.

Dân chúng yêu thích giám mục Nicôla. Ngài sống trong một căn nhà đơn sơ và bé nhỏ. Nicôla Albergarti sinh hoạt giống như họ. Ngài khởi sự thăm nom các bổn đạo trong giáo phận của ngài. Trước tiên, Nicôla Albergarti tới thăm các gia đình nghèo khổ bất hạnh. Ngài nói chuyện với họ và giúp đỡ họ những nhu cầu cần thiết. Nicôla Albergarti chúc lành cho gia đình của họ và họ rất biết ơn ngài.

Năm 1426, đức giám mục Nicôla Albergarti được phong làm hồng y. Ngài nổi tiếng là người khôn ngoan và thánh thiện. Hai vị giáo hoàng Máctinô V và Êugiêniô IV đã năng bàn hỏi với Nicôla Albergarti khi gặp những vấn đề quan trọng của Giáo hội. Chân phước Nicôla Albergarti cũng khuyến khích việc trau dồi kiến thức. Thực vậy, chính Nicôla Albergarti đã viết rất nhiều sách.

Hồng y Nicôla Albergarti qua đời trong chuyến công du tới Siêna, nước Ý. Đức thánh cha Êugiêniô IV đã tham dự thánh lễ an táng và chôn cất ngài.

Chân phước Nicôla Albergarti về trời năm 1443.

 Có bao giờ bạn cảm thấy tức giận khi không được người khác lưu tâm đến? Lúc ấy bạn hãy cầu nguyện với chân phước Nicôla Albergarti. Ngài đã tiếp nhận sự ưu ái quan tâm mà chẳng bao giờ ngài muốn. Chân phước Nicôla Albergarti sẽ chỉ cho chúng ta biết rằng việc dùng thời giờ để tôn vinh Thiên Chúa thật sự quý giá biết là chừng nào!

 

Ngày 10 tháng 5

Thánh Antôniô

Thánh Antôniô sống vào thế kỷ thứ mười lăm. Ngay lúc còn trẻ, Antôniô đã tỏ ra là một người có năng lực tuyệt vời. Người ta kể truyện rằng khi lên mười lăm tuổi, Antôniô xin gia nhập dòng thánh Đa Minh. Trông Antôniô lúc ấy rất bé nhỏ và non trẻ. Cha bề trên chăm chú nhìn Antôniô hồi lâu rồi nói: “Được, ta sẽ nhận con với điều kiện con phải học thuộc lòng ‘Sắc lệnh về Ân sủng!’” “Sắc lệnh về Ân sủng” là một tập sách dầy hàng trăm trang. “Bằng không,” cha bề trên nói tiếp, “ta sẽ không nhận!”

Nhưng Antôniô đã chấp nhận lời yêu cầu khó khăn ấy. Một năm sau, Antôniô trở lại. Thật là khó diễn tả sự ngỡ ngàng của cha bề trên khi ngài nhận thấy Antôniô đã nhớ thuộc lòng toàn bộ sắc lệnh! Không cần nói thêm lời nào, Antôniô lập tức được nhận vào dòng. (Tuy nhiên, không phải do khả năng ghi nhớ của thánh Antôniô đã làm thay đổi ý định của cha bề trên mà là vì thánh nhân đã chứng tỏ mình thật nghiêm túc và chân thành đối với ơn kêu gọi tu trì.)

Dù chỉ mới mười sáu, Antôniô đã không ngớt làm cho mọi người phải ngạc nhiên bởi lối sống của ngài trong tu viện. Khi lớn hơn, Antôniô được trao cho hết nhiệm vụ quan trọng này tới nhiệm vụ quan trọng khác. Gương sáng đạo đức của Antôniô ảnh hưởng trên các anh em tu sĩ Đa Minh cùng tu với ngài. Họ yêu mến và kính trọng Antôniô. Điều này được minh chứng cách hùng hồn trong đời sống của chân phước Antôn Nâyrô, lễ kính ngày mùng 10 tháng Tư.

Vào tháng Ba năm 1446, thánh Antôniô được chọn làm tổng giám mục giáo phận Florentia, nước Ý. “Cha của những người nghèo khó” là danh xưng người ta đặt cho vị thánh này. Thánh Antôniô không bao giờ từ chối giúp đỡ ai. Khi hết tiền, thánh Antôniô đã bố thí cho họ áo quần, giầy ủng, đồ đạc hay cả con la duy nhất mà ngài đang cưỡi. Nhiều lần, con la này đã được bán đi để lấy tiền giúp đỡ người nghèo. Rồi những người dân giàu có lại giúp tiền chuộc lại cho ngài. Dĩ nhiên, thánh Antôniô lại bán nó để lấy tiền giúp đỡ những người nghèo khổ khác!

Thánh Antôniô thường nói: “Người kế vị các tông đồ không nên tích trữ cho mình bất cứ của gì ngoại trừ sự giàu có về các nhân đức.” Thánh Antôniô về trời năm 1459. Ngài được tôn phong hiển thánh năm 1523.

Thánh Antôniô sẽ giúp chúng ta giữ vững những điều quan yếu. Trong cuộc sống, thánh nhân biết rõ mình đang đi đâu. Thánh nhân đã muốn sống trung thành với lý tưởng của mình cho đến lúc mãn đời. Chúng ta hãy nài xin thánh Antôniô giúp chúng ta được trung thành với Đức Chúa Giêsu như ngài.

 

Ngày 11 tháng 5

Thánh Inhaxiô Lacôni

Thánh Inhaxiô là con trai của một gia đình nông dân nghèo khó miền Lacôni, nước Ý. Ngài cất tiếng khóc chào đời ngày 17 tháng Mười Hai năm 1701. Khi lên mười bảy tuổi, Inhaxiô bị bệnh rất nặng. Ngài hứa sẽ đi tu dòng Phanxicô nếu được khỏi bệnh. Nhưng khi lành bệnh, người cha lại thuyết phục Inhaxiô chờ đợi. Hai năm sau, Inhaxiô suýt bị tiêu đời bởi sự lồng lộn ngang bướng do con ngựa của ngài. Tuy nhiên, thình lình con ngựa đứng sựng lại và thong thả phi nước kiệu. Sau đó, Inhaxiô nhận ra rằng Thiên Chúa đã cứu chữa ngài; và ngay lập tức, Inhaxiô Lacôni đã quyết định theo đuổi ơn kêu gọi tu trì của ngài.

Thầy Inhaxiô Lacôni chẳng nắm giữ một địa vị quan trọng nào trong dòng Phanxicô. Suốt mười lăm năm trời, thầy làm việc trong xưởng dệt. Rồi trong bốn mươi năm tiếp theo, Inhaxiô Lacôni đã giúp việc cùng với một nhóm anh em đi từ nhà này sang nhà khác xin thức ăn và tiền bố thí để chu cấp cho các tu sĩ. Inhaxiô Lacôni thăm viếng các gia đình và tiếp nhận đồ biếu của họ. Nhưng chẳng bao lâu dân chúng đều biết là họ lại được nhận một món quà gởi trả lại. Thầy Inhaxiô Lacôni an ủi những người đau yếu và khích lệ những người sầu khổ. Thầy hòa giải các kẻ thù địch, làm cho những người tội lỗi trở về cùng Thiên Chúa và khuyên bảo những người gặp cảnh khó khăn. Tất cả mọi người đều mong mỏi sự viếng thăm của thầy.

Cũng có những ngày cơ khổ khác nữa! Lần kia, người ta đóng sầm cửa lại trước mặt Inhaxiô; và trong hầu hết các trường hợp như vậy, thời tiết trở nên xấu tệ. Thầy Inhaxiô Lacôni thường phải đi bộ hàng dặm nhưng vẫn luôn luôn trung thành với công việc của thầy. Lúc ấy, người ta quan sát thấy thầy Inhaxiô Lacôni hay bỏ qua một căn nhà. Chủ nhà là một người giàu có cho vay nặng lãi. Ông bắt những người nghèo phải trả lãi rất cao. Người đàn ông này cảm thấy tủi hổ vì Inhaxiô Lacôni chẳng bao giờ ghé thăm nhà ông để xin tiền bố thí. Ông phàn nàn với bề trên của thầy Inhaxiô. Vị bề trên không biết người cho vay nặng lãi này là ai nên đã sai Inhaxiô Lacôni tới nhà của ông. Thầy Inhaxiô Lacôni không nói lời nào nhưng đã vâng phục lệnh bề trên truyền. Inhaxiô Lacôni trở về kèm theo một giỏ thức ăn lớn. Lúc ấy, Thiên Chúa làm một phép lạ. Khi người ta trút thức ăn trong chiếc giỏ ra thì thấy máu me chảy ướt đẫm. “Đây là máu của những người nghèo,” Inhaxiô Lacôni đơn sơ giải thích. “Đó là lý do tại sao con không bao giờ xin bất cứ của gì nơi nhà người ấy!” Các tu sĩ bắt đầu cầu nguyện để người cho vay này được ơn ăn năn trở lại.

Thầy Inhaxiô Lacôni qua đời vào ngày 11 tháng Năm năm 1781, lúc được tám mươi tuổi. Đến năm 1951, Inhaxiô được đức thánh cha Piô XII tôn phong lên bậc hiển thánh.

Thầy Inhaxiô Lacôni là một tu sĩ Phanxicô hạnh phúc và trung thành. Thầy giúp chúng ta nhận biết rằng món quà quý nhất chúng ta có thể trao ban cho tha nhân chính là gương sáng của chúng ta.

 

Ngày 12 tháng 5

Thánh Nêrô, Akilêô và Pancrasiô

Thánh Nêrô và thánh Akilêô là những binh sĩ Rôma qua đời khoảng năm 304. Có thể các ngài là những vệ sĩ của hoàng đế Rôma dưới thời vua Trajanô. Chúng ta không được biết nhiều chi tiết về các ngài. Thế nhưng những điều chúng ta biết được là do hai vị giáo hoàng Sirisiô và Đamasô sống vào thế kỷ thứ tư kể lại. Vào năm 398, đức giáo hoàng Sirisiô đã xây một ngôi thánh đường ở Rôma để tôn kính các ngài. Đức giáo hoàng Đamasô thì soạn một bài viết tóm tắt cuộc đời của hai vị tử đạo này. Ngài giải thích rằng Nêrô và Akilêô được ơn trở lại với đức tin Công giáo. Các ngài đã vĩnh viễn từ bỏ vũ khí lại đằng sau. Các ngài là những môn đệ đích thực của Đức Chúa Giêsu dù phải trả giá cả mạng sống mình. Nêrô và Akilêô bị đày ra đảo Têraxina và bị xử trảm tại đó. Vào thế kỷ thứ bốn, ngôi thánh đường thứ hai đã được xây cất tại một nơi khác trong thành Rôma để tôn kính hai vị tử đạo này.

Thánh Pancrasiô, một trẻ mồ côi mười bốn tuổi, cũng sống vào thời gian này. Ngài có lẽ cũng bị giết chết cùng ngày với hai vị thánh trên. Pancrasiô không phải là người bản xứ Rôma. Người cậu trông coi Pancrasiô đã đưa ngài tới đó. Pancrasiô được chịu phép Thanh tẩy và trở nên môn đệ của Đức Chúa Giêsu. Dù mới chỉ là một cậu bé, nhưng Pancrasiô cũng bị bắt giữ vì lý do là Kitô hữu. Pancrasiô nhất định không chịu chối bỏ đức tin của mình. Vì vậy, ngài đã bị kết án tử hình. Pancrasiô bị trảm quyết. Pancrasiô là vị thánh tử đạo rất được sùng mộ và kính phục trong thời Giáo hội sơ khai. Người ta ngưỡng mộ Pancrasiô vì tuy tuổi đời non trẻ nhưng đã rất can đảm và anh dũng. Vào năm 514, người ta xây cất một ngôi thánh đường lớn tại Rôma để tôn kính thánh Pancrasiô. Đến năm 596, một vị thừa sai danh tiếng, thánh Augustinô Cantơbơri, đến đem đức tin Công giáo cho đất nước Anh. Ở đó, thánh nhân đã lấy danh thánh Pancrasiô để đặt tên cho ngôi thánh đường đầu tiên của mình. 

Các thánh tử đạo Rôma nhắc nhớ chúng ta ý nghĩa quan trọng của đức tin Công giáo. Mỗi người chúng ta hãy biết quý mến, đề cao cũng như thực hành đức tin này. Nếu muốn kiện toàn đức tin của mình, chúng ta hãy nài xin các thánh Nêrô, Akilêô và Pancrasiô giúp đỡ.

 

Ngày 13 tháng 5

Thánh Anrê Phơnê

Thánh Anrê Phơnê sinh ngày mùng 6 tháng Mười Hai năm 1752. Quê thánh nhân ở Mailê, một thị trấn nhỏ gần Poichiê, nước Pháp. Song thân của Anrê là những tín hữu sùng đạo. Bà Phơnê ước mong cho Anrê trở thành linh mục. Đứa nhỏ được nghe điều này thường xuyên nhưng lòng cậu không muốn. Một lần kia, Anrê tuyên bố: “Con sẽ là đứa con tốt, nhưng con sẽ không làm linh mục hay tu sĩ gì hết!”

Khi lớn lên, Anrê Phơnê tới Poichiê để học các môn ở đại học. Nhưng việc học hành chẳng được lâu bền. Anrê chỉ lo ăn chơi đua đòi. Thân mẫu Anrê đã phải theo sau Anrê và đã hướng dẫn Anrê vào những nghề nghiệp tốt. Nhưng hết nghề này tới nghề kia, tất cả đều thất bại! Bà mẹ hết sức lo lắng. Chỉ còn duy một cơ hội nữa thôi. Bà thuyết phục Anrê Phơnê đến ở với người cậu, hiện là linh mục, một thời gian. Xứ đạo của cậu tuy nghèo nhưng cậu là một mục tử thánh thiện. Không hiểu vì lý do nào mà Anrê Phơnê đã đồng ý. Đây có lẽ là “cách thức huấn luyện” đặc biệt của Thiên Chúa.

Người cậu của Anrê nhận ra những đức tính quý hiếm nơi cháu trai mình. Gương sáng của cậu phản chiếu một điều gì đó vào tâm hồn Anrê và Anrê đã bình tâm lại. Anrê bắt đầu học hành nghiêm túc để bù lại quãng thời giờ đã đánh mất. Sau đó, Anrê thụ phong linh mục và được bổ nhiệm đến xứ đạo của người cậu. Năm 1781, Anrê được thuyên chuyển về xứ đạo quê nhà ở Mailê. Thân mẫu Anrê rất vui mừng. Anrê đã trở nên một linh mục tốt và có tâm hồn cầu nguyện.

Khi cuộc cách mạng Pháp xảy ra, thánh Anrê Phơnê vẫn giữ vững lời đã thề hứa trung thành với Giáo hội. Ngài bị người ta săn đuổi. Đến năm 1792, thánh nhân bị ép buộc phải chạy trốn sang Tây Ban Nha. Anrê lưu lại đó suốt năm năm. Nhưng vì lo lắng cho các bổn đạo của mình nên sau đó, Anrê đã tìm cách trở về Pháp. Mối nguy hiểm vẫn dâng cao như trước. Cha Phơnê được các giáo dân của ngài bảo vệ. Cha hầu như đã bảy lần thoát chết. Trong thời gian đó cha ban bí tích Hòa giải, cử hành bí tích Thánh Thể, ban các phép sau cùng cho những người hấp hối. Khi Giáo hội được tự do trở lại, thánh Anrê Phơnê không phải lẩn trốn nữa. Ngài luôn luôn kêu gọi các bổn đạo của ngài hãy yêu mến phục vụ Thiên Chúa. Một trong các phụ nữ tốt lành ở vùng đó là thánh nữ Êlisabeth Bikiơ đã giúp thánh Anrê Phơnê rất nhiều. Các ngài đã cùng nhau thiết lập một hội dòng nữ gọi là dòng Nữ Tử Thánh Giá. Lễ kính thánh Êlisabeth Bikiơ được cử hành ngày 26 tháng Tám.

Ngày 13 tháng Năm năm 1834, thánh Anrê Phơnê qua đời, thọ tám mươi hai tuổi. Đến ngày mùng 4 tháng Sáu năm 1933, Anrê Phơnê được đức thánh cha Piô XI tôn phong lên bậc hiển thánh.

Khi cần nhiều can đảm và nghị lực, chúng ta hãy nài xin thánh Anrê Phơnê giúp đỡ.

 

Ngày 14 tháng 5

Thánh Mátthia

Thánh Mátthia là một trong số bảy mươi hai môn đệ của Đức Chúa Giêsu. Ngài là môn đệ của Đức Chúa Giêsu trong suốt quãng đời sống công khai của Người. Thánh Phêrô đã xin 120 người họp lại để cầu nguyện và chọn một tông đồ thay thế Giuđa. Việc này rất quan trọng vì người ấy sẽ làm giám mục như các tông đồ khác. Thánh nhân nói rằng nên chọn một người đã từng ở với Đức Chúa Giêsu từ lúc Chúa chịu thanh tẩy nơi sông Giođan cho tới khi Chúa về trời.

Chương thứ nhất của sách Tông đồ Công vụ thuật rằng nhóm họ đã đề cử hai người. Một người là Mátthia và người kia là Giuse, gọi là Basaba. Người ta cũng gọi Giuse là Justô. Cả Giuse và Mátthia đều là những người rất được các môn đệ của Đức Chúa Giêsu ưu ái. Vì thế họ là hai người được đề cử thay thế cho Giuđa. Nhưng các tông đồ chỉ chọn có một người! Vậy các ngài đã làm gì? Đơn giản thôi, các ngài đã rút thăm và tên Mátthia được chọn.

Thánh Mátthia là một tông đồ rất tốt lành. Ngài rao giảng Tin mừng ở miền Giuđêa. Rồi ngài đến Cappađôxia (ngày nay là Thổ Nhĩ Kỳ). Nhiều người đã nghe thánh Mátthia thuyết giảng. Họ tin vào sứ điệp kỳ diệu của ngài. Các kẻ thù của Đức Chúa Giêsu rất căm giận khi thấy người ta lắng nghe Mátthia. Họ quyết định ngăn cản ngài. Sau cùng, Mátthia đã chết như một vị thánh tử đạo.

Thánh Mátthia nhắc nhở chúng ta rằng chúng ta có phúc may vì được làm môn đệ của Đức Chúa Giêsu và là một chi thể trong Giáo hội của Người. Chúng ta hãy nài xin thánh Mátthia giúp chúng ta năng sống biết ơn đối với điều chúng ta được nhận lãnh.

 

Ngày 15 tháng 5

Thánh Isiđôrô nông gia

Vị thánh này sinh năm 1070 tại Mađriđ, nước Tây Ban Nha. Cha mẹ Isiđôrô là những tín hữu Công giáo rất nhiệt thành. Họ lấy tên vị thánh cả Isiđôrô, tổng giám mục thành Sêvil, nước Tây Ban Nha, để đặt cho ngài. Chúng ta đã mừng lễ kính vị thánh này hôm mùng 4 tháng Tư. Song thân của Isiđôrô rất muốn cho con trai mình được hấp thụ một nền giáo dục tuyệt nhất, nhưng lại không đủ khả năng. Họ là những tá điền; cho nên con trai họ cũng sẽ trải qua kiếp đời trong cùng nghề nghiệp ấy.

Thánh Isiđôrô làm thuê cho một địa chủ giàu có ở Mađriđ. Tên của ông là Gioan Vargas. Isiđôrô đã làm việc suốt đời cho ông Vargas. Ngài kết hôn với một cô gái tốt lành cũng xuất thân từ gia cảnh nghèo túng như ngài. Đôi vợ chồng trẻ rất yêu thương nhau. Họ sinh được một bé trai nhưng bé lại mất khi vừa mới chào đời. Qua cái chết của đứa con, Isiđôrô và người vợ dâng lên Đức Chúa Giêsu nỗi đau buồn của họ. Họ tin rằng con trai họ đang được hưởng hạnh phúc muôn đời bên Thiên Chúa.

Thánh Isiđôrô khởi đầu mỗi ngày sống bằng việc tham dự thánh lễ rồi mới bắt tay vào công việc. Ngài hết sức cố gắng làm việc dù không cảm thấy thích thú gì. Thánh nhân vừa cày xới, trồng tỉa, vừa cầu nguyện. Ngài cầu nguyện với Đức Mẹ, với các thánh và thiên thần bản mệnh của ngài. Các vị đã giúp Isiđôrô biến những ngày sống bình thường thành những phút giây hân hoan đặc biệt. Thế giới của niềm tin trở nên rất hiện thực đối với Isiđôrô cũng y như những cánh ruộng của ông Vargas. Khi có ngày nghỉ việc, Isiđôrô dùng thêm giờ để chầu kính Đức Chúa Giêsu trong nhà thờ. Thỉnh thoảng, vào những ngày lễ nghỉ, Isiđôrô và người vợ của ngài đi thăm viếng một vài giáo xứ lân cận nhân dịp có “ngày hành hương cầu nguyện.”

Lần kia, xứ đạo tổ chức khoản đãi một bữa ăn tối. Isiđôrô đến rất sớm và lên nhà thờ cầu nguyện. Ngài tới hội trường nhà xứ trễ. Rồi, Isiđôrô không đến một mình nhưng lại mang theo một nhóm hành khất. Giáo dân trong xứ đạo rất bực mình. Giả như không đủ thức ăn cho tất cả bọn khất thực đó thì sao? Nhưng lạ thay! Càng múc thức ăn vào các dĩa cho họ thì lại càng có dư thêm thức ăn cho mọi người khác. Bằng một giọng ân cần thân ái, thánh Isiđôrô nói: “Luôn luôn có đủ lương thực cho những người nghèo khổ của Đức Chúa Giêsu mà!”

Người ta bắt đầu loan truyền các mẩu truyện lạ về vị thánh nông gia này. Isiđôrô sống hoàn toàn vị tha. Ngài là người dễ thương và giàu lòng trắc ẩn. Isiđôrô là một trong số các vị thánh được người dân Tây Ban Nha yêu thích nhất. Isiđôrô về trời ngày 15 tháng Năm năm 1130. Vào tháng Ba năm 1622, đức thánh cha Grêgôriô XV đã tôn phong năm vị thánh một trật. Các ngài là: thánh Inhaxiô Lôyôla, thánh Phanxicô Xaviê, thánh Têrêsa Avila, thánh Philipphê Nêri và thánh Isiđôrô nông gia.

Thánh Isiđôrô nông gia đã để cho niềm tin vào Đức Chúa Giêsu và Giáo hội soi chiếu cả cuộc đời ngài. Chúng ta hãy nài xin thánh nhân giúp chúng ta cũng yêu mến Thiên Chúa như ngài.

 

 

Ngày 16 tháng 5

Thánh Ubal

Vị thánh này sống vào thế kỷ thứ mười hai ở nước Ý. Ngài là một đứa trẻ mồ côi được người cậu làm giám mục nuôi dưỡng. Ubal được hấp thụ một nền giáo dục rất khá. Khi hoàn tất việc học, Ubal gặp một dịp thuận tiện để lập gia đình. Nhưng thay vì bậc sống hôn nhân, Ubal đã chọn làm linh mục. Cuối cùng, đức thánh cha đặt Ubal làm giám mục giáo phận Gubbiô, là thành phố nơi ngài sinh trưởng.

Thánh Ubal nổi tiếng vì đức tính dịu dàng và nhẫn nại. Chẳng hạn, lần kia có một công nhân sửa chữa bức tường của trung tâm thương mại. Anh đã làm tổn hại nặng tới vườn nho của đức giám mục Ubal. Vị thánh dịu dàng chỉ cho anh ta xem. Nhưng anh công nhân chắc là đã thấm mệt. Thậm chí có lẽ anh không nhận ra đức giám mục. Anh thô bạo xô đức giám mục Ubal mạnh đến nỗi ngài đã ngã té vào đống xi măng ướt. Mình dính đầy xi măng, Ubal từ từ chỗi dậy, lau chùi sạch sẽ và trở về nhà. Vài người xem biết sự việc đã đòi anh công nhân phải ra tòa. Và chính đức giám mục Ubal có mặt trong phòng xử án đã biện hộ cho anh ta được tự do.

Đức giám mục Ubal thánh thiện rất yêu mến hòa bình và ngài đã can đảm gìn giữ nền hòa bình. Lần kia, khi dân chúng trong thành Gubbiô ẩu đả nhau trên đường phố, giám mục Ubal đã xông vào giữa hai nhóm người đang giận dữ. Dường như Ubal chẳng hề sợ gì những lưỡi gươm đang bổ nhau chan chát và những hòn đá đang liệng qua liệng lại! Rồi đột nhiên Ubal té xuống đất. Nhóm người đánh nhau lập tức ngưng lại. Họ tưởng đức giám mục đã bị giết chết. Nhưng Ubal chỗi dậy. Ubal làm hiệu cho họ biết rằng ngài không sao cả. Dân chúng tạ ơn Thiên Chúa. Họ thôi đánh nhau và trở về nhà.

Lần khác, khi biết hoàng đế Frêđêric Barbarôsa đang trên đường đến tấn công thành phố Gubbiô. Thánh Ubal đã không đợi cho Barbarôsa và đội quân của ông tới thành. Ubal liền ra nói chuyện với ông trên đường. Chẳng ai biết được giám mục Ubal đã nói điều gì. Họ chỉ biết là thánh nhân đã thuyết phục được hoàng đế Barbarôsa rời bỏ khỏi thành Gubbiô.

Đức giám mục Ubal có nhiều bệnh tật thể lý nhưng ngài chẳng bao giờ nói về chuyện ấy. Vào Chúa nhật phục sinh năm 1160, Ubal chỗi dậy dâng thánh lễ. Thánh nhân đã giảng một bài rất hay và chúc lành cho giáo dân. Sau đó, ngài trở về giường nằm và không thể chỗi dậy nữa. Đức giám mục Ubal đã qua đời vào ngày 16 tháng Năm năm 1160. Hết thảy giáo dân đã kéo đến tỏ lòng cảm mến tri ân ngài. Họ khóc thương và cầu khẩn thánh Ubal từ trời xin hãy phù trợ họ.

 Nhiều lần, chúng ta dễ tức giận và khó tha thứ cho tha nhân khi họ xúc phạm đến chúng ta. Chúng ta hãy cầu xin với thánh Ubal cho được sống hiền lành và dễ tha thứ như ngài.  

 

Ngày 17 tháng 5

Thánh Pascal Baylon

Pascal Baylon là vị thánh người Tây Ban Nha, sinh năm 1540. Ngài phải chăn giữ đàn chiên từ khi lên bảy tuổi. Tuy Pascal Baylon chẳng có cơ hội để đi học nhưng ngài đã tự học đọc và học viết. Pascal Baylon làm việc này phần lớn là do sự giúp đỡ của những người ngài gặp gỡ. Thánh Pascal Baylon đã gắng sức rèn luyện để có thể đọc được các sách đạo đức. Ngài thường thầm thĩ cầu nguyện suốt ngày khi chăn giữ đàn chiên.

Khi lên hai mươi bốn tuổi, anh chàng giữ chiên này trở thành thầy dòng Phanxicô. Các bạn cùng chí hướng với Pascal Baylon rất quý mến ngài. Pascal Baylon có tấm lòng quảng đại rộng mở và dễ tính. Mọi người trong cộng đoàn đều nhận thấy Pascal Baylon thường làm những công việc khó khăn và vất vả nhất. Thậm chí ngài thực hành việc đền tội nghiêm ngặt hơn cả luật dòng đòi buộc. Tuy nhiên, Pascal rất sung sướng hạnh phúc. Khi còn là cậu bé chăn chiên, Pascal đã ao ước được ở trong nhà thờ cầu nguyện với Đức Chúa Giêsu nhưng không được. Giờ đây, Pascal đã có thể. Ngài yêu thích được làm bạn với Đức Chúa Giêsu đang ẩn thân trong phép Thánh Thể. Pascal Baylon cũng được vinh dự làm người giúp lễ. Hai mối tình đặc biệt của thánh Pascal Baylon là Chúa Giêsu Thánh Thể và Đức Mẹ Maria. Thánh nhân đọc kinh Mân Côi hằng ngày với lòng yêu mến sâu xa. Ngài cũng viết những lời nguyện sốt sắng dâng kính Mẹ thiên đàng.

Với những mẩu giấy vụn, thánh Pascal Baylon đã tự mình làm thành một quyển sổ tay nhỏ. Trong đó, thánh nhân viết một số lời nguyện và những tư tưởng hay. Sau khi Pascal Baylon qua đời, bề trên của ngài đã trình cuốn sổ nhỏ lên đức tổng giám mục địa phương. Đức tổng đã đọc và nói rằng: “Thật các tâm hồn đơn sơ dốt nát này đã cướp nước trời từ tay chúng ta!”

Pascal Baylon về trời năm 1592, hưởng thọ năm mươi hai tuổi. Đến năm 1690, đức thánh cha Alêxanđơ VIII đã tôn phong Pascal Baylon lên bậc hiển thánh.

Phải làm điều gì để trở nên một vị thánh? Pascal Baylon đã sống ơn gọi tu trì của mình cách hoàn hảo hết sức có thể. Ngài có được nghị lực để thực hiện việc này là nhờ lòng trung thành tôn sùng Chúa Giêsu Thánh Thể và yêu mến Đức Mẹ Maria. Chúng ta hãy nài xin thánh Pascal Baylon giúp chúng ta sống thân mật với Chúa Giêsu Thánh Thể và Mẹ Maria hơn.

 

Ngày 18 tháng 5

Thánh Gioan I

Thánh Gioan I là linh mục của Rôma. Năm 523, thánh nhân làm giáo hoàng tiếp sau đức thánh giáo hoàng Hormisđa. Lúc ấy, nhà cầm quyền nước Ý là Thêôđôric, thuộc gốc người Gôtíc, theo bè rối Ariô. (Những người theo bè rối Ariô không tin nhận Đức Chúa Giêsu là Thiên Chúa.) Khởi đầu triều đại của mình, Thêôđôric đã để cho các tín hữu Công giáo được tự do. Tuy nhiên về sau, ông thay đổi ý định và trở nên kiêu căng nghi ngờ hết mọi người. Ông mường tượng ra có một âm mưu nào đó đang chống đối ông. Ít lâu sau, ông lại tin rằng tất cả mọi người đang chuẩn bị lật đổ ngai vàng và quyền cai trị của ông. Nhưng có một người chắc chắn không muốn điều đó là đức thánh cha.

Thêôđôric cố gắng làm cho đức thánh cha Gioan I can dự vào những vấn đề chính trị của ông. Ông đang có chuyện bực tức với hoàng đế Justinô I thành Constantinốp. Người ta đồn đại rằng Justinô I đang khó chịu với những người theo bè rối Ariô ở Đông phương. Thêôđôric cho người đại diện đến thương lượng với Justinô I. Đứng đầu đoàn đại biểu là giáo hoàng Gioan I. Hoàng đế Justinô I vui sướng tiếp đón đức thánh cha và những người đồng hành với ngài. Justinô I rất sẵn lòng thay đổi chính sách hà khắc của ông. Tuy sứ vụ của đức thánh cha Gioan I được hoàn thành hết sức tốt đẹp nhưng hoàng đế Thêôđôric vẫn không hài lòng. Ông tưởng đức thánh cha Gioan I và Justinô I hợp nhau chống lại ông. Rồi, đức thánh cha trở về Rôma và phải rời xa Ravenna, thủ phủ của Thêôđôric. Sau đó, đức thánh cha Gioan I đã bị các vệ sĩ của Thêôđôric bắt cóc và bỏ tù. Thánh nhân đã qua đời vì khát và đói ở đó năm 526.

 Có bao giờ chúng ta nhận thấy mình nghĩ tưởng những điều xấu xa cho tha nhân không? Đó là lúc chúng ta cần cầu xin với thánh giáo hoàng Gioan I. Thánh nhân sẽ giúp chúng ta tránh được lỗi lầm khủng khiếp là thói để cho những tư tưởng ghen tị và sai lầm điều khiển các hành động của chúng ta. Thánh giáo hoàng Gioan I sẽ hướng dẫn chúng ta biết cách trở nên những Kitô hữu can trường và quả cảm như ngài.

 

Ngày 19 tháng 5

Thánh Celestinô V

Phêrô Môrôn là con thứ mười một trong gia đình có mười hai người con. Ngài được sinh khoảng năm 1210 ở Isênia, nước Ý. Thân phụ của Phêrô qua đời khi ngài còn rất nhỏ. Tuy gia cảnh nghèo khó nhưng thân mẫu của Phêrô vẫn cố gắng nuôi dạy các con với một tình yêu thương đặc biệt. Bà cho Phêrô đi học bởi vì cậu hứa là quyết chăm chỉ học hành. Lần kia bà hỏi các con như thường lệ: “Ai trong các con sẽ làm thánh?” Cậu nhỏ Phêrô, người sẽ là giáo hoàng Celestinô V sau này, trả lời với tất cả tấm lòng của mình: “Mẹ ơi! Chính con, con sẽ làm thánh!” Và Phêrô Môrôn đã là thánh! Nhưng thật không dễ dàng chút nào!?

Lúc hai mươi tuổi, Phêrô Môrôn trở thành một ẩn sĩ. Ngài đã trải qua những chuỗi ngày cầu nguyện, đọc Kinh Thánh và làm việc. Các vị ẩn sĩ khác vẫn đến xin Phêrô Môrôn hướng dẫn. Sau cùng, Phêrô Môrôn thiết lập một dòng tu mới.

Khi tám mươi tư tuổi, Phêrô Môrôn được chọn làm giáo hoàng. Nhưng sự việc xảy ra thật lạ thường. Suốt hai năm trời, tòa thánh Vatican trống ngôi giáo hoàng. Lý do là vì các hồng y không đồng ý chọn ai cả. Phêrô Môrôn gởi cho các vị một bức tâm thư. Ngài khuyên các vị hãy quyết định nhanh chóng vì Thiên Chúa không hài lòng với việc trì hoãn lâu dài như vậy. Các hồng y đã thực hiện như lời vị tu sĩ nói. Ngay lúc ấy, họ chọn ẩn sĩ Phêrô Môrôn làm giáo hoàng! Vị tu sĩ khó nghèo đã rơi lệ khi nghe biết tin này. Phêrô Môrôn buồn bã chấp nhận và lấy tên hiệu là Celestinô V.

 Thánh Celestinô V làm giáo hoàng chỉ được khoảng năm tháng. Vì quá khiêm tốn đơn sơ nên người ta đã lợi dụng ngài. Celestinô V không thể nói “không” với bất cứ ai. Chẳng bao lâu đã có sự lộn xộn đáng lo ngại. Đức thánh cha Celestinô V cảm thấy bị ràng buộc bởi mọi khó khăn trắc trở. Ngài quyết định chọn một việc tốt nhất mà ngài có thể làm được cho Giáo hội là xin từ chức. Và Celestinô V đã thực hiện. Thánh nhân xin mọi người tha thứ vì đã không cai quản Giáo hội cách chu đáo như lòng mong ước.

Thánh Celestinô V chỉ muốn sống an bình tại một trong các tu viện của ngài. Nhưng đức tân giáo hoàng Bôniphaxiô VIII nghĩ rằng để ngài sống ẩn mình trong căn phòng nhỏ của một lâu đài Rôma thì an toàn hơn. Thánh Celestinô V đã sống mười tháng cuối cùng của đời ngài trong một căn phòng đơn sơ giản dị. Nhưng thánh nhân đã rất vui. Ngài tự nhắc đi nhắc lại với mình rằng: “Hỡi Phêrô, anh chỉ mong muốn sống trong một căn phòng nhỏ bé... Giờ này anh đã được mãn nguyện rồi đó!” Celestinô V qua đời ngày 19 tháng Năm năm 1296. Đến năm 1313, Celestinô V được đức thánh cha Clêmentê VI tôn phong hiển thánh.

Thánh Celestinô V là một tu sĩ đặc biệt. Cách thức thánh nhân sẵn lòng giơ tay đón nhận lấy đau khổ khi làm giáo hoàng chứng tỏ rằng ngài thực sự thánh thiện. Thánh Celestinô V chỉ cho chúng ta biết rằng khi chúng ta đã hết sức cố gắng làm một việc gì đó, chúng ta hãy phó dâng kết quả cho Thiên Chúa và hãy cứ an tâm.

 

 

Ngày 20 tháng 5

Thánh Bênađinô Siêna

Thánh Bênađinô Siêna sinh năm 1380 tại một thị trấn gần thành phố Siêna, nước Ý. Ngài là con trai của một nhà chức sắc người Ý. Song thân Bênađinô qua đời khi ngài mới lên bảy. Những người bà con của Bênađinô quý mến ngài như con ruột của họ. Họ cũng cho Bênađinô ăn học đến nơi đến chốn. Bênađinô trưởng thành với dáng vẻ một cậu trai cao to đĩnh đạc. Bênađinô có tính pha trò nên các bạn bè của Bênađinô thích được ở bên ngài. Tuy nhiên, họ biết rằng không nên nói bất cứ lời thô tục nào khi có sự hiện diện của Bênađinô, vì ngài sẽ không khoan thứ cho điều ấy. Hai lần khi một gã thanh niên kia dụ dỗ Bênađinô phạm tội, cả hai lần Bênađinô đã tặng cho hắn một quả đấm và đuổi hắn đi.

Thánh Bênađinô Siêna có một tình yêu đặc biệt nồng nàn đối với Đức Trinh Nữ Maria. Chính Đức Mẹ là Đấng gìn giữ tâm hồn ngài trong sạch. Ngay khi còn ở tuổi niên thiếu, thánh Bênađinô Siêna đã đơn sơ cầu nguyện với Đức Mẹ y như một con trẻ thưa truyện với mẹ nó vậy.

Bênađinô Siêna có tâm hồn nhạy cảm. Ngài rất thương mến những người nghèo khổ. Lần kia, người cô của Bênađinô Siêna không còn thức ăn cho thêm một người hành khất nữa, cậu bé liền la lớn tiếng: “Thà con chịu bỏ đói còn hơn là để cho người đàn ông đáng thương ấy phải ra đi mà chẳng được chút gì!” Năm 1400, khi cơn dịch tả tấn công thành phố, thánh Bênađinô và các đồng bạn của ngài đã tình nguyện tới giúp bệnh viện. Họ ngày đêm săn sóc những người đau yếu và hấp hối suốt sáu tuần lễ cho tới khi cơn dịch chấm dứt.

Khi lên hai mươi hai tuổi, Bênađinô Siêna gia nhập dòng thánh Phanxicô khó khăn. Rồi Bênađinô Siêna làm linh mục. Sau nhiều năm phục vụ, thánh nhân được chỉ định tới các thị trấn và thành phố rao giảng. Thánh Bênađinô Siêna đã nhắc nhớ cho mọi người về lòng yêu thương của Đức Chúa Giêsu. Trong những ngày ấy, các thói xấu làm suy vi tinh thần đạo đức của cả người già lẫn con trẻ. “Làm sao con có thể tự mình cứu lấy những người này?” trong lời kinh, Bênađinô Siêna đã hỏi Thiên Chúa. “Con có thể dùng thứ vũ khí nào để chống lại ma quỷ?” và Thiên Chúa trả lời: “Thánh Danh Ta đủ cho con!” Vì thế, Bênađinô Siêna đã rao giảng lòng tôn sùng Thánh Danh Chúa Giêsu. Ngài sử dụng Thánh Danh này rất nhiều lần trong mỗi bài giảng. Thánh nhân xin người ta in Thánh Danh Chúa Giêsu và dán trên các cổng ra vào của thành phố, trên khắp các cánh cửa... Nhờ việc tôn sùng Thánh Danh Chúa Giêsu và lòng sùng kính Mẹ Maria, Bênađinô Siêna đã đem hàng ngàn người trên khắp nước Ý trở về với Giáo hội.

Thánh Bênađinô Siêna đã trải qua bốn mươi hai năm trong đời tu dòng Phanxicô. Thánh nhân qua đời ngày 20 tháng Năm năm 1444 tại Aquila, nước Ý, hưởng thọ sáu mươi tư tuổi. Chỉ sáu năm sau, năm 1450, Bênađinô Siêna được đức thánh cha Nicôla V tôn phong hiển thánh.

 Thánh Bênađinô Siêna đã thực sự quan tâm đến mọi người. Thánh nhân đã dùng tất cả nghị lực và niềm vui của mình để phục vụ Đức Chúa Giêsu và làm cho người ta yêu mến Thánh Danh Chúa. Chúng ta cũng hãy năng cầu xin “Thánh Danh Chúa Giêsu.”

 

 

Ngày 21 tháng 5

Chân phước Êugiêniô Magiênô

Chân phước Êugiêniô Magiênô sinh tại Pháp năm 1782. Ngài được thụ phong linh mục năm 1811. Cha Êugiêniô Magiênô rất có lòng thương cảm đối với hoàn cảnh khó khăn của những người dân nghèo; và ngài đã giúp đỡ họ. Êugiêniô Magiênô luôn nhiệt tình xoay sở tìm những phương cách mới để vươn tới với giới trẻ. Ngài muốn họ yêu mến và sống đức tin của mình. Cha Êugiêniô Magiênô nhận thấy rằng các linh mục thừa sai trong mỗi xứ đạo có thể làm được rất nhiều việc ích lợi để thức tỉnh giáo dân trung thành giữ vững đức tin.

Năm 1826, cha Êugiêniô Magiênô thiết lập một hội dòng mới dành cho các linh mục và các anh em giáo dân. Họ được gọi là những nhà truyền giáo thuộc tu hội Tận Hiến Đức Mẹ Vô Nhiễm. Sứ mệnh đặc biệt của họ là tiếp cận với những người chưa nhận biết Đức Chúa Giêsu và Giáo hội. Cha Magiênô và các anh em dòng ngài đã tỏ ra can đảm trong việc đáp ứng những lời thỉnh cầu của các đức giám mục đang cần sự giúp đỡ. Các giám mục ở Bắc Mỹ thao thức đợi chờ anh em hội dòng. Giám mục Inhaxiô Bơget giáo phận Montriơ đặc biệt thao thức hơn. Ngài rất hài lòng vì vị sáng lập đã gởi nhiều anh em của ngài đến đây phục vụ. Chỉ trong vòng mười năm, hội dòng đã phát triển mau lẹ. Họ phục vụ khắp đất nước Canađa và cũng bắt đầu thi hành thừa tác vụ ở Mỹ quốc.

Năm 1837, cha Êugiêniô Magiênô được tấn phong làm giám mục giáo phận Mácxây, nước Pháp. Ngài nổi tiếng về lòng trung thành và yêu mến đức thánh cha. Ngài cũng là nhà giáo dục và là một nhà tổ chức có tài. Giám mục Êugiêniô Magiênô vẫn làm bề trên của hội dòng cho đến khi qua đời năm 1861.

Công việc cao cả mà đức giám mục Êugiêniô Magiênô đã khởi xướng ngày nay vẫn còn được tiếp tục trên khắp thế giới qua các vị thừa sai thuộc hội dòng Tận Hiến Đức Mẹ Vô Nhiễm. Họ phục vụ tại các điểm truyền giáo, các giáo xứ và các trường đại học.

Đức giám mục Êugiêniô Magiênô đã can đảm đáp ứng những đòi hỏi thiết yếu của dân Chúa khi ngài gặp gỡ họ. Chúng ta hãy nài xin giám mục Êugiêniô Magiênô giúp chúng ta ý thức rằng chúng ta cũng có thể giúp đỡ những người sống chung quanh mình.

 

Ngày 22 tháng 5

Thánh Rita Cassia

Thánh nữ Rita Cassia sinh năm 1381 trong một ngôi làng nhỏ bên nước Ý. Song thân của thánh nữ dù đã cao niên nhưng vẫn chưa sinh được mụn con nào. Họ nài xin Thiên Chúa ban cho một người con và Thiên Chúa đã nhận lời. Song thân dưỡng dục Rita hết sức chu đáo. Khi lên mười lăm tuổi, Rita Cassia muốn đi tu nhưng song thân lại quyết rằng ngài phải lập gia đình. Người đàn ông mà họ chọn cho Rita có một tính tình dễ nóng giận. Tuy vậy, suốt mười tám năm trời, người vợ đã kiên nhẫn đón nhận lấy tất cả mọi hành động xúc phạm của chồng. Sau cùng, những lời nguyện cầu, sự dịu dàng và đức hạnh của Rita Cassia đã biến đổi con tim người chồng. Ông xin lỗi Rita vì cách thức ông đã đối xử bấy lâu nay; và ông đã hoán cải trở về với Thiên Chúa.

Niềm vui sướng hạnh phúc của Rita Cassia qua sự cải tà quy chính của người chồng chưa kéo dài được bao lâu thì một ngày kia, ông bị ám sát. Rita Cassia xúc động và tan nát cõi lòng. Nhưng thánh nữ đã tha thứ cho những kẻ giết chồng ngài và cố gắng thuyết phục hai con trai mình cũng tha thứ cho họ.

Tuy vậy, Rita Cassia nhận thấy các con quyết định trả thù cho cái chết của người cha. Rita Cassia đã cầu xin cho các con thà chết còn hơn là phạm tội sát nhân. Rồi trong vòng vài tháng, cả hai người con đều ngã bệnh trầm trọng. Thánh nữ Rita đã âu yếm chăm sóc chúng. Suốt thời gian chúng chịu bệnh, thánh nữ đã thuyết phục chúng hãy tha thứ và ngài cũng tin là Thiên Chúa đã tha thứ cho chúng. Hai người con bằng lòng và cả hai đã qua đời trong an bình.

Giờ đây, người chồng và các con của Rita đã chết. Chỉ còn lại một mình thánh nữ trên cõi đời này! Rita đã ba lần cố gắng xin vào một tu viện ở thành Cassia. Nhưng luật dòng không cho phép một phụ nữ đã có chồng được gia nhập hội dòng ngay cả khi người chồng đã qua đời. Tuy nhiên, Rita Cassia nhẫn nại chờ đợi và không tuyệt vọng. Cuối cùng, các nữ tu đã ban một phép ngoại lệ và đã nhận Rita Cassia vào dòng. Trong chốn viện tu, Rita Cassia nổi bật về hai nhân đức vâng lời và bác ái. Thánh nữ có lòng sùng kính rất đặc biệt đối với Chúa Giêsu Tử Nạn. Một lần kia, trong lúc cầu nguyện, Rita Cassia xin Đức Chúa Giêsu cho mình được chia sẻ một chút đau đớn của Chúa. Lập tức, một chiếc gai nhọn từ vòng gai của Chúa Giêsu nảy ra đâm xuyên qua vầng trán của Rita và gây cho ngài một nỗi đau không bao giờ lành. Thật vậy, sự việc trở nên tồi tệ vì đem lại một dấu vết làm cho thánh nữ Rita Cassia phải xa tránh mọi người. Nhưng thánh nữ cảm thấy rất hạnh phúc vì được chịu đau khổ để bày tỏ lòng yêu mến của mình đối với Đức Chúa Giêsu.

Thánh nữ Rita Cassia qua đời ngày 22 tháng Năm năm 1457, hưởng thọ bảy mươi sáu tuổi. Như thánh nữ Giuđê, thánh nữ Rita Cassia thường được người ta gọi là “vị thánh không thể.”

 Có thể chúng ta biết được có một ai đó hiện đang sống xa lìa Thiên Chúa. Chúng ta hãy nài xin thánh nữ Rita Cassia giúp người ấy. Chúng ta cũng hãy nài xin thánh nữ Rita Cassia giúp chúng ta biết cách cầu nguyện cho người ấy.

 

Ngày 23 tháng 5

Thánh Gioan Baotixita Rôsi

Thánh Gioan Baotixita Rôsi sinh năm 1698 tại một ngôi làng gần Giơnoa, nước Ý. Gia đình Gioan rất quý mến ngài. Họ hãnh diện khi một đôi vợ chồng giàu có tới thăm thành phố của họ nhận cung cấp cho Gioan ăn học. Song thân Gioan biết vợ chồng này và tin tưởng họ. Gioan sung sướng vì có thể được đi đến nhà họ ở Giơnoa; và sau đó có thể tham dự lớp học. Mọi sự xảy đến cho Gioan thật xuôi xắn. Gioan trở thành một sinh viên chuẩn bị cho thiên chức linh mục tại học viện Rôma. Gioan nhận thấy đối với ngài việc học thật dễ dàng; và càng ngày Gioan càng thu lượm được thêm nhiều kiến thức.

Nhưng rồi Gioan Baotixita Rôsi ngã bệnh rất nặng và phải ngưng việc học một thời gian. Sau khi hoàn toàn bình phục, Gioan đã hoàn tất việc dọn lòng và được lĩnh chức linh mục. Dù sức khỏe không được khá lắm nhưng cha Gioan Baotixita Rôsi đã làm nhiều việc tốt cho người dân Rôma. Biết được đau khổ và bệnh tật là thế nào nên cha Gioan Baotixita Rôsi đã lưu tâm đặc biệt đến những người yếu bệnh. Ngài năng lui tới các bệnh viện ở Rôma. (Ngài là vị khách hay đến các bệnh viện ở Rôma nhất.) Đặc biệt cha Rôsi thích trải qua hàng giờ ở “nhà nghỉ thánh Gal” với những người nghèo khổ. Đây là nơi trú ngụ cho những người nghèo và những người vô gia cư. Thế nhưng cha Rôsi thích để tâm tới những người nghèo mà không ai chăm lo cho tinh thần của họ. Cha nhận thấy những người này mang chiên cừu và gia súc đến bán nơi hội chợ Rôma. Họ có đời sống thật nặng nề chừng nào! Cha Rôsi tiến đến giữa họ rồi ngừng lại nói chuyện với họ. Khi có thể, cha chỉ dạy họ đức tin và ban bí tích Hòa giải cho họ. Sứ vụ linh mục của cha Rôsi đã tạo được một thành quả lớn trong đời sống của họ.

Vị linh mục cũng có tấm lòng thương cảm sâu xa đối với các chị em vô gia cư. Ngày đêm họ lang thang qua các đường phố chầu chực xin ăn. Vấn đề này rất nguy hiểm và đáng thương thay! Đức thánh cha đã trao cho cha Rôsi tiền bạc để thiết lập một chỗ cư trú cho các chị em vô gia cư này. Khu nhà được xây cất ngay bên nhà nghỉ thánh Gal. Cha Rôsi đặt ngôi nhà dưới sự bảo trợ của thánh Luy Gonzaga, một trong các vị thánh mà ngài yêu thích. Lễ kính thánh Luy Gonzaga được mừng vào ngày 21 tháng Sáu. Cha Rôsi rất nổi tiếng về lòng khoan dung và dịu dàng trong việc ban bí tích Hòøa giải. Giáo dân xếp thành các hàng dài gần tòa giải tội của cha và nhẫn nại chờ đến lượt mình. Lần kia, cha Rôsi tâm sự với một người bạn: “Đối với một linh mục, phương thế hữu hiệu nhất để lên thiên đàng là giúp đỡ giáo dân qua bí tích Hòa giải.” Đức thánh cha Bênêđictô XIV cũng trao cho cha Rôsi một công việc lý thú nữa là giảng dạy các khóa học về tinh thần cho những người cai tù và những viên chức nhà nước.

Cha Gioan Baotixita Rôsi bị chứng đột quỵ năm 1763. Sức khỏe của cha chẳng sao hồi phục lại được. Cha Gioan Baotixita Rôsi vẫn có thể cử hành thánh lễ nhưng rất đau đớn. Vị linh mục phi thường này qua đời lúc được sáu mươi sáu tuổi. Đó là ngày 23 tháng Năm năm 1764. Đến năm 1881, đức thánh cha Lêô XIII tôn phong cha Gioan Baotixita Rôsi lên bậc hiển thánh.

Chúng ta có thể học được nơi đời sống của thánh Gioan Baotixita Rôsi lòng biết ơn đối với các linh mục. Chúng ta cũng có thể cầu nguyện với vị thánh này và xin ngài an ủi các linh mục vì những điều thiện hảo mà các ngài trao ban.

 

Ngày 24 tháng 5

Thánh Đavít I Scốtlen

Thánh Đavít I sinh năm 1080. Ngài là người con út của thánh nữ Magarita, hoàng hậu xứ Scốtlen và vua Malcom tốt lành. Chính Đavít I cũng làm vua lúc khoảng bốn mươi tuổi. Ai biết rõ Đavít I thì đều nhận thấy rằng ngài chẳng muốn nhận lấy vương miện của hoàng gia chút nào. Nhưng khi lên ngôi, Đavít I đã là một quân vương rất tốt. Thánh Đavít I cai trị vương quốc ngài với quyền tài phán đặc biệt. Thánh nhân rất có lòng từ tâm độ lượng với những người nghèo khổ. Hết mọi thần dân được tự do thăm viếng ngài bất cứ lúc nào họ muốn. Thánh nhân nêu gương sáng cho mọi người bằng tấm lòng yêu mến cầu nguyện. Dưới sự trị vì của quân vương thánh thiện này, thần dân xứ Scốtlen càng ngày càng hiệp nhất hơn trong một đất nước. Họ cũng trở nên những Kitô hữu ngoan đạo hơn.

Vua Đavít I đã thiết lập nhiều giáo phận mới. Ngài cũng xây cất thêm nhiều tu viện. Trong thời gian khoảng hai mươi năm trị vì của mình, thánh vương Đavít I đã cung cấp cho Giáo hội rất nhiều tiền của.

Hai ngày trước khi qua đời, thánh Đavít I đã lãnh nhận các phép bí tích sau cùng. Thánh nhân dùng thời giờ cầu nguyện với những người hiện diện xung quanh ngài. Ngày hôm sau, họ nài xin thánh nhân nghỉ ngơi đôi chút. Nhưng Đavít I trả lời: “Hãy để ta tưởng nghĩ tới những sự thuộc về Thiên Chúa, để linh hồn ta được kiện toàn trên hành trình tiến về quê nhà từ nơi lưu đày này.”

“Về quê nhà,” thánh vương Đavít I có ý nói đến “quê nhà trên trời” của chúng ta. “Khi ta đứng trước ngai tòa Thiên Chúa, các người đâu có thể trả lời hay biện hộ thay ta được,” ngài nói. “Không ai có thể cứu ta khỏi tay Thiên Chúa được!” Vì thế, thánh nhân cứ tiếp tục cầu nguyện cho tới lúc qua đời. Thánh Đavít I Scốtlen về trời ngày 24 tháng Năm năm 1153.

Chúng ta có thể bị cám dỗ tự khoan thứ cho những lầm lỗi của mình bằng cách nói: “Người ta cũng đều làm như vậy mà!” Nhưng chúng ta biết rằng sự tự miễn thứ này chẳng có giá trị gì khi chúng ta đứng chịu phân xử trước nhan Thiên Chúa. Chúng ta có thể nài xin thánh vương Đavít I Scốtlen giúp chúng ta có được tấm lòng chân thành và lương thiện như ngài trong mối tương quan giữa chúng ta với Thiên Chúa.

 

 

Ngày 25 tháng 5

Lịch Rôma hiện hành ghi danh sách ba vị thánh mừng kính ngày 25 tháng Năm. Chúng tôi xin trình bày ngắn gọn tích truyện các ngài ở đây, lần lượt từng vị một.

 

Thánh Bêđa khả kính

Vị linh mục người Anh này nổi danh là một vị thánh, một linh mục, một đan sĩ, một thầy dạy và một nhà viết sử. Thánh nhân được sinh tại Anh quốc vào năm 673. Song thân Bêđa gởi ngài tới đan viện Bênêđictô ở miền ấy để học hành. Bêđa rất yêu thích đời sống của các đan sĩ đến nỗi khi lớn lên, thánh nhân đã đi tu làm đan sĩ. Bêđa đã lưu lại đan viện ấy trọn cả cuộc đời của ngài.

Thánh Bêđa rất yêu mến Kinh Thánh. Ngài nói rằng việc nghiên cứu Kinh Thánh đối với ngài quả thật là một niềm khoái thú. Bêđa thích giảng dạy và ghi chép Kinh Thánh. Khi về già, bệnh tật đã bắt Bêđa phải ở yên trên giường. Vì thế, các học trò của Bêđa phải đến học bên giường của ngài. Thánh Bêđa tiếp tục dạy học và làm công việc chuyển dịch bộ Phúc âm của thánh Gioan sang tiếng Anh – vì nhiều người không thể đọc được tiếng Latinh. Thánh nhân muốn họ có thể đọc được lời Chúa bằng chính ngôn ngữ riêng của họ.

Khi yếu bệnh hơn, thánh Bêđa nhận thấy mình sắp về với Thiên Chúa. Các đan sĩ thương nhớ Bêđa nhiều lắm. Ngài vẫn tiếp tục kiên trì làm việc ngay cả khi bệnh tình trở nên nguy kịch. Sau cùng, cậu bé giúp ghi chép nói với ngài: “Thưa cha, chỉ còn một câu nữa chưa được chép lại thôi!” Vị thánh trả lời: “Hãy viết mau đi!” và khi cậu bé nói: “Đã hoàn tất,” thánh nhân liền trả lời: “Tốt lắm! Được rồi, đã hoàn tất. Bây giờ hãy nâng đầu cha lên. Cha muốn được ngồi nhìn về chỗ mà cha thường hay cầu nguyện. Cha muốn réo gọi Cha trên trời của cha!”

Sau đó ít lâu, thánh Bêđa qua đời. Hôm ấy là ngày 25 tháng Năm năm 735. Cuốn sách nổi tiếng nhất của thánh Bêđa có nhan đề Lịch sử Giáo hội của dân tộc Anh là nguồn tài liệu cung cấp thông tin duy nhất về nhiều vấn đề lịch sử của Anh quốc thời sơ khai. Người ta gọi Bêđa bằng danh xưng kính trọng: “đấng khả kính.” Ngài cũng được Giáo hội tôn nhận là Tiến sĩ Hội Thánh.

 Nếu đấng khả kính Bêđa còn sống, bạn thử nghĩ coi ngài sẽ dùng bao nhiêu giờ để xem tivi mỗi ngày? Hằng ngày, bạn dùng mấy tiếng đồng hồ để xem tivi? Bạn sẽ phải điều chỉnh những gì để dùng thời giờ cho những việc quan trọng như học hành, tham khảo tài liệu sách vở để tăng thêm kiến thức, phụ giúp công việc gia đình v.v ...? 

 

Thánh Grêgôriô VII

Tên của vị giáo hoàng này là Hilđơbran. Ngài được sinh tại nước Ý vào khoảng năm 1023. Người cậu của Hilđơbran là một đan sĩ ở Rôma; vì thế, Hilđơbran đã đến đan viện của cậu để học hành. Sau này, Hilđơbran trở thành một đan sĩ thuộc nhà dòng Bênêđictô ở Pháp. Tuy nhiên chẳng bao lâu, Hilđơbran được gọi về Rôma. Tại đây, Hilđơbran nắm giữ những chức vụ rất quan trọng dưới nhiều triều đại giáo hoàng cho tới khi chính ngài được chọn làm giáo hoàng.

Suốt hai mươi lăm năm, Hilđơbran đã xin từ chối được bầu chọn. Nhưng khi đức thánh cha Alêxanđơ II qua đời, các hồng y đã quyết định chọn Hilđơbran làm giáo hoàng. Họ đồng thanh kêu lớn tiếng: “Hilđơbran là người được tuyển chọn kế vị thánh Phêrô!” “Và họ đã đưa tôi lên ngai,” vị thánh viết sau đó. “Những lời phản đối của tôi thật vô hiệu. Sợ hãi tràn ngập tâm hồn tôi và bóng tối vây hãm quanh tôi!” Hilđơbran lấy tên hiệu là Grêgôriô VII.

Đây thực sự là một thời kỳ đen tối đối với Giáo hội Công giáo. Vua chúa xen vào làm cản trở những vấn đề thuộc Giáo hội. Họ tự ý đặt lấy một số người làm giám mục, hồng y và cả giáo hoàng nữa. Nhiều người trong số được bổ nhiệm chẳng có đời sống tốt lành. Họ chỉ làm gương xấu cho giáo dân mà thôi!

Việc đầu tiên mà thánh giáo hoàng Grêgôriô VII làm là dùng nhiều ngày cầu nguyện. Thánh nhân cũng xin người khác cầu nguyện cho ngài. Grêgôriô VII nhận thấy rằng nếu không cầu nguyện, thì không thể làm được việc gì tốt cho Thiên Chúa. Sau đó, thánh Grêgôriô VII bắt đầu công việc canh tân giới tu sĩ. Ngài cũng dần dần loại bỏ những nhà cầm quyền chính trị ra khỏi những công việc thuộc quyền Giáo hội. Điều này rất khó bởi vì tất cả các chính trị gia đều chống lại sự thay đổi của ngài. Tuy nhiên, có một số vị đã nhượng bộ.

Có một chính trị gia, vua Henri IV của nước Đức, đã gây cho đức thánh cha Grêgôriô VII rất nhiều đau khổ. Ông vua trẻ này có tội mê tham vàng bạc. Không những ông chẳng ngưng việc xen vào những vấn đề của Giáo hội mà thậm chí ông còn sai người đến bắt giam đức thánh cha. Nhưng dân thành Rôma đã cứu thánh nhân thoát khỏi chốn ngục tù. Sau đó, đức thánh cha Grêgôriô VII phạt vạ tuyệt thông nhà vua. Việc này chẳng ăn nhằm gì đối với Henri IV hết! Ông tự chọn cho mình một giáo hoàng. Dĩ nhiên, người được ông chọn không phải là thủ lãnh thật. Thế rồi, một lần nữa, vua lại sai quân đi bắt thánh nhân. Đức thánh cha Grêgôriô VII bị ép phải rời bỏ Rôma. Người ta đã đem ngài tới Salênô cách an toàn và ngài đã qua đời tại đây năm 1085. Thánh nhân nói những lời sau cùng: “Tôi đã yêu mến công bình và ghét bỏ sự dữ. Đó là lý do tại sao tôi phải chết ở chốn lưu đày này!” Năm 1606, đức thánh cha Phaolô V đã tôn Grêgôriô VII lên bậc hiển thánh.

Đức thánh cha Grêgôriô VII (Hilđơbran) nổi tiếng vì tư chất can đảm phi thường. Ngài đã bảo vệ niềm tin vào Đức Chúa Giêsu và Giáo hội của Người. Nếu chúng ta muốn là những Kitô hữu nhiệt thành thời nay, chúng ta cũng phải can đảm. Nhờ lời cầu nguyện, vị thánh này đã có được sự can đảm. Chúng ta cũng hãy bắt chước gương cầu nguyện của thánh nhân.

 

Thánh Maria Mađalêna Pazzi

Catarina Pazzi sinh tại Florentia, nước Ý, vào năm 1566. Thánh nữ là cô gái duy nhất của một gia đình rất giàu có. Khi lên mười bốn tuổi, Catarina Pazzi đến học nội trú tại một trường dòng. Ở đó, thánh nữ đã hấp thụ lòng mộ mến đời sống tu trì. Nhưng khoảng một năm sau, Catarina Pazzi được thân phụ đưa về nhà. Ông bắt đầu nghĩ đến việc chọn cho Catarina một người chồng giàu sang. Tuy nhiên, Catarina Pazzi đang chuẩn bị tâm hồn để trở nên một nữ tu. Catarina Pazzi làm cho cha mẹ của ngài hoảng hồn bằng cách nói rằng mình đã tuyên khấn giữ đức trinh khiết. Họ không thể tin nổi điều này! Sau cùng, song thân cũng đành chấp nhận để cho Catarina Pazzi vào tu dòng Cátminh. Tuy vậy, chỉ mười lăm ngày sau, họ lại đến bắt Catarina Pazzi về nhà. Họ hy vọng rằng lần này sẽ làm cho Catarina Pazzi thay đổi ý định. Nhưng sau ba tháng cố gắng, song thân của Catarina Pazzi đã phải nhượng bộ. Họ đành phải chúc lành và để cho Catarina Pazzi đi luôn. Đó là năm 1582, năm thánh nữ Têrêsa Avila qua đời tại Tây Ban Nha.

Khi là tập sinh, Catarina Pazzi lấy tên là Maria Mađalêna. Sức khỏe của Maria Mađalêna rất yếu. Mẹ bề trên sợ Maria Mađalêna có thể qua đời nên đã cho phép ngài được tuyên các lời khấn dòng trước hạn định. Khi thấy Maria Mađalêna đau khổ dữ dội, một trong các nữ tu hỏi ngài sao có thể chịu được nỗi đau mà chẳng ca thán lời nào. Maria Mađalêna liền trả lời: “Hãy coi tình yêu vĩ đại của Thiên Chúa đã khổ sầu vì phần rỗi chúng ta. Chính tình yêu này hiểu biết sự yếu đuối của em và ban cho em sức mạnh.”

Thánh nữ Maria Mađalêna đã chịu nhiều đau khổ đặc biệt suốt cả cuộc đời. Thánh nữ cũng bị cám dỗ rất mạnh về tội nghịch đức trinh khiết và tính ham ăn; nhưng thánh nữ Maria Mađalêna đã chiến thắng mọi sự nhờ kết hợp tình yêu mật thiết với Chúa Giêsu Thánh Thể và với Đức Mẹ Maria. Thánh nữ chỉ quen dùng chút ít bánh mì và nước lã. Thánh nữ cũng làm những việc hy sinh quên mình khác nữa. Tuy nhiên, tình yêu của Maria Mađalêna dành cho Đức Chúa Giêsu thật quá nồng nàn và mãnh liệt đến nỗi ngài nói: “Đấng Yêu Mến đã không được các thụ tạo của mình nhận biết và yêu mến!” Chìm ngập trong nước mắt, thánh nữ đã cầu nguyện và dâng những đau khổ trong suốt cuộc đời của ngài cho các tội nhân và những người vô đạo. Lần kia, Maria Mađalêna nói: “Ôi, Chúa Giêsu của con! Nếu con có một giọng nói lớn và vang đủ để cho mọi người trên khắp thế giới này nghe được, thì con sẽ hô to để mọi người nhận biết và yêu mến Chúa!”

Thánh nữ Maria Mađalêna Pazzi về trời ngày 25 tháng Năm năm 1607, lúc được bốn mươi mốt tuổi. Đến năm 1669, Maria Mađalêna Pazzi được đức thánh cha Clêmentê IX tôn phong lên bậc hiển thánh.

 Thật là hữu ích khi thỉnh thoảng chúng ta nhìn lên Tượng Chịu Nạn. Việc này làm cho chúng ta dần dà cảm hiểu được tình yêu của Đức Chúa Giêsu dành cho chúng ta. Chúng ta có thể cầu nguyện: “Lạy Chúa Giêsu! Con yêu mến Chúa. Con cám ơn Chúa đã chết thay cho con!

 

Ngày 26 tháng 5

Thánh Philipphê Nêri

Thánh Philipphê Nêri sinh năm 1515 tại Florentia, nước Ý. Tên riêng của ngài hồi còn nhỏ là “bé Phil tốt lành.” Thánh Philipphê Nêri có tính tình vui vẻ và thân thiện đến nỗi ai gặp ngài cũng đều quý mến ngài. Suốt ba năm, Philipphê Nêri nghiên cứu môn thần học và triết học; và ngài đã là một sinh viên xuất sắc. Nhưng đặc biệt Philipphê Nêri là một Kitô hữu năng động. Ngài sống đơn sơ và rất chăm chỉ. Ngài cũng làm nhiều việc tốt cho những người sống xung quanh ngài. Philipphê Nêri giúp đỡ các trẻ em, thăm viếng những người đau yếu bệnh tật, làm bạn với những người cô đơn phiền sầu. Nói tóm lại, vì tình yêu Chúa Giêsu, Philipphê Nêri đã đến với mọi người mỗi khi có thể.

Thánh Philipphê Nêri giúp thiết lập một hội giáo dân chuyên giúp đỡ và chăm lo cho những người hành hương túng nghèo. Hội này vẫn từng bước hoạt động như một bệnh xá danh tiếng tại Rôma. Vị linh mục hướng dẫn ngài nhận thấy rằng Philipphê Nêri đã hy sinh rất nhiều để giúp các Kitô hữu Rôma hâm nóng lại lòng hăng say nhiệt thành. Nhưng phải đợi đến năm ba mươi sáu tuổi, Philipphê Nêri mới có ơn kêu gọi làm linh mục. Sau đó, thánh nhân bắt đầu thi hành thừa tác vụ hết sức cao cả của mình. Mỗi ngày, Philipphê Nêri sẵn lòng dành ra nhiều giờ để ban bí tích Hòa giải. Hối dân đến xưng tội với ngài ngày một đông hơn. Nhưng cha Philipphê rất bình thản. Ngài chẳng bao giờ đánh mất đi sự nhẫn nại dịu dàng!

Giáo dân dần dần nghiệm thấy rằng đôi lúc cha Philipphê Nêri có thể đọc được tâm hồn của họ. Trong một vài trường hợp, ngài có thể tiên báo tương lai. Thiên Chúa cũng đã dùng cha Philipphê Nêri để làm những công việc lạ lùng. Nhưng trên tất cả, điều mà Philipphê Nêri muốn làm là đem Đức Chúa Giêsu đến cho tha nhân. Để tránh sự ngưỡng mộ của họ, đôi lúc cha Philipphê Nêri đã hành động cách ngớ ngẩn. Thánh nhân muốn được mọi người làm lơ và quên đi việc họ nghĩ ngài thánh thiện.

Dù vậy, trông cha Philipphê Nêri vẫn toát ra một sự khác lạ và nhờ ngài mà cả thành phố Rôma đã sống tốt lành hơn. Có lần thánh Philipphê Nêri đã nghĩ đến chuyện muốn trở nên một nhà thừa sai truyền giáo nơi các miền đất lạ. Thánh nhân bị lôi cuốn mạnh mẽ bởi gương sáng đời sống của thánh Phanxicô Xaviê, người đã mất năm 1552 tại cửa ngõ nước Trung Hoa. Philipphê Nêri chỉ mới làm linh mục được một năm thì thánh Phanxicô qua đời. Vậy thánh nhân có bỏ Rôma để tình nguyện dấn thân cho những xứ truyền giáo không? Một đan sĩ Xitô thánh thiện đã nói với ngài: “Rôma chính là vùng đất truyền giáo của cha đấy!” Sau đó, cha Philipphê Nêri thấy tâm hồn mình tràn ngập bình an.

Thánh Philipphê Nêri dùng năm năm cuối đời của ngài để ban bí tích Hòa giải cho giáo dân. Thánh nhân về trời năm 1595, hưởng thọ tám mươi tuổi. Đến năm 1622, đức thánh cha Grêgôriô XV đã tôn phong Philipphê Nêri lên bậc hiển thánh.

 Làm thế nào để chúng ta có thể sống vui tươi và khoan dung hơn? Đó không phải là điều mà hết thảy chúng ta đều thực sự mong muốn sao? Chúng ta có thể dâng một lời cầu nguyện đơn sơ lên thánh Philipphê Nêri. Thánh nhân sẽ chia sẻ với chúng ta bí quyết để sống hạnh phúc như ngài.

 

Ngày 27 tháng 5

Thánh Augustinô Cantơbơri

Thánh Augustinô Cantơbơri là đan viện phụ của đan viện thánh Anrê ở Rôma. Đức thánh cha Grêgôriô cả đã chọn ngài và bốn mươi đan sĩ khác thực hiện một sứ vụ truyền giáo cao quý. Họ sẽ đến rao giảng Tin mừng nước Chúa cho dân tộc Anh. Đan phụ Augustinô và các đan sĩ liền bắt đầu cuộc hành trình. Khi đến miền nam nước Pháp, người ta báo cho các ngài biết rằng dân Anh rất hung bạo. Các đan sĩ cảm thấy chùn chân, chán nản và thất vọng. Họ xin Augustinô trở về thưa với đức thánh cha hãy bỏ đi ý định. Và họ đã thực hiện. Nhưng đức thánh cha lại xin họ tới nước Anh một chuyến nữa. Đức thánh cha nói rằng dân Anh rất muốn lãnh nhận đức tin Công giáo. Vì thế, năm 596, các đan sĩ lại lên đường đến nước Anh.

Các vị thừa sai được vua Êtôbơ tiếp đón rất nồng hậu. Vợ của vua là một bà hoàng người Pháp theo đạo Công giáo. Khi vừa đặt chân lên đất liền, các đan sĩ đã xếp thành một cuộc rước. Họ vừa đi vừa hát thánh vịnh. Họ mang theo một cây Thánh Giá và một bức ảnh Đức Chúa Giêsu. Nhiều người đã lãnh nhận sứ điệp của các đan sĩ. Chính vua Êtôbơ cũng chịu phép Thanh tẩy vào dịp lễ Hiện Xuống năm 597. Cùng năm ấy, đan phụ Augustinô được tấn phong làm giám mục.

Thánh Augustinô thường gởi thư xin đức thánh cha những lời khuyên bảo. Và đức thánh cha Grêgôriô cũng ban cho ngài nhiều lời khuyên. Đề cập về các phép lạ thánh Augustinô Cantơbơri đã làm, đức thánh cha nói: “Con phải vui mừng trong niềm lo sợ và sợ hãi trong sự vui mừng vì hồng ân này!” Ngài có ý nói Augustinô hãy nên vui mừng vì nhờ các phép lạ mà dân Anh đã trở lại đường ngay nẻo chín nhưng cũng nên cẩn phòng để khỏi kiêu căng tự mãn.

Tại vùng Cantơbơri, thánh Augustinô xây cất một ngôi thánh đường và một đan viện mà đan viện này trở nên quan trọng nhất ở Anh. Augustinô cũng được chôn táng tại đó. Thánh Augustinô Cantơbơri qua đời ngày 26 tháng Năm năm 605, bảy năm sau cuộc hành trình đến nước Anh. 

Khi cha mẹ hoặc những vị hữu trách bảo ta làm một việc gì đó, chúng ta hãy làm. Nếu công việc dường như khó khăn hoặc giả như chúng ta không thích công việc đó, chúng ta hãy xin thánh Augustinô Cantơbơri trợ giúp.

 

Ngày 28 tháng 5

Chân phước Magarita Pôlê

Chân phước Magarita Pôlê sinh năm 1471. Ngài là cháu gái của hai vị hoàng đế người Anh, vua Edward IV và Richơ III. Henri VII đã xếp đặt cuộc hôn nhân của Magarita với bá tước Rêginô Pôlê. Ông là một sĩ quan can đảm và là bạn thân của hoàng tộc. Khi vua Henri VIII lên nắm quyền, Magarita Pôlê là quả phụ có năm người con. Đối với ngai vàng và quyền cai trị, Henri VIII vừa trẻ trung vừa mới lạ. Ông gọi Magarita Pôlê là “người phụ nữ đức hạnh nhất nước Anh.” Vì chịu ảnh hưởng sâu sắc nơi Magarita Pôlê nên Henri VIII đã trả lại một số tài sản mà gia đình Magarita Pôlê đã mất trong quá khứ. Ông cũng phong cho Magarita Pôlê danh hiệu “nữ bá tước.”

Henri VIII rất tin tưởng nữ bá tước Magarita Pôlê đến nỗi ông đã bổ nhiệm ngài làm cô giáo dạy hoàng hậu Catarina và công chúa Maria, con gái của ông. Nhưng lúc ấy Henri muốn lấy Annê Bôlây làm vợ dù ông đã có vợ rồi. Magarita không chấp nhận lối hành xử của nhà vua; và vì vậy, vua đã bắt Magarita Pôlê phải rời khỏi hoàng cung. Ông cho Magarita biết là ông rất bực mình với ngài. Thậm chí ông đã tức giận hơn khi có một linh mục, là con trai của Magarita, đã viết một bài báo dài chống lại việc đòi hỏi của Henri VIII muốn đứng đầu Giáo hội Anh quốc. (Người con trai của Magarita sau này trở thành hồng y Rêginô Pôlê danh tiếng.) Henri VIII mất hết tự chủ. Ông trở nên độc ác và căm giận. Ông đe dọa sẽ khử diệt cả gia đình Magarita Pôlê.

Henri VIII sai người đến thẩm vấn nữ bá tước Magarita Pôlê. Họ có nhiệm vụ cần phải chứng thực Magarita Pôlê là một kẻ phản quốc. Họ tra hỏi Magarita từ trưa đến tối. Magarita không hề phạm một lỗi lầm gì! Magarita chẳng có gì để che giấu! Nhưng rồi, Magarita Pôlê cũng bị quản chế tại lâu đài của một nhà quý tộc. Sau đó người ta chuyển Magarita đến pháo đài vĩ đại của Luânđôn. Magarita Pôlê chẳng được xét xử. Suốt những tháng đông dài đằng đẵng, Magarita Pôlê đã phải chịu khổ rất nhiều bởi cái giá lạnh và thời tiết ẩm thấp. Magarita Pôlê chẳng có lò sưởi và quần áo ấm để dùng.

Cuối cùng, ngày 28 tháng Năm năm 1541, người ta đem nữ chân phước Magarita Pôlê ra khỏi pháo đài đến nơi xử tử. Tuy mệt mỏi và yếu bệnh nhưng Magarita Pôlê vẫn hiên ngang và hãnh diện được chết cho đức tin của mình. “Tôi không phải là kẻ phản bội,” ngài can đảm tuyên bố. Sau đó, Magarita Pôlê bị chém đầu, hưởng thọ 70 tuổi.

Khi chúng ta cảm thấy hèn nhát về một quyết định phải làm vì vinh danh Chúa, lúc ấy chúng ta hãy kêu nài chân phước Magarita Pôlê. Hãy xin ngài ban cho chúng ta được lòng can đảm như ngài.

 

Ngày 29 tháng 5

Thánh Maximiniô

Thánh Maximiniô là giám mục sống ở thế kỷ thứ tư. Người ta cho rằng ngài sinh ở miền Poichiê, nước Pháp. Khi còn trẻ, Maximiniô nghe biết tiếng tăm của vị thánh giám mục giáo phận Triơ ở Gaul. Maximiniô đã hành trình tới thành phố này; và sau đó trở thành môn đệ của thánh Agrisiô. Vị giám mục thánh thiện này đoan chắc rằng Maximiniô đã được giáo dục kỹ lưỡng. Sau nhiều năm học hành và chuẩn bị tâm hồn, Maximiniô được thụ phong linh mục; và sau đó được tấn phong giám mục. Thánh nhân coi sóc giáo phận Triơ. Giám mục Agrisiô hẳn là không thể hài lòng và vui sướng hơn được nữa vì biết rằng đoàn chiên của mình có một vị chủ chăn tuyệt vời.

Thánh Maximiniô sống vào thời kỳ rất căng thẳng. Bạn hãy đọc tích truyện của vị thánh kính ngày mùng 2 tháng Năm để biết thêm chi tiết. Khi thánh Athanasiô, tổng giám mục thành Alêxanđria nước Ai Cập, bị đày ải đến Triơ, chính Maximiniô đã đón tiếp thánh nhân. Ngài đã tạo mọi điều kiện để nâng đỡ thánh Athanasiô và giúp ngài bớt đau khổ hơn khi phải xa lìa đoàn chiên của ngài. Một giám mục khác trong thời gian ấy, thánh Phaolô, giám mục thành Constantinôp, cũng bảo vệ Maximiniô thoát khỏi cơn tức giận của hoàng đế Constantiô.

Thánh Athanasiô viết rằng Maximiniô là người can đảm và thánh thiện. Thậm chí ngài nói rằng người ta đều biết rõ Maximiniô là người hay làm phép lạ. Dù cho người ta tin vị giám mục này đã viết nhiều tác phẩm nhưng tất cả các tác phẩm ấy đều đã bị thất lạc. Cái còn sót lại là ý chí ngài dâng hiến cho Đức Chúa Giêsu và cho Giáo hội. Vì là con người có tâm hồn cao cả nên Maximiniô đã sẵn sàng đứng lên chống lại những kẻ bách hại Giáo hội. Ngài cũng sẵn lòng bảo vệ những vị giám mục can đảm là những người bị các thế lực chính trị ghét bỏ. Thánh Maximiniô đã sống thẳng thắn dù phải thiệt mất địa vị hoặc phải hy sinh cả mạng sống nếu cần. Thánh nhân qua đời khoảng năm 347. 

Ở trường học, có bao giờ bạn thấy một người bạn nào đó bị la rầy hoặc bị đuổi học không? Nếu bạn muốn bắt chước gương thánh Maximiniô, hãy kết bạn với người ấy. Bạn sẽ thấy Thiên Chúa sẽ đối xử với bạn y như vậy.

 

Ngày 30 tháng 5

Thánh Giăngđắc

Thánh nữ Giăngđắc sinh năm 1412. Quê ngài ở Đômrêmi, một ngôi làng nhỏ bên nước Pháp. Thân phụ ngài, Giắcđắc, làm nghề nông vất vả. Thân mẫu ngài là một người phụ nữ hiền lành và dễ mến. Bà dạy Giăngđắc nhiều điều thiết thực trong cuộc sống. Có lần bà nói: “Mẹ có thể may vá và kéo sợi như bất cứ phụ nữ nào khác!” Giăngđắc có tâm hồn ham thích cầu nguyện, nhất là tại các đền thánh kính Đức Mẹ. Cô bé dân quê chất phác tốt lành này sẽ trở thành một nữ anh hùng. Ngày kia, đang lúc chăn chiên, đức tổng thần Micael, quan thầy của đất nước Giăngđắc, đã hiện ra và nói: “Hỡi nữ tử Thiên Chúa, con hãy đi cứu nước Pháp!” Suốt ba năm liền, Giăngđắc nghe thấy tiếng nói của đức tổng thần kêu gọi ngài hành động. Nhưng năm lên mười sáu tuổi, Giăngđắc mới bắt đầu thi hành sứ mạng.

Khi ấy, đang có một cuộc chiến xảy ra giữa quân Pháp và quân Anh. Người ta gọi đó là “cuộc chiến thế kỷ.” Quân Anh chiếm được rất nhiều vùng đất của Pháp đến nỗi vua nước Anh tự xưng mình cũng là hoàng đế nước Pháp. Ông vua của nước Pháp lúc ấy thật yếu nhược và thiếu nghị lực. Ông tưởng quân đội Pháp sẽ không thể nào cứu được đất nước mình.

Được phép của nhà vua, thánh nữ Giăngđắc dẫn một đạo quân tiến vào thành phố Ôlanh mà thành phố này hầu như đã bị người Anh chiếm giữ. Trong bộ áo giáp trắng rực rỡ, vị nữ anh thư trẻ tuổi này cưỡi ngựa kèm theo một lá cờ tung bay phía trên. Lá cờ ấy có ghi tên GIÊSU và MARIA. Trong trận đại chiến thành Ôlanh, Giăngđắc bị một mũi tên bắn trúng nhưng thánh nữ vẫn tiếp tục thúc giục binh lính của mình chiến đấu. Cuối cùng, họ đã thắng trận! Thánh nữ Giăngđắc và đội quân của ngài mỗi ngày mỗi thắng nhiều trận hơn. Và vì thế, quân Anh phải rút lui.

Sau những chiến công là thời kỳ đau khổ của Giăngđắc. Thánh nữ bị kẻ thù bắt giữ. Thậm chí ông vua nước Pháp vô ơn đã không tìm cách để cứu ngài. Giăngđắc bị bỏ tù và sau một án xử bất công, ngài đã bị thiêu sống tại cây cọc trói ngài khi chưa đầy hai mươi tuổi. Tuy bị ngọn lửa hung tợn thiêu đốt, Giăngđắc vẫn tỏ rõ một khí phách can trường cho tới khi tắt thở. Đó là ngày 29 tháng Năm năm 1431. Lời cuối cùng thánh nữ thốt lên là: “Giêsu!” Bốn trăm tám mươi chín năm sau, nhằm ngày 16 tháng Năm năm 1920, đức thánh cha Bênêđictô XV tôn phong Giăngđắc lên bậc hiển thánh.

 Thánh nữ Giăngđắc được Thiên Chúa mời gọi thực hiện một sứ vụ rất khó khăn dường như không thể hoàn thành nổi. Thánh nữ Giăngđắc thật anh dũng quả cảm! Khi được nhờ làm công việc gì khó, chúng ta hãy nài xin thánh nữ Giăngđắc giúp sức.

 

Ngày 31 tháng 5

Lễ thăm viếng của Đức Maria

Lễ này chỉ một cuộc thăm viếng. Đức tổng thần Gabriel nói với Đức Trinh Nữ Maria rằng bà chị họ Êlisabeth của Mẹ sắp sửa sinh con. Êlisabeth đã cao niên. Mẹ Maria nhận thấy cần phải đến giúp đỡ người chị của mình, và lập tức Mẹ đã lên đường.

Cuộc hành trình của Mẹ Maria thật dài và nguy hiểm! Nó cũng không thoải mái chút nào! Nhưng, những lý do này không thể ngăn cản được Mẹ. Mẹ cưỡi trên mình một con lừa và Mẹ đã tới nhà bà chị. Đầu tiên, Mẹ Maria chào Êlisabeth. Lúc ấy, Thiên Chúa tỏ cho Êlisabeth biết rằng Đức Maria đã trở nên Mẹ Thiên Chúa. Êlisabeth hân hoan thốt lên: “Sao tôi lại được Mẹ Chúa tôi đến thăm tôi như vậy?” Nhưng Mẹ Maria vẫn một mực khiêm tốn. Mẹ vội vã dâng mọi lời chúc tụng tán dương lên Thiên Chúa và Thiên Chúa đã chúc phúc cho Mẹ thật dư đầy.

“Linh hồn tôi ca ngợi Thiên Chúa và thần trí tôi mừng rỡ trong Thiên Chúa Đấng Cứu Độ tôi,” Mẹ nói, “vì Người đã trông đến sự thấp hèn của tôi tớ Người … và danh Người là Thánh!”

Ôi! Biết bao ân sủng Mẹ Maria đã đem đến cho gia đình người chị họ của Mẹ! Thánh Gioan được khỏi tội nguyên tổ ngay khi vẫn còn trong lòng mẹ. Dacaria được ơn nói trở lại, vì trước ông bị câm. Còn Êlisabeth thì được đầy tràn linh ân của Chúa Thánh Thần.

Mẹ Maria ở lại với gia đình này khoảng ba tháng. Mẹ đã giúp đỡ Êlisabeth với tấm lòng quảng đại và yêu mến đặc biệt.

Gia đình bà Êlisabeth được đầy tràn ân sủng nhờ sự viếng thăm của Mẹ Maria. Chúng ta cũng sẽ được đầy tràn ân sủng nếu chúng ta tận hiến mình cho Đức Mẹ.

 

 

Tháng 06

Các Thánh Dành Cho Bạn Trẻ

 

Ngày 01: Thánh Justinô

Ngày 02: Thánh Maxêlinô và thánh Phêrô

Ngày 03: Thánh Carôlô Lwanga và các bạn tử đạo

Ngày 04: Thánh Phanxicô Caraxiôlô

Ngày 05: Thánh Bôniphaxiô

Ngày 06: Thánh Nôbetô

Ngày 07: Chân phước Annê Batôlômêô

Ngày 08: Thánh William Gioóc

Ngày 09: Thánh Ephrem

Ngày 10: Chân phước Henri Trêvisô

Ngày 11: Thánh Barnaba

Ngày 12: Thánh Gioan Sahagun

Ngày 13: Thánh Antôn Pađua

Ngày 14: Thánh Mêtôđiô I

Ngày 15: Thánh Giơmanh Pibrac

Ngày 16: Thánh Gioan Phanxicô Rêgis

Ngày 17: Thánh Emily Vialar

Ngày 18: Chân phước Grêgôriô Barbarigô

Ngày 19: Thánh Rômualđô

Ngày 20: Chân phước Mikêlina

Ngày 21: Thánh Luy Gonzaga

Ngày 22: Thánh Paulinô Nôla

Ngày 23: Thánh Giuse Caphasô

Ngày 24: Lễ sinh nhật thánh Gioan tẩy giả

Ngày 25: Thánh William núi Đức Trinh Nữ

Ngày 26: Thánh Pêlagiô

Ngày 27: Thánh Xyrilô Alêxanđria

Ngày 28: Thánh Irênê

Ngày 29: Thánh Phêrô và thánh Phaolô

Ngày 30: Các thánh tử đạo tiên khởi Rôma

 

 

Ngày 1 tháng 6

Thánh Justinô

Thánh Justinô quê ở Samaria. Ngài sống vào thế kỷ thứ hai. Thân phụ của Justinô đã dưỡng dục ngài trong tinh thần ngoại giáo, không tin có Thiên Chúa. Khi còn trẻ, Justinô đọc các sách thi ca, sử ký và khoa học. Đến tuổi trưởng thành, thánh nhân tiếp tục tìm tòi nghiên cứu những sách ấy. Mục đích chính yếu của việc tra cứu là tìm hiểu chân lý về Thiên Chúa.

Một ngày kia, đang khi đi dạo trên bờ biển, Justinô gặp một cụ già. Cả hai bắt đầu trò truyện với nhau. Khi thấy Justinô có vẻ đăm chiêu suy tư, cụ già liền hỏi xem ngài đang suy nghĩ gì. Justinô trả lời cụ rằng mình thật bất hạnh vì chẳng tìm thấy được bất cứ chân lý chắc chắn nào về Thiên Chúa trong các sách ngài đọc cả. Và cụ già đã nói với Justinô về Đức Chúa Giêsu, Đấng Cứu Độ. Cụ khuyến khích Justinô cầu nguyện để có thể am hiểu những chân lý về Thiên Chúa.

Thánh Justinô bắt đầu cầu nguyện và đọc Kinh Thánh. Dần dà, ngài trở nên người rất mộ mến lời Chúa. Rồi thánh nhân cũng cảm động khi thấy các Kitô hữu thật can đảm trong việc dám hy sinh chết cho niềm tin và lòng yêu mến Đức Chúa Giêsu. Sau khi học hỏi sâu hơn về đạo Công giáo, Justinô trở nên một Kitô hữu. Sau đó, thánh nhân đã dùng kiến thức đặc biệt của ngài để trình bày và bảo vệ đức tin qua nhiều bài viết.

Chính tại Rôma, thánh Justinô đã bị bắt vì là Kitô hữu. Quan tòa hỏi ngài: “Anh có nghĩ rằng khi chết đi anh sẽ lên thiên đàng và được ân thưởng không?” “Tôi không những chỉ nghĩ như thế,” vị thánh trả lời, “mà tôi còn tin chắc như vậy nữa!” Và thánh Justinô đã chịu tử vì đạo khoảng năm 166.

Để giữ đức tin vững vàng, chúng ta hãy năng cầu nguyện với lòng tin tưởng. Thỉnh thoảng chúng ta hãy lặp đi lặp lại tác động đức tin ngắn gọn và đơn sơ này: “Lạy Chúa Giêsu, con tin Chúa!”

 

Ngày 2 tháng 6

Thánh Maxêlinô và thánh Phêrô

Tên hai vị thánh này được nhắc đến ở kinh nguyện Thánh Thể thứ nhất trong thánh lễ. Các ngài được các Kitô hữu tiên khởi khẩn cầu và tôn kính khắp nơi. Lễ mừng kính hai vị tử đạo này được đức thánh cha Viligiô gồm chung trong lịch kính các thánh Rôma năm 555.

Thánh Maxêlinô là linh mục và thánh Phêrô giúp đỡ thánh Maxêlinô trong sứ vụ của ngài. Cả hai đều rất can đảm trong việc sống niềm tin Kitô giáo. Các ngài phục vụ cộng đoàn tín hữu với một lòng hy sinh quên mình đặc biệt. Trong suốt cuộc khủng bố bắt đạo của Điôclêsiô, nhiều Kitô hữu đã bị giết. Hai vị thánh này cũng ở trong số họ. Các ngài bị xử trảm. Tuy vậy, hình như trước khi chết thì người ta đã bắt chính các ngài phải đào các nấm mồ chôn mình. Các ngài được đưa tới một nơi bí ẩn để thực hiện nhiệm vụ khó nhọc ấy. Đó là khu rừng mang tên Silva Nigra. Một thời gian sau, người ta phát hiện ra mộ các ngài ở trong nơi sâu thẳm này. Người hành quyết các ngài sau cùng cũng sám hối ăn năn về sự giết chóc tàn bạo của mình; và ông đã trở nên một Kitô hữu. Ông đã dẫn các tín hữu mộ đạo đến nơi chôn cất các tử thi; và sau đó, họ mai táng các ngài trong hang toại đạo thánh Tibêriô. Vào năm 827, đức thánh cha Grêgôriô IV đã cho đem các thánh tích tới Frăngphơ, nước Đức. Ngài tin rằng các thánh tích của hai vị thánh tử đạo này sẽ mang những ân phúc đến cho Giáo hội ở quốc gia ấy. 

Chúng ta có thể học hỏi nơi các thánh tử đạo để cuộc sống của mình trở nên những tấm gương phản chiếu niềm tin vào Đức Chúa Giêsu. Chúng ta có thể cầu nguyện với hai thánh Maxêlinô và Phêrô, và hãy xin các ngài ban ơn giúp sức để tăng triển thêm niềm tin và lòng yêu mến của mình.

 

Ngày 3 tháng 6

Thánh Carôlô Lwanga và các bạn tử đạo

Kitô giáo còn hoàn toàn mới lạ đối với Phi châu cho tới khi việc truyền bá đạo Công giáo bắt đầu khai mào từ năm 1879. Các linh mục là những tu sĩ dòng Thừa Sai Phi Châu. Các ngài được mọi người biết đến dưới tước hiệu “các cha áo trắng” vì các ngài mang bộ tu phục màu trắng. Vua Mwanga chẳng biết Kitô giáo rao giảng những gì nhưng ông cảm thấy bực mình khi một tín hữu Công giáo là Giuse Mkasa khiển trách lối sống của ông. Vua đã sát hại một nhóm Kitô hữu và cả vị giám mục thân yêu của họ. Vua cũng can dự vào sinh hoạt đồng tính luyến ái. Ông đặc biệt ưa thích các chú tiểu đồng. Rồi sự bực mình của vua Mwanga trở nên phẫn nộ và căm thù đối với Giuse Mkasa và tôn giáo của anh. Một số giới chức tham tham của nhà vua đã kích động tâm trạng vua với những lời xu nịnh gian trá. Thế là vào ngày 18 tháng Mười Một năm 1885, Giuse Mkasa bị đem ra xử trảm. Cuộc bách hại khủng bố bắt đầu. Trước khi nó kết thúc, hàng trăm người đã bị thiệt mạng. Hai mươi hai người trong số họ được tôn phong lên bậc hiển thánh.

Với cái chết của Giuse Mkasa, Carôlô Lwanga trở thành thầy dạy đạo chính yếu cho các chú tiểu đồng của vua. Vào ngày 26 tháng Năm năm 1886, vua Mwanga nhận thấy một số tiểu đồng của ông là tín hữu Công giáo. Ông cho gọi Đênis Sêbugwawo vào. Ông hỏi có phải Đênis đã dạy đạo cho các tiểu đồng không. Đênis trả lời phải. Nhà vua liền chụp lấy ngọn giáo của mình và phóng xuyên qua cổ họng chàng thanh niên. Rồi ông la lớn tiếng không cho phép ai được rời khỏi tổng hành dinh của ông. Tiếng trống đấu tranh vang lên thâu đêm. Trong một căn phòng kín ẩn, Carôlô Lwanga đã bí mật rửa tội cho bốn chú tiểu đồng. Một em trong bọn trẻ là thánh Kizitô, chú bé mười ba tuổi có tính tình vui tươi quảng đại. Kizitô là người bé nhất trong nhóm. Thánh Carôlô Lwanga thường hay bảo vệ Kizitô thoát khỏi lòng ham muốn dâm dật của vua Mwanga.

Hầu như hai mươi hai vị thánh tử đạo Uganđa này đã bị giết chết vào cùng ngày mùng 3 tháng Sáu năm 1886. Các ngài bị bắt đi bộ chừng năm mươi chín cây số đến nơi hành quyết. Sau ít ngày bị giam tù, người ta ném các ngài vào một đống lửa lớn. Mười bảy người trong số ấy là những chú tiểu đồng thuộc vương gia. Một trong các cậu bé tử đạo là thánh Mbaga. Hôm ấy chính thân phụ ngài là người đao phủ. Một vị tử đạo khác là thánh Anrê Kagwa, mất ngày 27 tháng Giêng năm 1887, cũng ở trong số hai mươi hai vị tử đạo được đức thánh cha Phaolô VI tôn phong lên bậc hiển thánh năm 1964.

 Carôlô Lwanga là thánh bổn mạng của giới trẻ da mầu Phi châu. Ngài và các bạn tử đạo đã hết sức hiểu rõ và quý trọng ơn đức tin của mình. Các ngài đã là những anh hùng! Chúng ta hết thảy hãy cầu xin cùng thánh Carôlô Lwanga và các thánh tử đạo Phi châu này. Hãy xin các ngài chỉ cho chúng ta biết cách làm chứng cho Đức Chúa Giêsu và Giáo hội như các ngài.

 

 

Ngày 4 tháng 6

Thánh Phanxicô Caraxiôlô

Thánh Phanxicô Caraxiôlô sinh ngày 13 tháng Mười năm 1563 tại miền Abruzi, nước Ý. Thân phụ ngài là một quý tộc vùng Napôli. Thân mẫu ngài có liên hệ bà con với tộc họ Aquinô; tộc họ này có một người làm thánh ở thế kỷ mười ba là thánh Tôma Aquinô. Phanxicô Caraxiôlô được hấp thụ một nền giáo dục tốt lành. Thánh nhân rất năng động trong các môn thể thao. Rồi khi lên hai mươi hai tuổi, một chứng bệnh giống như phong hủi đã làm cho Phanxicô Caraxiôlô gần chết. Đang lúc chịu bệnh, Phanxicô Caraxiôlô suy gẫm về sự giả dối của các thú vui trần thế. Ngài nhận thấy rằng hạnh phúc đích thực chỉ có thể tìm được trong một cái gì đó thâm sâu hơn. Phanxicô Caraxiôlô khấn hứa nếu được bình phục thì sẽ tận hiến cuộc đời cho Thiên Chúa. Chứng bệnh đã mau chóng rời khỏi Phanxicô Caraxiôlô như một phép lạ. Và Phanxicô Caraxiôlô đã giữ lời hứa. Ngài bắt đầu học làm linh mục.

Sau khi được thụ phong, cha Phanxicô Caraxiôlô gia nhập  nhóm tận hiến phục vụ nhà giam. Họ trông nom coi sóc các tù nhân và chuẩn bị cho những người bị kết án tử được hưởng ơn chết lành. Rồi Phanxicô Caraxiôlô và một linh mục khác, cha Augustinô Ađônô, đã thiết lập một dòng tu mới. Khi cha Ađônô qua đời, Phanxicô Caraxiôlô được chọn làm bề trên tổng quyền. Ngài không cảm thấy được thoải mái chút nào trong chức vị này. Phanxicô Caraxiôlô thật khiêm nhường đến độ ở cuối mỗi lá thư, ngài thường hay ký tên: “Phanxicô, kẻ tội lỗi.” Thánh nhân cũng lần lượt làm các việc lau chùi nhà cửa, dọn giường và rửa chén dĩa cùng với các anh em linh mục khác.

Cha thánh Phanxicô Caraxiôlô thường hay trải qua cả đêm dài cầu nguyện trong nhà thờ. Ngài muốn hết thảy các linh mục của mình phải dùng ít nhất một giờ trong ngày để cầu nguyện trước Chúa Giêsu Thánh Thể. Thánh Phanxicô Caraxiôlô thường hay nói về tình Chúa yêu thương con người đến nỗi ngài nổi tiếng là “nhà giảng thuyết về tình yêu Thiên Chúa.”

Thánh Phanxicô Caraxiôlô sống không thọ lắm. Ngài qua đời năm 1607 khi mới được bốn mươi bốn tuổi. Ngay trước lúc chết, thánh nhân đột nhiên kêu lên: “Chúng ta hãy đi!” – “Cha muốn đi đâu?” Vị linh mục bên cạnh giường hỏi ngài. “Lên thiên đàng! Lên thiên đàng!” Phanxicô Caraxiôlô trả lời với một giọng đầy vui tươi và rõ ràng. Sau đó ít phút ngài qua đời. Năm 1807, Phanxicô Caraxiôlô được đức thánh cha Piô VII tôn phong lên bậc hiển thánh.

 Trong lá thơ thứ hai gởi cho các tín hữu thành Côrintô, thánh Phaolô nhắc nhở chúng ta rằng Thiên Chúa yêu thương người trao ban cách vui vẻ. Đây chính là mẫu người mà thánh Phanxicô Caraxiôlô là điển hình. Nếu muốn cần một chút giúp đỡ trong việc dùng thời giờ và sức lực của mình cách quảng đại hơn, chúng ta có thể nài xin vị thánh này trợ giúp. Chúng ta cũng hãy xin thánh nhân làm cho chúng ta trở nên những người trao ban cách vui vẻ như thánh Phaolô đã mô tả.

 

 

 

Ngày 5 tháng 6

Thánh Bôniphaxiô

Vị tông đồ vĩ đại của nước Đức này sinh tại Wessit, nước Anh, vào khoảng giữa những năm 672 và 680. Khi còn nhỏ, có vài vị thừa sai đã lưu lại căn nhà của Bôniphaxiô. Họ kể cho Bôniphaxiô nghe về mọi công việc họ đã làm. Họ cảm thấy rất sung sướng và hăng say trong việc mang Tin mừng đến cho mọi người. Trong thâm tâm, Bôniphaxiô quyết định khi lớn lên cũng sẽ trở nên một người giống như họ. Lúc còn trẻ, Bôniphaxiô học tại một trường dòng. Vài năm sau, ngài trở nên một thầy dạy danh tiếng. Khi được thụ phong linh mục, thánh Bôniphaxiô trở thành một nhà giảng thuyết có ảnh hưởng đặc biệt vì thánh nhân có tấm lòng rất nhiệt thành.

Thánh Bôniphaxiô rất muốn cho mọi người có cơ hội được hiểu biết và yêu mến Đức Chúa Giêsu và Giáo hội của Người. Thánh nhân là nhà truyền giáo tại vùng Tây Đức. Đức thánh cha Grêgôriô II đã chúc lành cho Bôniphaxiô và sai ngài đi thi hành sứ vụ này. Bôniphaxiô rao giảng và thu được thành quả đặc biệt. Thánh nhân có tính tình hiền hòa và tâm hồn quảng đại. Ngài cũng là người rất can đảm. Lần kia, để minh chứng rằng các phiếm thần chỉ là chuyện giả tạo, Bôniphaxiô đã đánh bạo một phen. Có một cây sồi cao to rắn chắc gọi là “cây sồi Thor.” Các người ngoại giáo tin là nó rất linh thiêng đối với các vị thần của họ. Trước mặt đám đông người, Bôniphaxiô dùng rìu đốn cây ấy một hồi lâu. Cây to đổ xuống. Những người ngoại giáo nhận ra các thần minh của họ chỉ là giả tạo vì chẳng có chuyện gì xảy đến cho Bôniphaxiô cả!

Thánh Bôniphaxiô rao giảng nơi nào thì nơi ấy đều có những thành viên mới xin gia nhập Giáo hội. Trong đời mình, Bôniphaxiô đã hoán cải được rất đông người theo đạo Công giáo. Để thay thế các tượng tà thần, thánh Bôniphaxiô đã xây cất các thánh đường và các tu viện. Năm 732, đức tân giáo hoàng, thánh Grêgôriô III, đã đặt Bôniphaxiô làm tổng giám mục và đưa ngài tới một vùng truyền giáo khác. Đó là Bavaria, (ngày nay là phần đất của nước Đức). Bôniphaxiô và một số bạn đồng hành đã đến đó dạy cho người ta nhận biết đức tin chân thật. Nơi đây thánh giám mục cũng rất thành công.

Rồi một ngày kia, đang khi dọn lòng để củng cố khuyến khích một số người mới gia nhập đạo thì một nhóm lính tráng hung tợn đột nhiên xông vào lều trại các ngài. Bôniphaxiô không cho các đồng bạn bảo vệ mình. “Thiên Chúa bảo chúng ta hãy lấy ân đền oán,” ngài nói. “Ngày mà cha mong đợi bấy lâu nay giờ đây đã đến. Hãy tin cậy vào Chúa và Người sẽ cứu thoát chúng ta!” Bọn người man rợ tấn công và Bôniphaxiô là người bị giết đầu tiên. Thánh Bôniphaxiô chịu tử đạo ngày mùng 5 tháng Sáu năm 754. Thánh nhân được chôn táng trong một đan viện danh tiếng mà ngài đã thiết lập tại Funđa, nước Đức. Thánh nhân muốn như vậy.

Ngày nay vẫn còn rất nhiều người chưa nhận biết một Thiên Chúa chân thật. Chúng ta hãy cầu nguyện cho họ. Nếu Thiên Chúa muốn chúng ta trở nên những nhà truyền giáo, chúng ta có thể nài xin thánh Bôniphaxiô giúp chúng ta thuận theo tiếng gọi.

 

 

Ngày 6 tháng 6

Thánh Nôbetô

Thánh Nôbetô sinh tại nước Đức vào khoảng năm 1080. Lúc ở tuổi thiếu niên, thánh nhân rất tốt lành. Nhưng rồi tại cung điện của vua Henri V, Nôbetô đã phung phí tất cả thời giờ của ngài vào những chuyện bỡn cợt phù phiếm. Nôbetô chỉ nghĩ tưởng đến việc dành cho được những địa vị sang trọng. Nôbetô là người đầu tiên có mặt tại các buổi tiệc và các cuộc lễ. Ngài hết sức sung sướng với “cuộc sống lý thú” này. Tuy thế vào một ngày kia, một tia chớp đã làm Nôbetô hoảng sợ. Con ngựa của Nôbetô lồng lên. Nôbetô bị hất tung xuống đất và bất tỉnh. Khi tỉnh dậy, Nôbetô bắt đầu suy nghĩ cách nghiêm túc về lối sống của mình. Cảm thấy Thiên Chúa rất gần gũi, Nôbetô nhận ra rằng Thiên Chúa đang ban cho mình ân sủng để thay đổi đời sống. Dần dần, Nôbetô hồi tưởng về hoài bão mà ngài đã có cách đây nhiều năm. Nôbetô đã suy nghĩ đến việc làm linh mục. Giờ đây Nôbetô thực hiện ước vọng ấy; và Nôbetô được thụ phong linh mục năm 1115.

Cha Nôbetô ra sức hoạt động để làm cho người ta từ bỏ lối sống trần tục của họ. Cha làm gương sáng qua việc bán tất cả những gì ngài có để bố thí cho những người nghèo. Sau đó, thánh Nôbetô trở thành vị sáng lập dòng Thuyết Giảng Đức Tin. Nhóm tu sĩ đầu tiên gồm mười ba người bắt đầu sống đời tu trì dưới hình thức cộng đoàn. Họ sống trong thung lũng Prêmông. Đó là lý do tại sao họ được gọi là các kinh sĩ Prêmông. Họ cũng được gọi là các kinh sĩ Nôbetô, theo vị sáng lập của họ.

Sau đó, thánh Nôbetô được chọn làm giám mục thành Mađêbơ. Ngài ăn mặc rất đơn sơ nghèo khó và đi chân không vào thành phố. Người gác cổng nhà đức giám mục không biết Nôbetô nên đã không cho ngài vào. Anh ta bảo Nôbetô hãy nhập bọn với lũ ăn mày khác. “Nhưng ngài là đức tân giám mục đó!” những người biết vị thánh kêu lên. Anh gác cổng rất đỗi kinh hoàng và tỏ vẻ hối hận. “Không sao cả, anh bạn yêu quý ạ!” thánh Nôbetô nói với anh một cách thân thiện. “Anh đã cư xử với tôi đúng hơn những người mang tôi tới đây!”

Thánh Nôbetô phải đương đầu với một bè rối không tin nhận Đức Chúa Giêsu hiện diện thực sự trong Thánh Thể. Nhưng những lời giảng thuyết hùng hồn của thánh nhân về sự hiện diện của Thiên Chúa trong bí tích Thánh Thể đã làm cho người ta trở về với đức tin thánh thiện. Vào tháng Ba năm 1133, Nôbetô và một người bạn rất thân của ngài là thánh Bênađô (lễ kính ngày 20 tháng Tám) đã tham gia một đám rước khác thường. Các ngài cùng với đức vua và quân đội của ông hộ tống đức thánh cha thật là đức Innôcentê II trở về Vatican an toàn.

Thánh Nôbetô qua đời năm 1134. Đến năm 1582, đức thánh cha Grêgôriô XIII đã tôn phong Nôbetô lên bậc hiển thánh. 

Chúng ta hãy học nơi thánh Nôbetô nhiều điểm hay, nhất là đời sống nghiêm túc. Chúng ta cũng hãy học hỏi nơi ngài lòng biết ơn và yêu mến Chúa Giêsu Thánh Thể; và tiếp rước Người với lòng tin yêu.

 

 

Ngày 7 tháng 6

Chân phước Annê Batôlômêô

Chân phước Annê Batôlômêô là con gái của một gia đình dân quê. Ngài chăn giữ chiên cừu cho tới khi lên hai mươi tuổi. Avila, thành phố nơi thánh nữ Têrêsa và các nữ tu dòng Cátminh đang sống, cách quê hương của chân phước Annê Batôlômêô ở khoảng sáu cây số. Rồi, Annê Batôlômêô được nhận vào dòng. Annê Batôlômêô là chị nữ tu ngoài nội vi hơn là chị nữ tu dòng kín theo luật nội vi; vì Annê có thể ra ngoài lo những công việc nho nhỏ cần thiết cho đan viện.

Suốt bảy năm cuối đời, thánh nữ Têrêsa Avila đã chọn chị nữ tu này, là chân phước Annê Batôlômêô, làm bạn đồng hành đó đây với mình. Thánh nữ Têrêsa Avila đi khắp nơi thăm nom các nữ tu viện của ngài. Đôi khi thánh nữ cũng thiết lập một tu viện mới. Thỉnh thoảng thánh nữ giúp các nữ tu sống hăng hái nhiệt thành hơn với ơn gọi đã chọn. Thánh nữ Têrêsa Avila rất coi trọng chân phước Annê và khen ngợi ngài với các chị em khác.

Dù chân phước Annê Batôlômêô không có cơ hội đi học nhưng ngài cũng biết đọc và biết viết. Annê ghi lại những chuyến tháp tùng của mình với thánh nữ Têrêsa Avila. Chính chân phước Annê đã ở bên thánh Têrêsa Avila lúc ngài lìa đời.

Đời sống của chân phước Annê Batôlômêô vẫn tiếp diễn cách hoàn toàn bình lặng suốt sáu năm sau cái chết của thánh nữ Têrêsa. Rồi các bề trên quyết định thiết lập một tu viện mới ở Pari, nước Pháp. Năm người được chọn đi và chân phước Annê Batôlômêô là một trong số họ. Đang lúc dân thành Paris chào đón các nữ tu cách nồng hậu thì chân phước Annê Batôlômêô liền vội chạy vào nhà bếp chuẩn bị bữa ăn cho các chị em đang đói mệt. Sau đó, bốn trong số năm chị nữ tu chuyển đến Hà Lan. Annê Batôlômêô ở lại vì họ chỉ định ngài làm bề trên nhà ấy. Dường như Annê đã thưa với Thiên Chúa rằng hầu hết các chị em người Pháp gia nhập cộng đoàn đều xuất thân từ các gia đình quý phái giàu có. Annê trình bày với Thiên Chúa rằng ngài chỉ là một cô bé chăn chiên nghèo nàn mà thôi! Và sau đó, chân phước Annê được nghe Thiên Chúa trả lời trong lòng rằng: “Với những cọng rơm, Ta sẽ đốt thành đống lửa của Ta!”

Rồi, Annê Batôlômêô được sai đến Hà Lan để lập thêm nhiều tu viện mới. Trước tiên, Annê đến Mons và sau đó tới Anwep. Các chị em đến tu dòng Cátminh đều xem Annê Batôlômêô như một vị thánh. Annê Batôlômêô qua đời tại Anwep năm 1626. Ngài được đức thánh cha Bênêđictô XV tôn phong lên bậc chân phước. 

Chân phước Annê Batôlômêô không ham thích giữ địa vị gì quan trọng. Ngài chẳng hoài bão điều gì! Bất cứ khi nào chúng ta thấy mình ham muốn làm người quan trọng, chúng ta có thể cầu xin với chị nữ tu thánh thiện này. Chân phước Annê Batôlômêô sẽ giúp chúng ta biết để tâm vào việc làm đẹp lòng Thiên Chúa hơn là làm mủi lòng người ta.

 

 

Ngày 8 tháng 6

Thánh William Gioóc

Thánh William Fizơbơ sinh tại Anh quốc vào thế kỷ mười hai. Ngài là cháu trai của vua Têphanô. Lúc còn trẻ, William thích sống vô tư thoải mái và hơi lười biếng. Dường như một số người có ấn tượng về William cho rằng ngài là người ít nghiêm chỉnh, chẳng quan tâm gì đến những trách nhiệm trong cuộc sống. Tuy thế, William rất được dân thành Gioóc hâm mộ.

Nhiều năm sau đó, khi đức tổng giám mục Gioóc qua đời, người ta đã chọn William thay thế địa vị này. Vào thời ấy, các nhà quý tộc thường hay xen vào công việc bầu chọn giám mục. Đây là lý do tại sao nhiều linh mục nghĩ rằng William đã không được chọn lựa cách hợp lệ. Chính nhà vua, người cậu của William đã chỉ định ngài. Ngay cả thánh Bênađô thời danh lúc ấy cũng góp ý thuyết phục đức thánh cha nên chọn một người khác làm tổng giám mục thành Gioóc. Người ta yêu cầu William không được nhận chức vì họ cảm thấy việc ngài được chỉ định không có căn cứ vững chắc. William rời khỏi tòa giám mục với cảm nghĩ mình bị xúc phạm và bị phế bỏ. Ngài tìm đến sống với một người cậu khác cũng làm giám mục. Hình như William đã trở nên một người sống nội tâm hơn nhiều. William chẳng nhận lấy bất cứ một thứ tiện nghi nào của cậu ban tặng. William sống trong tinh thần cầu nguyện và sám hối. William bắt đầu biểu lộ tấm lòng quan tâm đến Giáo hội và đức tin của mình.

Dân thành Gioóc rất tức giận về chuyện xảy đến cho đức tổng giám mục của họ. Họ không thể hiểu được tại sao một việc như thế lại có thể xảy ra! Đã có những cuộc ẩu đả trên đường phố giữa những người ủng hộ và không ủng hộ William. Sáu năm trôi qua! William vẫn sống trầm lặng cầu nguyện trong căn nhà của đức giám mục cậu ngài. William nài xin Thiên Chúa ban bình an xuống cho tổng giáo phận của ngài. Việc William bị đối xử cách bất công chẳng quan trọng gì. Quan trọng là đoàn chiên của William được yêu thương chăm sóc mà thôi!

Cuối cùng, lời khẩn nguyện của William đã được Thiên Chúa chấp nhận. Khi đức tổng giám mục kia qua đời, đức thánh cha sai William trở về thành Gioóc. Ngài đã tới thành vào tháng Năm năm 1154. Dân chúng rất đỗi vui mừng. Nhưng lúc này trông William đã già yếu; và khoảng một tháng sau William qua đời. Năm 1227, đức thánh cha Hônôriô III đã tôn phong William Gioóc lên bậc hiển thánh.

Đôi khi người ta thổi phồng quá đáng hoặc nói những chuyện không thật về chúng ta. Những lúc ấy, chúng ta hãy nài xin thánh William Gioóc giúp cho biết quảng đại tha thứ như ngài. Chúng ta cũng hãy nài xin thánh nhân chỉ cho chúng ta biết cách điều hòa cuộc sống và không lãng phí thời giờ tưởng nghĩ về những nỗi thương đau của mình.

 

Ngày 9 tháng 6

Thánh Ephrem

Thánh Ephrem sinh ở Mêsôpôtamia khoảng năm 306. Ngài được chịu phép Thanh tẩy năm lên mười tám tuổi. Sau đó, Ephrem lui vào sa mạc và trở thành ẩn sĩ. Ephrem tìm thấy một cái hang gần thành phố Êđessa ở Syria. Quần áo Ephrem mang theo chỉ là những mảnh vải vụn chắp vá lại; và thức ăn thánh nhân dùng là những thứ hoa màu đất mẹ cung cấp.

Thánh Ephrem có tính hay nóng giận. Nhưng dần dần, thánh nhân đã làm chủ được mình. Và rồi, những ai gặp gỡ Ephrem đều nghĩ rằng con người của Ephrem thật là điềm tĩnh! Ephrem thường hay đi giảng ở Êđessa. Khi Ephrem nói về sự phán xét của Thiên Chúa, dân chúng đã cảm động oà khóc. Thánh nhân kể cho họ nghe rằng xưa kia ngài là một tội nhân rất khốn nạn. Ephrem thật sự có ý nói như vậy vì dù lầm lỗi ngài chỉ rất nhỏ mọn nhưng đối với Ephrem, chúng cũng được xem như là những tội phạm rất nặng. Khi thánh Basiliô gặp ngài, thánh nhân hỏi: “Có phải ngài là Ephrem, đầy tớ danh tiếng của Đức Chúa Giêsu không?” Ephrem liền vội trả lời: “Tôi là Ephrem, người kéo lê những bước bất xứng trên đường dẫn tới ơn cứu độ!” Sau đó, Ephrem nài xin và nhận được lời khuyên của thánh Basiliô về cách thức làm tăng triển đời sống nội tâm.

Thánh Ephrem dùng thời giờ để viết những sách thiêng liêng. Thánh nhân viết bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau: Syria, Hy Lạp, Latinh và Ácmênia. Những sách này rất hay và rất đạo đức đến nỗi chúng đã được phiên dịch ra nhiều thứ tiếng. Ngày nay những sách ấy vẫn còn được người ta tìm đọc. Ephrem cũng viết những bài thánh ca dùng cho phần phụng vụ cộng đoàn. Những thánh ca này rất được ưa chuộng và mỗi khi hát lên, người tín hữu học hỏi được nhiều điều về đức tin. Đó là lý do tại sao Ephrem được gọi là “cây đàn hạc của Chúa Thánh Linh.” Vì là thầy dạy uyên bác qua các tác phẩm của mình, nên vào năm 1920, thánh Ephrem được tôn lên bậc Tiến sĩ Hội Thánh.

Thánh Ephrem qua đời vào tháng Sáu năm 373.

 Một cách để tôn vinh Chúa Giêsu Thánh Thể là cùng nhau hát những bài thánh ca. Đây là việc thánh Ephrem sẽ làm nếu như ngài quỳ gối bên cạnh chúng ta tham dự thánh lễ.

 

Ngày 10 tháng 6

Chân phước Henri Trêvisô

Henri Trêvisô sinh ở Bôlzanô, nước Ý. Ngài sống vào khoảng cuối thế kỷ thứ mười ba đầu thế kỷ thứ mười bốn. Gia đình của Henri rất nghèo nên ngài chẳng có cơ hội để học hành. Đến tuổi niên thiếu, Henri trẩy đến thành Trêvisô tìm việc làm. Henri là người làm thuê tính theo công nhật. Một vài người nhận thấy rằng Henri đã bố thí cho người nghèo hầu hết số tiền kiếm được. Hằng ngày Henri tham dự thánh lễ và thường xuyên chịu lễ như được phép. Henri cũng yêu mến bí tích Hòa giải và cảm nghiệm nơi bí tích tha thứ này một Vị Thiên Chúa đầy tình khoan dung và hay thương xót.

Người ta bắt đầu để ý xem cách giữ đạo của Henri. Henri thực thi sám hối qua cách thức chăm chỉ làm việc. Mỗi ngày chân phước Henri Trêvisô dành ra nhiều giờ để cầu nguyện riêng, thông thường tại nhà thờ. Henri Trêvisô trổi vượt về hai đức tính dịu dàng và điềm tĩnh. Đôi lúc người ta trêu chọc Henri vì lối sống của ngài thật bình dị. Khi về già, Henri Trêvisô trông có vẻ tiều tụy. Trẻ con nhiều lúc nhạo báng diện mạo kỳ dị của ngài. Nhưng Henri Trêvisô chẳng màng chi cả! Ngài nhận thấy rằng họ chẳng ý thức được việc họ đang làm cho ngài đau lòng.

Khi Henri Trêvisô già nua và không còn đủ sức để làm việc nữa, có một người bạn tên là Giacôbê Castagnolis đã đem Henri Trêvisô về nhà của ông. Castagnolis cho Henri một căn phòng và có nhã ý muốn nuôi dưỡng ngài; nhưng chân phước Henri nhất định đòi chỉ sống nhờ vào những đồ bố thí của dân thành Trêvisô. Họ đã rộng rãi bố thí cho Henri nhiều thực phẩm vì họ biết ngài sẽ san sẻ quà bố thí của họ cho những người vô gia cư và những người nghèo khó. Về cuối đời, Henri Trêvisô hầu như không thể đi bộ được nữa. Người ta kinh ngạc khi xem thấy ông già mỗi ngày vẫn chậm chạp lê mình tới tham dự thánh lễ ban sáng. Henri Trêvisô cũng hay thăm viếng các nhà thờ lân cận dù cho việc di chuyển tới mỗi nơi làm cho Henri Trêvisô hết sức đau đớn.

Ông già tốt phúc này thật là một mầu nhiệm kỳ bí. Khi Henri Trêvisô qua đời ngày mùng 10 tháng Sáu năm 1315, người ta đã lũ lượt kéo đến căn phòng bé nhỏ của Henri Trêvisô. Họ muốn có một di vật kỷ niệm. Họ tìm thấy các tài sản của Henri Trêvisô: một chiếc áo vải thô gai, một khúc gỗ dùng để gối đầu, và một ít rơm dùng làm nệm giường. Xác Henri Trêvisô được đưa tới nhà thờ chính tòa để mọi người có thể tôn kính. Trên hai trăm phép lạ đã được ghi nhận chỉ trong vòng vài ngày sau khi Henri Trêvisô qua đời.

Đức thánh cha Bênêđictô XIV đã tôn phong Henri Trêvisô lên bậc chân phước.

Chân phước Henri Trêvisô dạy chúng ta rằng để làm thánh không nhất thiết phải làm được những việc to lớn. Chúng ta hãy xin chân phước Henri Trêvisô chỉ cho chúng ta biết cách hăng say sống đời Kitô hữu mỗi ngày.

 

Ngày 11 tháng 6

Thánh Barnaba

Dù không phải là một trong số mười hai tông đồ được Đức Chúa Giêsu tuyển chọn, nhưng thánh Barnaba được thánh ký Luca gọi là tông đồ trong sách Tông đồ Công vụ của ngài. Vì như tông đồ Phaolô, Barnaba cũng nhận được từ Thiên Chúa một sứ vụ đặc biệt. Thánh nhân là người gốc Dothái, sinh tại đảo Cyprô. Tên của ngài là Giuse nhưng các tông đồ đổi thành Barnaba. Danh xưng này có nghĩa là “con của sự an ủi.”

Ngay khi trở thành Kitô hữu, thánh Barnaba đã bán tất cả những gì ngài có và đem tiền dâng cho các tông đồ. Thánh nhân là người tốt bụng. Ngài rất nhiệt thành hăng say tin yêu Đức Chúa Giêsu. Barnaba được sai đến thành Antiôkia để rao giảng Tin mừng. Antiôkia là thành phố lớn thứ ba trong đế quốc Rôma thời ấy. Tại đây, những người tin theo Đức Chúa Giêsu lần đầu tiên được gọi là Kitô hữu. Barnaba nhận thấy mình cần sự giúp đỡ nên liền nghĩ tới Phaolô thành Tarsô. Ngài tin rằng Phaolô đã thực sự được ơn trở lại. Chính Barnaba đã đứng ra thuyết phục thánh Phêrô và cộng đoàn Kitô hữu; và đã xin cho Phaolô đến làm việc với mình. Barnaba là người khiêm tốn. Ngài không ngại chia sẻ năng lực và trách nhiệm. Ngài cũng biết Phaolô có một ân sủng rất đặc biệt và ngài muốn thánh nhân có cơ hội để trao ban.

Một thời gian sau, Chúa Thánh Linh đã chọn Phaolô và Barnaba để thực hiện một sứ vụ quan trọng. Sau đó không lâu, hai vị tông đồ đã lên đường thực hiện sứ mệnh anh dũng này. Các ngài đã phải chịu nhiều đau khổ và thường hay gặp nguy hiểm đến tính mạng. Nhưng giữa những thử thách cam go, việc rao giảng của các ngài đã thuyết phục được nhiều người trở về với Đức Chúa Giêsu và Giáo hội của Người.

Sau đó, thánh Barnaba tiếp tục thực hiện một cuộc truyền giáo khác. Lần này với thánh Marcô, người bà con với ngài. Họ đi về Cyprô, quê hương của Barnaba. Qua việc rao giảng của thánh Barnaba, rất nhiều người đã trở nên Kitô hữu đến nỗi Barnaba được gọi là tông đồ của đảo Cyprô. Theo ý kiến chung, người ta cho rằng vị đại thánh này đã bị ném đá chết vào năm 61.

 Thánh Barnaba đã nhận một danh xưng biểu hiệu đúng con người của ngài: một người tốt luôn luôn khuyến khích người khác yêu mến Thiên Chúa. Chúng ta hãy cầu nguyện với vị thánh này và xin ngài làm cho chúng ta cũng được trở nên những “người con của sự an ủi” như thánh nhân.

 

 

Ngày 12 tháng 6

Thánh Gioan Sahagun

Thánh Gioan sinh tại Sahagun, nước Tây Ban Nha, vào thế kỷ thứ mười lăm. Ngài được hấp thụ nền giáo dục của các đan sĩ Bênêđictô trong thị trấn ngài ở. Sau đó, Gioan làm cha xứ một họ đạo. Hẳn là Gioan đã có thể sống một cuộc đời thoải mái tiện nghi trong nhà thờ chính tòa hay ở các xứ đạo giàu có khác. Tuy vậy, Gioan cảm thấy bị hấp dẫn bởi lối sống đơn sơ khó nghèo mà Đức Chúa Giêsu đã sống. Cha Gioan chỉ chọn coi sóc một họ đạo nhỏ. Ở đó ngài dâng thánh lễ, thuyết giảng và dạy giáo lý.

Cha Gioan Sahagun nhận thấy cần phải hiểu biết hơn về khoa thần học và ngài đã đăng ký học các lớp tại trường đại học Công giáo danh tiếng thuộc thành phố Salamanca. Sau bốn năm chăm chỉ học tập, cha Gioan trở nên một nhà giảng thuyết nổi danh. Chín năm sau, Gioan Sahagun gia nhập dòng Augustinô. Các anh em tu sĩ rất được ấn tượng bởi cách ngài thực hành các nhân đức Kitô giáo. Thánh Gioan cũng sống rất mực khiêm tốn và vâng phục các đấng bề trên của ngài. Thánh nhân vẫn tiếp tục công việc giảng huấn. Các bài giảng hay của Gioan Sahagun đã làm cho dân thành Salamanca được biến cải. Trước đây họ hay tranh chấp cãi vã nhau dữ dội. Những chàng trai quý tộc thường hay đánh trả thù nhau. Thánh Gioan Sahagun đã thành công trong việc chấm dứt những cuộc ẩu đả gay gắt này. Thậm chí thánh nhân đã thuyết phục được người ta tha thứ cho nhau.

 Thánh Gioan Sahagun chẳng e sợ việc sửa chữa những tội ác xấu xa, ngay cả khi những người mắc tội là những người có thế lực và họ có thể trả thù ngài. Lần kia, thánh Gioan Sahagun sửa lỗi cho một công tước vì cách thức ông làm cho những người dân nghèo phải chịu khổ. Điều vị linh mục nói là sự thật! Nhưng trong cơn giận dữ, công tước đã sai hai người đầy tớ của mình tới giết thánh Gioan. Các ông này tìm thấy vị linh mục và tiến lại gần ngài. Cha Gioan Sahagun rất bình thản và phúc hậu. Cả hai ông tự nhiên cảm thấy bị chìm ngập trong nỗi sầu khổ và cả hai người đã xin thánh nhân tha thứ cho. Sau đó, vị công tước ngã bệnh. Qua những lời cầu nguyện của thánh Gioan Sahagun, ông đã ăn năn tội lỗi của mình và được bình phục.

Chính những ân sủng Gioan Sahagun nhận được từ lời cầu nguyện và thánh lễ đã giúp cho thánh nhân có được khả năng rao giảng. Thánh Gioan Sahagun đã cử hành thánh lễ với lòng rất sốt sắng.

Thánh Gioan Sahagun qua đời ngày 11 tháng Sáu năm 1479. Ngài được đức thánh cha Alêxanđơ VIII tôn phong lên bậc hiển thánh năm 1690. 

Chúng ta sẽ là những Kitô hữu gây ấn tượng hơn nhiều nếu chúng ta bình tĩnh và an hòa trong cả cách nói lẫn cách sống. Chúng ta sẽ chẳng bao giờ rao giảng Tin mừng được nếu tâm tính chúng ta thô lỗ cộc cằn và bị đè nặng bởi lo âu sợ sệt. Chúng ta hãy nài xin thánh Gioan Sahagun chỉ cho chúng ta biết cách sống bình thản và quảng đại như ngài.

 

 

Ngày 13 tháng 6

Thánh Antôn Pađua

Vị thánh rất được ưa chuộng này sinh tại nước Bồ Đào Nha năm 1195. Người ta đặt tên cho thánh nhân là “Phécđinăng.” Thánh nhân được hấp thụ một nền giáo dục tuyệt vời nơi các thầy dòng thánh Augustinô; và sau đó, thánh nhân đã gia nhập hội dòng này.

Lúc hai mươi lăm tuổi, cuộc sống của Phécđinăng lại chuyển sang một hướng đi kỳ thú. Ngài nghe biết có mấy tu sĩ dòng Phanxicô đã được phúc tử đạo bởi những người Mor ở Môrôcô. Các tu sĩ này là thánh Bêra và các bạn tử đạo. Chúng ta đã cử hành thánh lễ kính các ngài ngày 16 tháng Giêng. Từ lúc ấy trở đi, Phécđinăng cảm thấy một ham ước mãnh liệt muốn được tử đạo vì Chúa Kitô. Rồi ngài gia nhập dòng Phanxicô. Hội dòng này mới được thiết lập. Chính thánh Phanxicô Assisiô sáng lập dòng vẫn còn sống. Phécđinăng đổi tên là Antôn. Ngài tới Phi châu rao giảng cho người Mor. Nhưng chẳng bao lâu, thánh Antôn đã lâm bệnh rất nặng đến nỗi phải trở về nước Ý. Chẳng ai trong hội dòng mới của Antôn nhận biết được Antôn tài giỏi lỗi lạc đến chừng nào! Họ không biết Antôn đã được giáo dục và học hành đến đâu! Antôn không bao giờ tự nói về mình! Vì vậy các bề trên dòng Phanxicô đã bổ nhiệm ngài tới một đan viện âm thầm ở Ý. Nơi đó, Antôn làm công việc rửa chén dĩa xoong chảo. Rồi một ngày kia, Antôn đã giảng một bài thật hay cho một nhóm đông các linh mục nghe. Từ đó trở đi, suốt chín năm cho tới lúc qua đời, thánh Antôn đã thuyết giảng khắp nơi trong nước Ý. Người ta hâm mộ Antôn đến nỗi đã thường đóng các cửa tiệm của họ để đến nghe thánh nhân thuyết giảng.

Thánh Antôn Pađua hay được người ta cầu khấn trong những cơn bạo bệnh thể xác cũng như khủng hoảng tinh thần. Qua sự cầu thay nguyện giúp của thánh nhân, nhiều phép lạ đã xảy ra. Rất đông người đã nhận được các ơn lành nhờ sự bầu cử của ngài. Đó là lý do tại sao người ta hay gọi Antôn Pađua là “đấng hay làm phép lạ.” Người ta thường trình bày bức tượng thánh Antôn Pađua đang bồng ẵm Chúa Hài Nhi Giêsu bởi vì Chúa Hài Nhi Giêsu đã hiện ra với ngài. Những bức hình khác trình bày thánh nhân đang ôm một cuốn sách Kinh Thánh. Điều này cho thấy thánh Antôn Pađua rất thành thạo, yêu mến và năng rao giảng lời Chúa. Thật sự, thánh Antôn Pađua rất thông giỏi, đặc biệt về khoa Kinh Thánh, đến nỗi ngài được đức thánh cha Piô XII tôn phong là “Tiến sĩ Tin Mừng” hay còn gọi là “Tiến sĩ Kinh Thánh.”

Thánh Antôn Pađua qua đời tại Axêla gần thành phố Pađua, nước Ý, vào ngày 13 tháng Sáu năm 1231 khi mới được ba mươi sáu tuổi. Một năm sau, Antôn Pađua được đức thánh cha Grêgôriô IX tôn phong hiển thánh. 

Đôi lúc chúng ta mong muốn mọi người nhận biết những việc tốt lành chúng ta làm hoặc chúng ta biết cách làm. Có thể chúng ta sẽ không luôn luôn nhận được nhiều sự chú ý. Đó là những lúc chúng ta nên cầu xin thánh Antôn Pađua dạy cho chúng ta biết tự hài lòng với chính mình. Chúng ta hãy nài xin thánh nhân giúp chúng ta đừng để tâm vào những cái chúng ta có thể nhận được nhưng hãy nhắm vào những cái chúng ta có thể trao ban trong đời sống này.

 

 

Ngày 14 tháng 6

Thánh Mêtôđiô I

Thánh Mêtôđiô I sống vào thế kỷ thứ chín. Ngài được sinh ra và lớn lên tại Sicily. Mêtôđiô được lãnh nhận một nền học vấn rất xuất sắc và ngài muốn có một địa vị xứng hợp với trình độ của ngài. Mêtôđiô quyết định trẩy tàu tới Constantinôp để tìm một công việc quan trọng tại triều đình nhà vua. Trong chuyến hải hành, Mêtôđiô gặp một tu sĩ thánh thiện và vị này đã chia sẻ với ngài về những điều bí ẩn. Tất cả mọi vấn nạn về Thiên Chúa và đời sau thấm nhập vào tâm trí Mêtôđiô. Vị tu sĩ giúp Mêtôđiô nhận thấy rằng để tìm được niềm vui đích thực trong cuộc sống thì phải hiến dâng mình cho Thiên Chúa trong bậc sống tu trì. Vì thế, khi đến Constantinôp, Mêtôđiô đã từ khước cung điện; và thay vào đó, Mêtôđiô I đã vào ẩn thân trong một đan viện.

Ở Constantinôp, các Kitô hữu đang gặp phải những vấn đề khó khăn. Một số người cảm thấy rằng thật sai lầm khi có các bức vẽ đạo đức và các ảnh tượng Chúa Kitô. Họ nghĩ lầm rằng giáo dân cầu nguyện với các bức tranh hoặc ảnh tượng chứ không phải với người mà các tranh ảnh biểu thị. Đã xảy ra những cuộc ẩu đả gay gắt và nhà vua cũng liên quan đến vụ này. Ông đồng ý với những người nghĩ rằng các bức vẽ và ảnh tượng là chuyện xấu. Ngược lại, thánh Mêtôđiô không đồng ý với nhà vua. Ngài hiểu được lý do tại sao các Kitô hữu cần đến ảnh tượng. Rồi người ta đã chọn Mêtôđiô tới Rôma để xin đức thánh cha làm sáng tỏ vấn đề này. Khi Mêtôđiô trở về, nhà vua đã trừng phạt ngài với án lệnh bảy năm tù. Thánh Mêtôđiô chấp nhận cảnh tù đày tăm tối và ẩm thấp, nhưng ngài không để cho tinh thần của mình bị đè bẹp. Ngài biết rằng Đức Chúa Giêsu có ý dùng các nỗi đau khổ ngài chịu để giúp đỡ Giáo hội. Sau cùng, vào năm 842, hoàng đế băng hà. Hoàng hậu Thêôđôra lên nắm quyền cai trị, bởi vì con trai của bà còn quá nhỏ. Thêôđôra có quan điểm khác quan điểm của chồng. Bà cho rằng người ta nên được tự do sử dụng các bức vẽ, ảnh tượng Chúa Kitô và các tranh ảnh đạo đức nếu họ muốn. Mêtôđiô và những người đã phải chịu đau khổ suốt một thời gian dài cảm thấy rất sung sướng. Giờ đây họ đã được tự do.

Một trong số những người đã làm cho Mêtôđiô đau khổ nhất đã bị hoàng hậu trục xuất khỏi xứ sở. Sau đó, Mêtôđiô làm thượng phụ giáo chủ Constantinôp. Giáo dân rất yêu mến ngài.

Thánh Mêtôđiô I viết nhiều bài tiểu luận rất hay về các lãnh vực thần học và đời sống thiêng liêng. Ngài cũng viết nhiều truyện về các thánh và thơ ca.

Sau bốn năm làm thượng phụ giáo chủ, thánh Mêtôđiô I đã qua đời nhằm ngày 14 tháng Sáu năm 847.

 Thánh Mêtôđiô I đã khởi đầu sự nghiệp bằng việc tìm kiếm danh vọng, địa vị và của cải. Rồi ngài nghe theo vị tu sĩ thánh thiện và chọn lấy cho mình một cuộc sống đầy khó khăn. Khi được quyền tự chọn, ngay cả trong những điều thật bé nhỏ, chúng ta có thể dâng một lời nguyện đơn sơ lên thánh Mêtôđiô I. Ngài sẽ ban cho chúng ta sự khôn ngoan để biết chọn lựa điều tốt nhất cho đời tạm này và đời sau vĩnh cửu bên Thiên Chúa.

 

 

Ngày 15 tháng 6

Thánh Giơmanh Pibrac

Pibrac là một ngôi làng nhỏ bên nước Pháp nơi Giơmanh chào đời vào khoảng năm 1579; và thánh nữ Giơmanh đã sống cả cuộc đời ở đây. Bề ngoài trông Giơmanh không được xinh xắn và luôn luôn yếu bệnh. Thân phụ Giơmanh chỉ quan tâm chút ít tới ngài. Mẹ ghẻ của Giơmanh không muốn cho Giơmanh ở gần bên các đứa con lành mạnh của bà. Vì vậy, Giơmanh phải ngủ chung với đàn chiên trong nhà kho ngay cả khi tiết trời giá lạnh. Giơmanh vận những bộ đồ rách nát và thường bị các trẻ em khác nhạo cười. Giơmanh chăn chiên suốt ngày ngoài đồng. Ban đêm khi trở về nhà, Giơmanh thường bị mẹ ghẻ la rầy đánh đập.

Thế nhưng cô bé nghèo khó này học cách nói chuyện với Thiên Chúa và nhớ rằng Người luôn luôn hiện diện bên mình. Giơmanh Pibrac luôn luôn cố gắng xoay sở để tham dự thánh lễ mỗi ngày. Thánh nữ nhờ vị thiên thần bản mệnh của ngài coi sóc đàn chiên giùm. Vì thế, chẳng bao giờ có con chiên nào đi rong chơi lang thang khỏi ràn mà Giơmanh đã đặt để trên bãi đất!

Giơmanh Pibrac thường hay tập họp các trẻ em trong xóm lại xung quanh mình và dạy chúng học biết đức tin. Giơmanh muốn tâm hồn chúng được tràn đầy lòng yêu mến Thiên Chúa. Giơmanh cũng hết sức cố gắng giúp đỡ người nghèo. Giơmanh chia sẻ cho họ chút phần lương thực của ngài. Vào một ngày mùa đông nọ, mẹ ghẻ buộc tội Giơmanh vì đã ăn cắp bánh mì. Bà vác gậy rượt đuổi Giơmanh. Nhưng lạ lùng thay! Những thứ rơi ra từ chiếc tạp dề của Giơmanh không phải là bánh mì. Đó lại là những đóa hoa mùa hè xinh đẹp!

Từ đây, người ta không còn nhạo cười và chế giễu Giơmanh nữa. Thật ra họ rất quý mến và khâm phục ngài. Hẳn là Giơmanh đã có thể sống trong căn nhà của cha ngài, nhưng Giơmanh vẫn tiếp tục ngủ ở nhà kho. Rồi vào một buổi sáng năm 1601, lúc được hai mươi hai tuổi, người ta thấy Giơmanh Pibrac nằm chết trên một chiếc nệm rơm. Cuộc đời quá nhiều đau khổ của Giơmanh Pibrac đã khép lại. Thiên Chúa đã làm nhiều phép lạ để tỏ cho biết Giơmanh Pibrac là vị thánh.

 Nhân đức chính yếu của vị thánh này là kiên nhẫn. Giơmanh Pibrac đã mang cây thánh giá to lớn của ngài cách dễ dàng vì thánh nữ đã năng chịu bí tích Thánh Thể. Khi gặp những đau khổ nhỏ mọn, chúng ta hãy quay ánh nhìn về Đức Chúa Giêsu đang hiện thân trong bí tích Thánh Thể và xin Người giúp đỡ.

 

Ngày 16 tháng 6

Thánh Gioan Phanxicô Rêgis

Vị thánh người Pháp này sinh năm 1597. Khi lên mười tám tuổi, Gioan Phanxicô Rêgis gia nhập dòng Tên. Ở chủng viện, lòng yêu mến Thiên Chúa và ơn gọi của Gioan được tỏ lộ qua cách ngài cầu nguyện. Thánh nhân cũng nhiệt thành ham thích dạy giáo lý trong các xứ đạo mỗi khi có thể. Sau khi được thụ phong linh mục, thánh Gioan Phanxicô Rêgis bắt đầu công việc truyền giáo. Những bài giảng thuyết của ngài rất đơn sơ nhưng phát xuất từ nội tâm. Thánh nhân đặc biệt hay giảng cho những người nghèo khổ và những người bình dân. Họ tập trung lại thành những đám đông để nghe ngài thuyết giảng. Thánh Gioan Phanxicô Rêgis dành thời giờ ban sáng để cầu nguyện, ban bí tích Hòa giải và thuyết giảng. Ban chiều, thánh nhân viếng thăm các trại tù và các bệnh viện. Với những người nói rằng các tù nhân và các phụ nữ trắc nết mà Gioan Phanxicô Rêgis đã cải tà quy chính sẽ không tốt lành mãi đâu thì thánh nhân trả lời họ: “Nếu những cố gắng của tôi dù chỉ ngăn cản được một tội khỏi bị sa phạm thôi, tôi vẫn sẽ coi chúng thật đáng giá!”

Thánh Gioan Phanxicô Rêgis hành trình đến các xứ đạo nơi miền thôn dã, ngay cả trong những ngày đông giá rét, để giảng thuyết. “Tôi đã thấy ngài đứng suốt ngày trên đống tuyết tận trên đỉnh núi để giảng dạy,” một linh mục đã nói, “và sau đó lại dùng cả đêm dài để giải tội!” Đôi khi mới ba giờ sáng, Gioan Phanxicô Rêgis đã lên đường trẩy tới một thị trấn hẻo lánh mà trong túi chỉ có vài quả táo dùng làm lương thực trong ngày.

Một lần kia, trên đường tới một ngôi làng, thánh Gioan Phanxicô Rêgis bị té ngã và gãy chân. Tuy vậy, thánh nhân vẫn tiếp tục hành trình dù một tay chống gậy và tay kia phải vịn lấy vai của một người bạn. Nhưng khi tới làng, thánh nhân liền ban bí tích Hòa giải cho các hối nhân. Gioan Phanxicô Rêgis chẳng nhờ người chăm sóc băng bó cái chân bị gãy của ngài. Vào cuối ngày, khi bác sĩ tới xem xét thì cái chân gẫy của Gioan Phanxicô Rêgis đã hoàn toàn được chữa khỏi từ lúc nào rồi!

Thánh Gioan Phanxicô Rêgis qua đời trong một chuyến đi truyền giáo. Ngài lâm bệnh rất nặng đang khi bị lạc trong rừng vào ban đêm. Ngay trước lúc trút hơi thở sau cùng, thánh Gioan Phanxicô Rêgis reo lên: “Tôi thấy Thiên Chúa và thân mẫu Người đang mở cửa thiên đàng cho tôi!” Thánh Gioan Phanxicô Rêgis qua đời ngày 31 tháng Mười Hai năm 1640.

Năm 1806, có một khách hành hương đã cùng nhập bọn với nhóm người tới cầu nguyện tại đền thánh Gioan Phanxicô Rêgis. Người khách ấy tin rằng vị thánh này đã đạt tới cùng đích của đời linh mục. Người khách ấy chính là thánh Gioan Maria Viannê, cha sở họ Ars. Lễ mừng kính ngài được cử hành ngày mùng 4 tháng Tám.

Đời sống của thánh Gioan Phanxicô Rêgis nhắc nhớ chúng ta rằng Thiên Chúa sẽ ban nhiều phúc lành và ân sủng của Người cho chúng ta nếu chúng ta sẵn lòng quên đi những đòi hỏi thiết yếu của riêng bản thân mình. Bằng lối này, chúng ta có thể giúp đỡ cha mẹ, gia đình và bạn bè của chúng ta những nhu cầu cần thiết.

 

Ngày 17 tháng 6

Thánh Emily Vialar

Emily Vialar là cô gái độc nhất trong một gia đình giàu có. Thánh nữ sinh tại Pháp năm 1797. Song thân của Emily gởi ngài đến học ở Paris. Khi thân mẫu qua đời, Emily trở về thị trấn Gailac nhỏ bé của ngài. Cô bé Emily mười lăm tuổi vừa là người con vừa là người bạn tốt đối với thân phụ của cô. Ông Vialar quan tâm tới chuyện tìm cho con gái ông một tấm chồng thích hợp. Ông rất giận dữ khi nghe thấy Emily từ chối chuyện lập gia đình. Thất vọng! Vỡ mộng! Ông đâm ra hay tranh luận và la rầy cô bé. Emily nhận thấy mình muốn làm một nữ tu đạo hạnh hiến dâng cuộc đời phụng sự Thiên Chúa

Khi Emily 21 tuổi thì có một linh mục tới thị trấn Gailac. Ngài là cha Mercier. Ngài hướng dẫn Emily theo đuổi ơn gọi của mình. Emily muốn giúp đỡ những người nghèo khổ và đau yếu. Cha Mercier giúp Emily thiết lập một địa sở dành cho các bệnh nhân ngoại trú ngay trên thửa đất của gia đình Vialar. Thân phụ của Emily rất bực bội. Tình trạng căng thẳng giữa Emily và người cha kéo dài suốt mười lăm năm trời. Sau đó ông nội của Emily, ông Baron Portan, qua đời. Ông để lại cho Emily một gia tài; và thế là, cuối cùng Emily đã có thể có được sự tự lập cần thiết để khởi sự làm công việc đặc biệt cho Thiên Chúa.

Với sự trợ giúp của cha Mercier, Emily mua một căn nhà lớn trong thị trấn quê hương của ngài. Rồi Emily và ba chị em khác bắt đầu thiết lập một hội dòng. Họ phác họa ra một bộ tu phục và chọn một tên gọi. Họ nhận tên là dòng Nữ Thánh Giuse Hiện Ra. (Phúc âm thánh Mátthêu thuật lại việc thiên thần đã hiện ra với thánh Giuse và bảo ngài rằng Người Con của Đức Trinh Nữ Maria sinh ra là do bởi Thiên Chúa.) Đức tổng giám mục đã chúc lành cho hội dòng và sứ vụ của họ. Các chị nữ tu này tận hiến cuộc đời phục vụ và chăm sóc những người đau yếu, nghèo khổ và giáo dục trẻ em. Trong khoảng ba tháng, đã có 12 chị em xin gia nhập hội dòng. Sơ Emily tuyên giữ các lời khấn năm 1835 cùng với 17 chị nữ tu khác. Đức tổng giám mục đã chuẩn y bản quy luật của các nữ tu.

Dòng Nữ Thánh Giuse bắt đầu thiết lập thêm các tu viện nhánh. Năm 1847, các nữ tu tới Burma; và năm 1854, họ tới Úc. Trong khoảng bốn mươi năm, Mẹ Emily Vialar đã xem thấy hội dòng mình phát triển từ sân nhà của Mẹ ở Gailac, nước Pháp dần dà lên tới khoảng bốn mươi cơ sở trên khắp thế giới.

Mẹ Emily Vialar viết nhiều thơ bày tỏ lòng yêu mến tha thiết đối với Thiên Chúa, với Giáo hội và các tín hữu. Mẹ quan tâm đến mỗi người. Trong trái tim mình, Mẹ Emily Vialar nhận thấy dân chúng khắp nơi đang cần Giáo hội đem chân lý Tin mừng và tình yêu thương đến cho họ. Mẹ nài xin Đức Chúa Giêsu ban thêm cho sức mạnh cần thiết để tiếp tục công việc.

Sức khỏe của Mẹ Emily Vialar bắt đầu suy giảm từ năm 1850. Rồi vào ngày 24 tháng Tám năm 1856, Mẹ qua đời. Đến năm 1951, đức thánh cha Piô XII đã tôn phong Mẹ Emily Vialar lên bậc hiển thánh.

 Khi gặp những việc khó, thay vì bỏ cuộc, chúng ta hãy nài xin thánh nữ Emily Vialar làm cho chúng ta được mạnh mẽ và nhẫn nại như ngài.

 

Ngày 18 tháng 6

Chân phước Grêgôriô Barbarigô

Chân phước Grêgôriô Barbarigô sinh năm 1625. Ngài được nuôi dưỡng và giáo dục tại thành Vêni bên nước Ý, quê hương của ngài. Đang lúc còn ở tuổi 20, nhân một sự kiện quan trọng, Grêgôriô Barbarigô đã được các viên chức chính quyền thành phố Vêni chọn làm đại biểu thay mặt họ ở Munstơ, nước Đức. Vào ngày 24 tháng Mười năm 1648, các nhà lãnh đạo đã họp lại để ký bản Hiệp ước Wesphalia. Hiệp ước này sẽ kết thúc cuộc chiến “ba mươi năm.” Cuộc chiến này nổ ra ở Đức vào năm 1618. Nó bao gồm những đội quân láng giềng Pháp và Thụy Điển; và được gây nên bởi sự hiểu lầm căn bản giữa Công giáo và Thệ phản.

Tại Munstơ, chân phước Grêgôriô Barbarigô gặp vị đại diện của đức thánh cha. Vị này về sau trở thành đức thánh cha Alêxanđơ VII vào năm 1655. Ngài nhận thấy những phẩm chất đạo đức tốt lành của cha Grêgôriô. Ngài đặt cha làm giám mục và bổ nhiệm Grêgôriô đến giáo phận Bêgamô, nước Ý. Năm 1660, đức thánh cha lại gọi Grêgôriô Barbarigô về Rôma. Lần này, ngài đặt chân phước Grêgôriô Barbarigô làm hồng y và chỉ định ngài đến Pađua.

Chân phước Grêgôriô Barbarigô sống phần đời còn lại của ngài trong thành phố ấy, thành phố được nổi danh nhờ thánh Antôn. Người ta thường hay nói rằng hồng y Barbarigô trông giống như đức hồng y Bôrômêô thứ hai vậy. Chúng ta mừng lễ kính thánh Carôlô Bôrômêô ngày mùng 4 tháng Mười Một.

Hồng y Grêgôriô Barbarigô đã sống một cuộc đời hy sinh và giản dị. Ngài chi một số tiền lớn cho những nhu cầu bác ái từ thiện. Ngài luôn mở rộng cửa nhà để sẵn sàng tiếp đón những người lâm cảnh túng thiếu. Ngài mở một trường đại học danh tiếng và một chủng viện để đào luyện các chủng sinh thành linh mục. Ngài ban tặng chủng viện một phòng thư viện hạng nhất gồm nhiều loại sách quý của các giáo phụ thời Giáo hội sơ khai và các sách Kinh Thánh. Thậm chí Grêgôriô Barbarigô còn trang bị cho chủng viện một máy in.

Chân phước Grêgôriô Barbarigô qua đời ngày 15 tháng Sáu năm 1697, thọ bảy mươi hai tuổi. Ngài được đức thánh cha Clêmentê XIII tôn phong chân phước năm 1761.

 Khi cầu nguyện, thật là ý tưởng hay nếu như chúng ta nài xin Thiên Chúa ban cho chúng ta ơn biết nhận ra kế hoạch của Người trong đời sống mình. Khi gặp khó khăn hay chán nản, chúng ta nên dùng ít phút suy nghĩ về cách thức chân phước Grêgôriô Barbarigô đã dùng thời giờ của ngài. Grêgôriô Barbarigô là một người đáng yêu và giàu lòng quảng đại. Ngài đã đem nhiều người tới gần Thiên Chúa hơn bằng gương sáng của ngài.

 

Ngày 19 tháng 6

Thánh Rômualđô

Thánh Rômualđô là một nhà quý tộc người Ý, được sinh khoảng năm 951 tại Ravenna, nước Ý. Khi lên 20 tuổi, Rômualđô bị sốc mạnh khi thấy thân phụ ngài giết chết một người đàn ông trong một cuộc đọ kiếm tay đôi. Rồi thánh Rômualđô vào tu trong đan viện Bênêđictô. Ngài quyết tâm sống cuộc đời ngay chính. Thánh Rômualđô cũng muốn sám hối thay cho hành vi bệ rạc của người cha. Đối với Rômualđô, môi trường và lối sống của đan viện thật mới lạ vì ngài đã quen với nếp sống sang trọng, xa hoa và vô công rỗi nghề ở gia đình. Nhưng dần dần, chàng quý tộc bị ảnh hưởng sâu sắc bởi gương sáng của nhiều đan sĩ. Rômualđô quyết tâm trở nên một đan sĩ. Ngài đã xin một ẩn sĩ tốt lành tên là Marinô dạy cho cách thức nên thánh. Cả Marinô và Rômualđô đã cố gắng dùng thời giờ mỗi ngày để ca ngợi, tôn vinh và yêu mến Thiên Chúa. Thân phụ của Rômualđô là ông Sêgiô đến quan sát lối sống của con trai mình. Ông bị đánh động bởi sự đơn sơ và tinh thần bỏ mình của người con. Sêgiô nhận thức rằng chắc chắn phải có một thứ hạnh phúc đặc biệt nào đó trong đan viện – bởi vì con trai ông đã tự tình chấp nhận sống ở đó. Và đó là mọi điều Sêgiô đang cần. Ông đã từ bỏ mọi thứ của cải mình có và cũng bắt chước người con sống phần đời còn lại như một đan sĩ.

Sau cùng, thánh Rômualđô thiết lập hội dòng Camalđôlêsêô Bênêđictô. Thánh nhân đi khắp nước Ý lập thêm các ẩn viện và các đan viện. Ở bất cứ nơi đâu, thánh Rômualđô cũng đều làm gương sáng cho các đan sĩ về lòng sám hối. Suốt một năm trời, mỗi ngày Rômualđô chỉ ăn chút ít đậu luộc. Rồi cả ba năm tiếp theo, thánh nhân chỉ dùng một ít thức ăn hầu nuôi sống mình. Nhờ những hy sinh này, thánh Rômualđô sống kết hợp mật thiết hơn với Thiên Chúa.

Thánh Rômualđô về trời ngày 19 tháng Sáu năm 1027, tại đan viện Valđi Castrô. Ngài ở một mình trong đan phòng của ngài và qua đời cách lặng lẽ âm thầm. Chắc hẳn thánh Rômualđô đã thầm thĩ lời nguyện rất được ưa chuộng này: “Ôi, lạy Đức Chúa Giêsu dịu hiền! Chúa đáng yêu mến của lòng con! Chúa là niềm khoái cảm vui thích của các linh hồn thanh khiết! Chúa là đối tượng của mọi sự con ước ao!” 

Chúng ta hãy nài xin thánh Rômualđô giúp chúng ta biết quý trọng sự cầu nguyện và sự sống của Chúa Giêsu trong ta. Chúng ta cũng hãy nài xin thánh nhân ban ơn để chúng ta đủ sức thực hiện những việc thiêng liêng cách liên lỉ. Thánh nhân biết khó khăn thách đố là làm sao mà!

 

Ngày 20 tháng 6

Chân phước Mikêlina

Chân phước Mikêlina sinh năm 1300 tại Pêsarô, nước Ý. Gia đình Mikêlina rất giàu có và Mikêlina kết hôn với một người đàn ông cũng rất giàu. Mikêlina là người sung sướng bẩm sinh. Dường như trên đời này Mikêlina chẳng bao giờ gây phiền toái gì cho ai! Nhưng khi chỉ mới 20 tuổi, chồng của Mikêlina qua đời. Đột nhiên, Mikêlina cảm thấy mình cô đơn trong việc nuôi dưỡng đứa con thơ nhỏ.

Người mẹ trẻ có vẻ lo lắng khi tìm kiếm hạnh phúc trong những sự vật xung quanh mình. Cuộc sống của Mikêlina trở thành một chuỗi liên hoan tiệc tùng với các bữa ăn vui lạ. Dường như Mikêlina cảm thấy chán ngấy những của tốt lành mà cuộc đời ban tặng. Sau đó, Mikêlina nhận thức được bổn phận của mình là phải chăm lo cho đứa con nhiều hơn. Mikêlina cũng ý thức sẽ phải trả lẽ về việc sử dụng tiền của và thời giờ của mình. Tâm hồn Mikêlina cảm thấy quá trống rỗng. Cuối cùng, Mikêlina đã hồi tâm và ngài trở nên một người trưởng thành và có trách nhiệm.

Có một bà đạo đức thuộc dòng ba Phanxicô sống ở Pêsarô tên là Syriaca. Bà nhận ra Mikêlina thực là một người nữ tuyệt vời đang cần sự hướng dẫn và giúp đỡ để sống đạo đức hơn. Sau đó, Syriaca và Mikêlina trở thành đôi bạn thân và gương sáng của Syriaca đã ảnh hưởng rất đặc biệt trên cuộc đời Mikêlina. Mikêlina sống cầu nguyện. Ngài năng quan tâm tới đứa con và nhà cửa. Mikêlina dùng thời giờ rảnh rỗi phục vụ những người nghèo túng. Mikêlina viếng thăm những người cô đơn và săn sóc những người quá đau bệnh hoặc quá cao niên không thể tự lo cho bản thân mình. Cuối cùng, Mikêlina trở thành một chị dòng ba Phanxicô. Thoạt đầu, những người thân của Mikêlina cảm thấy lo lắng khi Mikêlina cho đi hết những áo quần đẹp đẽ sang trọng và bắt đầu ăn uống giản dị. Nhưng sau đó, họ hiểu ra Mikêlina đã thực là một người nữ sống nội tâm.

Mikêlina sống cả cuộc đời trong căn nhà ở Pêsarô. Ngài qua đời năm 1356, thọ năm mươi sáu tuổi. Để tưởng nhớ nữ chân phước Mikêlina, người dân của thành phố này đã giữ một chiếc đèn dầu luôn cháy sáng trong căn nhà Mikêlina. Năm 1590, căn nhà của chân phước Mikêlina được kiến thiết thành một ngôi thánh đường. 

Chân phước Mikêlina đã chọn một cuộc sống thoải mái và ích kỷ nếu không chọn làm một Kitô hữu hy sinh và yêu mến. Chính nhờ gương sáng của Syriaca mà Mikêlina trở nên thánh thiện. Chúng ta hãy nài xin chân phước Mikêlina giúp chúng ta dám can đảm học hỏi và bắt chước những người có đời sống mẫu mực tốt lành.

 

Ngày 21 tháng 6

Thánh Luy Gonzaga

Luy Gonzaga, vị thánh bổn mạng của giới trẻ Công giáo, sinh ngày mùng 9 tháng Ba năm 1568. Khi mới chào đời, thân phụ Luy Gonzaga đã có ý huấn luyện ngài thành một sĩ quan vĩ đại. Lúc Luy Gonzaga mới lên 5, người cha đã dẫn Luy vào trong doanh trại quân đội. Ở đó, cậu Luy học cách đi duyệt binh. Thậm chí vào một ngày kia, Luy Gonzaga đã cố gắng xoay sở để nạp đạn vào súng và tập bắn đang lúc các binh lính nghỉ ngơi. Luy Gonzaga cũng học được những tiếng thô tục của binh sĩ. Khi nhận biết ý nghĩa của những từ ngữ này, Luy Gonzaga cảm thấy rất hối hận vì đã sử dụng chúng.

Lớn lên, Luy Gonzaga được gởi vào triều đình sống với các hoàng tử và công tước. Sự gian dối, căm hờn và nhơ bẩn hiển hiện nhan nhản khắp nơi. Nhưng bệnh tật là yếu tố ảnh hưởng đáng kể nhất đã tác động trên thánh Luy Gonzaga và làm cho thánh nhân phải cẩn trọng để sống đời Kitô hữu của ngài. Và Luy Gonzaga đã lâm bệnh. Điều đó đã tạo cho ngài có được chút thời giờ để cầu nguyện và đọc các sách tốt. Khi lên 16 tuổi, Luy Gonzaga quyết định trở nên một linh mục dòng Tên. Thân phụ ngài không bằng lòng. Tuy nhiên, ba năm sau ông đã chấp thuận. Khi nhập dòng, Luy Gonzaga đã xin làm những công việc vất vả và hèn kém. Luy Gonzaga đã phục vụ trong nhà bếp và rửa chén dĩa. Luy thường nói: “Tôi là một miếng sắt cong queo. Tôi đến với Đạo để được chiếc búa khổ chế đền tội tán ra cho thẳng!”

Khi cơn bệnh dịch xâm chiếm Rôma, Luy Gonzaga xin phép bề trên để đi săn sóc những người đau ốm. Luy Gonzaga – một người trước đây đã từng có những đầy tớ hầu hạ phục dịch – vậy mà giờ đây lại đi tắm rửa cho các bệnh nhân và dọn giường chiếu cho họ! Luy Gonzaga đã phục vụ họ cho tới khi chính ngài cũng bị lây bệnh.

Thánh Luy Gonzaga qua đời lúc vừa tròn 23 tuổi. Đó là vào đêm 20 tháng Sáu năm 1591. Ngài đơn sơ thốt lên: “Tôi sắp về thiên đàng!” Xác thánh Luy Gonzaga được mai táng trong thánh đường dâng kính thánh Inhaxiô ở Rôma. Năm 1726, Luy Gonzaga được đức thánh cha Bênêđictô tôn phong hiển thánh.

 Nếu áp lực của danh vọng địa vị bắt chúng ta phải nói và phải làm những điều không nên, chúng ta hãy xin thánh Luy Gonzaga ban cho lòng can đảm để thực thi những điều thiện hảo.

 

Ngày 22 tháng 6

Lịch Rôma hiện hành ghi danh sách ba vị thánh mừng kính ngày 22 tháng Sáu. Chúng tôi xin trình bày ngắn gọn tích truyện các ngài ở đây, lần lượt từng vị một.

 

Thánh Paulinô Nôla

Thánh Paulinô Nôla được sinh vào khoảng năm 353 tại Boócđô, nước Pháp. Thân phụ ngài là một quan chức nhà nước và là một địa chủ giàu có. Paulinô học hành đỗ đạt. Ngài trở thành luật sư và thi sĩ. Ngài đi du lịch khắp các nước Pháp, Tây Ban Nha, Ý và ở bất kỳ nơi nào mà công việc hoặc thú vui khoái lạc đòi hỏi. Năm 381, lúc hai mươi tám tuổi, Paulinô Nôla trở thành quan chức miền Campania, nước Ý.

Năm ba mươi sáu tuổi, thánh Paulinô Nôla trở thành tín hữu Công giáo. Thánh nhân và người vợ Têrêsia của ngài sinh được một cậu con trai. Sau khi đứa con qua đời, đôi vợ chồng bố thí tài sản mình cho những người nghèo đói. Họ chỉ giữ lại những gì cần thiết để nuôi sống bản thân. Paulinô và Têrêsia, cả hai đều bằng lòng muốn sống một đời đơn sơ bình dị. Hai người cùng cầu nguyện, hy sinh và làm những công việc hữu ích. Các ngài cũng quyết định tuân giữ lời khấn trong sạch để minh chứng tình yêu của các ngài dành cho Thiên Chúa. Cộng đoàn Kitô hữu hết sức nể trọng Paulinô và người vợ của ngài. Họ rất hài lòng khi Paulinô trở thành linh mục vào năm 394. Sau đó, thánh Paulinô và Têrêsia thiết lập một cộng đoàn nhỏ dành cho các đan sĩ ở Nôla, nước Ý. Các ngài cũng mở một nhà tế bần cho những người nghèo và các lữ khách.

Paulinô và Têrêsia quyết định ở lại Nôla. Paulinô muốn ở gần đền thánh Phêlích Nôla, một trong các đấng thánh mà ngài yêu mến. Thánh Phêlích, mất năm 260, đã làm linh mục và giám mục. Thánh nhân đã can đảm bảo vệ bổn đạo của mình trong suốt cuộc khủng bố bách hại của hoàng đế Đêsiô. Thánh giám mục Phêlích Nôla nổi tiếng về đời sống cầu nguyện, về tình yêu đối với đàn chiên và về lối sống đơn sơ nghèo khó. Qua một thế kỷ sau, Paulinô Nôla cầu nguyện với thánh nhân và viết sách về ngài. Paulinô Nôla cảm thấy hết sức tin tưởng vào quyền năng của thánh Phêlích. Vậy điều gì đã có thể làm cho cựu quan chức Rôma này trở nên giống như thánh Phêlích? Ngoài thánh Paulinô ra, hẳn là chẳng ai trong chúng ta có thể phỏng đoán được. Năm 409, Paulinô Nôla được chọn làm giám mục thành Nôla. Dân chúng rất sung sướng vui mừng. Paulinô Nôla là vị giám mục khôn ngoan, dịu dàng, hiền lành giống như thánh Phêlích trước đây. Nhiều vị thánh sống vào thời ấy đã ca ngợi Paulinô Nôla như thánh Ambrôsiô, thánh Augustinô, thánh Giêrônimô, thánh Martinô thành Tua và nhiều vị khác. Dù một số tác phẩm hay của Paulinô Nôla đã bị thất lạc nhưng hiện vẫn còn lại 32 bài thơ và 51 lá thơ.

Thánh Paulinô làm giám mục thành Nôla cho tới khi qua đời năm 431.

 Thánh Paulinô Nôla đã trở nên một tín hữu Công giáo tuyệt vời như vậy bởi vì ngài rất quý trọng ơn đức tin. Chúng ta hãy khẩn cầu cùng thánh Paulinô Nôla và xin ngài giúp chúng ta tăng triển lòng biết ơn đối với đức tin đã lãnh nhận.

 

Thánh Gioan Phítsơ

Thánh Gioan Phítsơ sinh tại Gioócsi, nước Anh vào năm 1469. Gioan học tại trường đại học Cambrít và được làm linh mục. Cha Phítsơ cũng dạy học tại Cambrít. Ngài là một nhà giáo ưu tú chuyên giúp các sinh viên tăng triển và đào sâu thêm tri thức về đức tin của họ. Cha Phítsơ cũng là một thần học gia. Cha đặc biệt giúp ích trong việc chỉ ra những nhầm lẫn tôn giáo của thời đại mà những nhầm lẫn này đã làm cho một số người bối rối.

Năm 1504, cha Gioan Phítsơ trở thành giám mục thành Rôchétxtơ, nước Anh. Đó là một giáo phận nghèo và giám mục Phítsơ đã lưu lại với đàn chiên của ngài suốt ba mươi năm. Vì thế, giám mục Phítsơ kiêm một lúc hai nhiệm vụ quan trọng. Ngài vừa là giám mục của giáo phận vừa là hiệu trưởng của trường đại học Cambrít. Năm 1514, Phítsơ được chỉ định làm hiệu trưởng trường đại học vì sự sống còn của nó. Giám mục Phítsơ cũng là cha giải tội của thân mẫu vua Henri VIII. Tên của bà là Êlizabeth Gioóc.

Giám mục Gioan Phítsơ có nhiều bạn bè, gồm cả học giả danh tiếng Êrasmô và thánh cả Tôma Môrê. Ít người biết được thánh giám mục Gioan Phítsơ và thánh Tôma Môrê cùng được mừng kính chung một ngày lễ trong niên lịch kính nhớ các thánh.

Chắc chắn chưa có cuộc mừng khi đức giám mục Phítsơ bị giam tù năm 1533. Ngài bị bắt giam tù vì đã nhất định minh chứng cuộc hôn nhân giữa nhà vua và hoàng hậu Catarina là đúng đắn. Sau đó, vua Henri VIII ly dị Catarina và kết hôn với Annê Bôlây trong một nghi thức dân sự. Ông yêu cầu thần dân ký tên vào văn bản thề hứa trung thành với ông. Ông tự phong cho mình là thủ lãnh Giáo hội Anh quốc. Giám mục Phítsơ không ký tên. Và liền sau đó, ngài bị đem tới tháp đài Luânđôn, một chiếc tháp thật ẩm ướt và cách đối xử ở đó rất ư khắc nghiệt. Thánh giám mục Gioan Phítsơ tuy phải chịu đựng rất nhiều đau khổ nhưng ngài đã không phản bội niềm tin của mình. Thậm chí dù chưa có tivi và máy thu thanh nhưng người ta vẫn nhận biết được những việc mà giám mục Phítsơ, ngài Tôma Môrê và những người khác, đã thực hiện. Họ xúc động và đau buồn. Ngày 12 tháng Sáu năm 1535, đức thánh cha Phaolô III đã đặt giám mục Gioan Phítsơ làm hồng y. Đức thánh cha hy vọng rằng việc này sẽ làm cho Henri VIII trả lại tự do cho Phítsơ. Nhưng vua càng thêm tức giận và độc ác. Ông yêu cầu hồng y Phítsơ phải chết. Gioan Phítsơ bị giết chết ngày 22 tháng Sáu năm 1535.

Cùng với người bạn Tôma Môrê, hồng y Gioan Phítsơ được đức thánh cha Piô XI tôn phong lên bậc hiển thánh năm 1935.

Đôi lúc bạn dễ đồng tình với đám đông hơn là đứng ra bênh vực chân lý. Khi thấy mình lâm vào tình trạng như vậy, bạn hãy cầu nguyện xin thánh Gioan Phítsơ ban cho một chút lòng can đảm của ngài.

 

Thánh Tôma Môrê

Thánh Tôma Môrê là một luật sư và là một văn gia danh tiếng. Ngài sinh tại Luânđôn vào năm 1477. Thân phụ của Tôma Môrê cũng từng là một luật gia và là một quan tòa. Tôma hằng biết ơn cha mình vì đã hết sức yêu thương và đã không làm ngài hư hỏng.

Người vợ thứ nhất của Tôma, bà Giên Côn, đã qua đời khi còn rất trẻ. Bà để lại cho Tôma bốn người con nhỏ. Tôma Môrê kết hôn lần nữa với một quả phụ, một quả phụ đơn sơ chất phác chẳng biết viết cũng chẳng biết đọc gì cả. Người chồng đã gắng công dạy dỗ vợ mình. Tôma làm cho bầu khí gia đình trở nên vui tươi dễ chịu bởi vì ngài có tính vui vẻ hòa nhã đối với mọi người. Có một trẻ đọc trích đoạn Kinh Thánh suốt bữa ăn. Sau đó, cả nhà vui đùa và nói chuyện khôi hài với nhau. Thánh Tôma Môrê cũng hay mời những người láng giềng nghèo khó xấu số hơn tới nhà ngài dùng bữa tối. Ngài luôn luôn giúp đỡ người nghèo theo khả năng có thể. Thánh nhân thích tạo sự ngạc nhiên bất ngờ cho các vị khách của ngài. Thậm chí Tôma Môrê cũng nuôi vài chú khỉ làm những con vật cưng trong nhà. Nhưng ít người có thể hình dung ra thánh Tôma Môrê thật đã sống nội tâm sâu xa đến độ nào. Ban đêm, ngài đã cầu nguyện hàng giờ và thực hành nhiều việc khổ chế. Thánh nhân ý thức rõ rằng để trở nên một Kitô hữu đích thực thì cần phải có ơn Thiên Chúa giúp đỡ.

Thánh Tôma Môrê nắm giữ những chức vụ chính trị quan trọng. Suốt ba năm, thánh nhân làm đại chưởng ấn (ngày nay gọi là thủ tướng). Vua Henri VIII thường khoác tay mình trên vai của Tôma Môrê cách yêu thương trìu mến. Tuy nhiên, dù Tôma Môrê là một thần dân rất trung thành, thì đối với Thiên Chúa, thánh nhân vẫn trung thành hơn. Thật sự là khi nhà vua cố làm cho Tôma Môrê vi phạm lề luật của Thiên Chúa, Tôma Môrê đã không chịu nhượng bộ. Henri VIII muốn được ly dị người vợ của ông để cưới một người đàn bà khác. Tuy nhiên, đức thánh cha không thể ban phép vì đi ngược lại luật Thiên Chúa dạy. Henri VIII thật bướng bỉnh và ngoan cố; và sau cùng, ông đã rời bỏ Giáo hội. Ông muốn mọi người tôn nhận ông là thủ lãnh của Giáo hội Anh quốc. Tôma không đồng ý chuyện đó. Ngài kiên quyết luôn trung thành với đức tin Công giáo và với Thiên Chúa. Và Tôma Môrê bị kết án tử vì lý do đó. Tuy vậy, Tôma Môrê đã tha thứ cho các kẻ xét xử ngài. Thậm chí thánh nhân còn nói rằng ngài sẽ gặp lại họ trên nước thiên đàng. Tôma Môrê thật sự có ý như vậy.

Trên đoạn đầu đài nơi ngài sắp sửa phải lìa đời, thánh Tôma Môrê đã hôn lên mặt của người đao phủ. Sau đó, thánh nhân nói đùa rằng không nên chém đứt bộ râu của ngài bởi vì nó chẳng làm điều gì nên tội. Thánh nhân được phúc tử vì đạo vào hôm thứ Ba ngày mùng 6 tháng Bảy năm 1533, thọ năm mươi bảy tuổi. Cùng với hồng y Gioan Phítsơ, Tôma Môrê được đức thánh cha Piô XI tôn phong lên bậc hiển thánh năm 1935.

Vị thánh này được mọi người ngưỡng mộ vì ngài đã hết lòng tin tưởng vào chân lý đức tin; và ngài đã sẵn lòng hy sinh mạng sống vì chân lý ấy. Thánh Tôma Môrê đã liều mất hết mọi thứ: tài sản, địa vị, sự an toàn của bản thân và của những người ngài thương yêu nhất. Thánh Tôma Môrê đã giữ vững đức tin dù phải hy sinh cả mạng sống của mình. Thánh nhân thách đố chúng ta tự vấn lương tâm xem chúng ta sẽ làm gì nếu ở trong hoàn cảnh giống y như ngài.

 

 

Ngày 23 tháng 6

Thánh Giuse Caphasô

Thánh Giuse Caphasô sinh năm 1811 tại miền Bắc nước Ý, gần thành phố Turinô. Bốn năm sau, năm 1815, một trong các sinh viên danh tiếng của Giuse Caphasô là thánh Gioan Bôscô cũng được sinh ra trong thành phố này. Chúng ta đã cử hành thánh lễ kính thánh nhân hôm 31 tháng Giêng. Giuse Caphasô có song thân thật yêu quý. Họ sẵn lòng hy sinh cho ngài ăn học đến nơi đến chốn. Giuse Caphasô đến Turinô để học hành và làm linh mục.

Giuse Caphasô gặp Bôscô năm 1827, lúc Bôscô lên mười hai tuổi. Bôscô nói chuyện với chủng sinh Caphasô tại nhà thờ rồi chạy một mạch về nhà. “Mẹ ơi! Mẹ ơi!” Gioan Bôscô gọi to, “con đã gặp Ngài, con đã gặp Ngài!” “Con đã gặp ai vậy? Thân mẫu Bôscô hỏi. “Mẹ ơi, Giuse Caphasô. Con nói cho mẹ biết ngài là một vị thánh đó!” Bà mẹ Bôscô chỉ mỉm cười với con mình và nhẹ nhàng gật đầu. Năm 1833, Giuse Caphasô được thụ phong linh mục. Thánh nhân bắt đầu thi hành công việc mục vụ của ngài và đến theo học tại trường dạy thần học danh tiếng dành cho các linh mục. Sau khi tốt nghiệp, cha Giuse Caphasô trở thành giáo sư thần học. Ngài dạy rất nhiều linh mục trẻ suốt nhiều năm. Họ có thể nói được rằng cha Giuse Caphasô đã thực sự yêu thương họ.

Cha Giuse Caphasô nổi tiếng là vị linh mục tin tưởng vào lòng thương xót dịu hiền và nhân hậu của Thiên Chúa. Vì có tấm lòng rất quảng đại nên Giuse Caphasô đã thông trao cho tha nhân sự can đảm và niềm hy vọng của ngài. Cha Giuse Caphasô hướng dẫn nhiều linh mục, tu sĩ và giáo dân. Giuse Caphasô giúp Gioan Bôscô khởi sự thừa tác vụ linh mục cao quý của ngài với các cậu trẻ; và cũng hướng dẫn Bôscô thiết lập hội dòng Salêdiêng. Cha Giuse Caphasô cũng hướng dẫn nhiều nhà sáng lập khác nữa.

Có nhiều nhu cầu xã hội trong thời đại của cha Caphasô. Một trong các vấn đề khẩn thiết nhất là hệ thống nhà tù. Tình trạng nhà tù thật kinh tởm! Nhưng điều làm cho cha Caphasô xúc động nhất là án lệ treo cổ các tù nhân nơi công cộng. Cha Caphasô đến với họ và giải tội cho họ. Cha ở lại với họ, nói cho họ nghe về tình yêu và lòng thương xót của Thiên Chúa cho tới lúc họ chết. Cha Caphasô đã giúp trên 60 người bị kết án. Tất cả đều ăn năn thống hối và được chết trong bình an của Đức Chúa Giêsu. Cha Caphasô gọi họ là “những vị thánh bị treo cổ.”

Năm 1848, cha Caphasô trở thành chủ chăn của giáo xứ thánh Phanxicô. Không ai có thể đo lường được ảnh hưởng lớn lao của cha trên cộng đoàn dân Chúa và các việc cha đã làm cho Giáo hội. Cha Caphasô qua đời ngày 23 tháng Sáu năm 1860. Người bạn trung tín của Giuse Caphasô là thánh Gioan Bôscô đã thuyết giảng trong thánh lễ an táng ngài. Năm 1947, đức thánh cha Piô XII đã tôn phong Giuse Caphasô lên bậc hiển thánh.

Chúng ta chẳng bao giờ có thể quảng đại và thông cảm với tha nhân cho đủ. Nếu chúng ta lỡ bị cám dỗ coi thường người khác vì quá quen, hoặc chỉ lo quan tâm đến bản thân mình thôi, chúng ta hãy cầu nguyện cùng thánh Giuse Caphasô. Ngài sẽ giúp chúng ta có được tấm lòng rộng rãi như ngài.

 

 

Ngày 24 tháng 6

Lễ sinh nhật thánh Gioan tẩy giả

Song thân của Gioan tẩy giả là ông Dacaria và bà Êlizabeth. Êlizabeth là chị họ của Đức Maria, Mẹ Chúa Giêsu. Mẹ Maria đã đến thăm nom và giúp đỡ khi Êlizabeth già nua và sắp sinh con.

Thánh nữ Êlizabeth sinh con trai. Dacaria đặt tên cho trẻ là Gioan như thiên thần đã báo trước. Gioan có một ơn gọi đặc biệt quan trọng. Ngài dọn đường cho Đức Chúa Giêsu ngự đến. Vì thế ngay từ hồi niên thiếu, Gioan đã vào trong sa mạc để dọn lòng thinh lặng, cầu nguyện và sám hối. Chẳng bao lâu, dân chúng bắt đầu kéo đến với Gioan. Họ nhận thấy Gioan là người thánh thiện. Gioan khuyên dạy họ hãy thống hối về những lỗi lầm đã phạm. Gioan bảo họ hãy thay đổi lối sống; và Gioan ban cho họ phép rửa sám hối. Một ngày kia, chính Đức Chúa Giêsu đã đến với Gioan. Người muốn được nhận phép rửa của Gioan để đền bù tội lỗi chúng ta. Ngày hôm ấy, Gioan đã nói với dân chúng rằng chính Đức Chúa Giêsu là Đấng Mêsia, Đấng mà họ đang trông đợi. Ngài bảo họ và mọi người khác hãy đi theo Đức Chúa Giêsu.

Sau đó, thánh Gioan biết được vua Hêrôđê đã kết hôn với một người đàn bà đã có chồng và đã sinh được một người con gái. Vua này là con trai của vua Hêrôđê, người đã giết chết tất cả các con trẻ ở Bêlem. Thánh Gioan nói với Hêrôđê rằng ông không được sống với người đàn bà ấy. Vua Hêrôđê tức giận và cảm thấy tủi hổ. Ông liền sai người bắt nhốt Gioan vào tù. Gioan đã lưu lại trong ngục tù tăm tối ẩm thấp cho tới khi Hêrôđê sai người đến giết ngài.

Châm ngôn của thánh Gioan là: “Chúa Giêsu phải lớn lên. Tôi phải nhỏ lại.” Thánh nhân nói rằng ngài chẳng xứng đáng để cởi quai dép cho Đức Chúa Giêsu.

 Thánh Gioan tẩy giả là một tiên tri lớn. Nơi chương thứ 11 của Tin mừng, thánh ký Mátthêu đã ca ngợi thánh Gioan tẩy giả bằng chính những lời của Đức Chúa Giêsu. Khi chúng ta ham thích làm người “số một,” chúng ta hãy xin thánh Gioan tẩy giả dạy chúng ta biết sống khiêm tốn. Chúng ta cũng hãy nài xin thánh nhân giúp chúng ta nhận ra giá trị của sự khiêm tốn.

 

Ngày 25 tháng 6

Thánh William núi Đức Trinh Nữ

Thánh William sinh tại Vơsơli, nước Ý, vào năm 1085. Song thân của William qua đời khi ngài còn rất nhỏ. Những người bà con của William đã nuôi dưỡng ngài. Khi William trưởng thành, ngài trở nên một ẩn sĩ. William đã làm phép lạ chữa lành một người đàn ông bị mù lòa; và vì vậy, danh tiếng ngài vang xa. William hết sức khiêm tốn đến nỗi không vui thích sự ngưỡng mộ của người đời. Thánh nhân thật lòng muốn sống đời ẩn tu để có thể kết hợp mật thiết với Thiên Chúa. Thánh William đã ra đi sống ẩn mình trên một ngọn núi hoang cao vút. Bây giờ thì chẳng còn ai quấy rầy William được nữa! Nhưng ngay cả nơi ấy William cũng chẳng được yên thân. Người ta lại tìm đến tụ tập quanh thánh nhân và họ xây cất một đan viện dâng kính Đức Trinh Nữ Maria. Do bởi đan viện của William mà người ta đặt cho quả núi một tên gọi mới. Họ gọi nó là “núi Đức Trinh Nữ.”

Một thời gian sau, có vài đan sĩ bắt đầu kêu ca rằng lối sống thật quá khó. Họ muốn được dùng những món ăn khá hơn và thời gian biểu thoải mái hơn. Nhưng thánh William không tự giảm bớt hoặc châm chước kỷ luật cho mình. Thay vào đó, thánh nhân đã chọn một vị bề trên mới cho các đan sĩ. Rồi William và 5 đồ đệ trung thành đã ra đi và thiết lập một đan viện khác cũng giữ nguyên kỷ luật khắt khe như trước. Một trong các bạn đồng hành của William là thánh Gioan Mantua. Cả William và Mantua đều là những nhà lãnh đạo. Các ngài nhận thấy nếu chia tay nhau để mỗi người thiết lập một đan viện mới thì ích lợi hơn. Các ngài là những người bạn vĩ đại nhưng có lối nhìn sự việc khác nhau. Gioan tiến lên phía đông và William trẩy xuống phía tây. Cả hai đều rất thành công. Thật vậy, cả hai đều là những vị thánh.

Sau đó, vua Rôgiơ xứ Napôli giúp đỡ thánh William. Ảnh hưởng tốt của William trên nhà vua đã làm cho một vài người xấu bụng trong cung điện tức giận. Họ cố chứng tỏ cho vua biết William thật là một người xấu xa và ác độc, chỉ ẩn nấp sau lớp vỏ thánh thiện bề ngoài mà thôi. Và họ đã sai một đàn bà trắc nết đến cám dỗ William nhưng bà ta đã không thành công. Dường như bà đã ăn năn hoán cải và từ bỏ lối sống tội lỗi.

Thánh William núi Đức Trinh Nữ qua đời ngày 25 tháng Sáu năm 1142.

Nếu bạn có chuyện bực tức và giận ghét ai, bạn hãy nài xin thánh William núi Đức Trinh Nữ tỏ cho bạn thấy những điểm tốt nơi con người ấy. Thánh nhân sẽ gợi hứng cho bạn biết cách làm thế nào để sống thân thiện với người ấy.

 

Ngày 26 tháng 6

Thánh Pêlagiô

Vị thánh tử đạo trẻ tuổi gốc người Tây Ban Nha này sống vào thời những người Hồi giáo xứ Bắc Phi cai trị phần đất quê hương của ngài. Quân Hồi giáo xông đánh những tín hữu Công giáo Tây Ban Nha. Khi người cậu của Pêlagiô phải bỏ ngài ở lại để làm con tin trong thành Côđôva, Pêlagiô lúc ấy mới chỉ lên 10 tuổi. Pêlagiô không được phép tự do đi đâu cho tới khi người cậu gởi cho ngài những thứ mà bọn Hồi giáo yêu cầu.

Ba năm trôi qua và người Kitô hữu trẻ tuổi này vẫn bị cầm giữ như một tù binh. Lúc này, Pêlagiô là một cậu bé 13 tuổi bảnh trai và rất năng động. Dù nhiều anh bạn tù chung với mình có những hành vi xấu, nhưng Pêlagiô cũng không vì thế mà bắt chước họ. Thậm chí dù tuổi còn nhỏ nhưng Pêlagiô đã có một chí khí mạnh mẽ và biết cách giữ mình cho khỏi bị lây nhiễm những thói tục xấu xa ấy.

Nhà lãnh đạo quân Hồi giáo nghe biết những cách đối xử tốt lành của Pêlagiô. Ông đã cho gọi cậu bé. Pêlagiô trông thật bảnh trai và rất lịch duyệt. Ông tỏ lòng rộng rãi khoan dung muốn cho Pêlagiô ra khỏi tù. Rốt cuộc, Pêlagiô mới chỉ là một cậu nhỏ. Pêlagiô sẽ được thả tự do cộng thêm mấy bộ đồ tốt để mặc. Không những thế, Pêlagiô còn nhận được vài chú ngựa quý và tiền bạc nữa. Tất cả những thứ này sẽ thuộc về Pêlagiô nếu như Pêlagiô chối bỏ đức tin và trở nên một tín đồ Hồi giáo như những người bắt giam ngài.

“Tất cả những thứ mà ông ban tặng đó chẳng có nghĩa lý gì đối với tôi cả!” Cậu bé trả lời cách cương quyết và dứt khoát. “Tôi đã là một Kitô hữu. Hiện nay tôi đang là Kitô hữu và tôi sẽ tiếp tục là Kitô hữu!” Nhà lãnh đạo hết sức ngạc nhiên. Rồi ông thay đổi phương sách của mình. Ông ngăm đe nạt nộ thay vì hứa hẹn... . Nhưng kết cục chẳng ăn thua gì!

Cậu Pêlagiô 13 tuổi đã tử vì đạo năm 925.

 Thánh Pêlagiô nhắc nhớ chúng ta rằng sự cam kết của chúng ta với Đức Chúa Giêsu rất can hệ và có ảnh hưởng trong đời sống hằng ngày của chúng ta. Khi chúng ta thấy mình yếu đuối, không thể chịu đựng nổi áp lực xã hội, chúng ta hãy nài xin thánh Pêlagiô làm cho chúng ta được mạnh mẽ và trưởng thành trong đức tin như ngài.

 

 

Ngày 27 tháng 6

Thánh Xyrilô Alêxanđria

Thánh Xyrilô sinh tại Alêxanđria, nước Ai Cập, vào năm 370. Người cậu của Xyrilô, Thêôphilô, là thượng phụ giáo chủ hay còn gọi là tổng giám mục. Cậu ngài là người có khả năng nhưng tính tình dễ bực tức và đôi lúc cứng cỏi đến bướng bỉnh. Hẳn là người cậu đã không thể biết trước được, cũng như chúng ta, rằng Gioan kim khẩu thời danh một ngày kia sẽ là thánh. Chúng ta mừng lễ kính thánh Gioan kim khẩu ngày 13 tháng Chín. Đức tổng giám mục Thêôphilô có trách nhiệm về việc trục xuất Gioan khỏi xứ sở vào năm 403. Nhưng nhà vua lại đưa vị giám mục danh tiếng trở về tổng giáo phận Constantinôp của ngài. Dường như Xyrilô cũng bị ảnh hưởng bởi thành kiến của người cậu về Gioan; và Xyrilô đã tán thành việc trục xuất Gioan.

Năm 412, khi người cậu qua đời, Xyrilô lên kế vị chức tổng giám mục. Xyrilô có một lòng yêu mến Đức Chúa Giêsu và Giáo hội rất bền chặt. Trong thời buổi rối ren lộn xộn, chính thánh Xyrilô là người can đảm luôn rao giảng những điều Giáo hội truyền dạy. Thánh Xyrilô sống chân thực, cởi mở và giản dị. Thánh nhân không tìm kiếm danh vọng hay địa vị nào. Tuy nhiên, đôi lúc Xyrilô cũng tỏ ra bốc đồng và rất cứng cỏi. Thánh nhân muốn diễn tả những chân lý của Giáo hội qua việc giảng dạy và viết lách của mình; và ngài đã thực hiện. Nhưng khi nóng giận, những điều Xyrilô nói thật không luôn luôn dễ hiểu chút nào. Dĩ nhiên, Xyrilô chẳng quan tâm đến việc nói năng cách dịu dàng nên đôi lúc ngài cũng thốt ra những lời giận dữ.

Điều này đã làm cho Xyrilô cảm thấy sầu khổ. Tuy nhiên, các Kitô hữu biết ơn và vẫn cảm thấy rất dễ chịu vì nhiều đức tính quý báu nơi ngài. Chẳng hạn, Xyrilô đã can đảm đứng ra bảo vệ Giáo hội và các điều Giáo hội truyền dạy phải tin.

Thánh Xyrilô là vị đại diện của đức thánh cha Celestinô I tại Công đồng chung Êphêsô năm 431. Đây là hội nghị Giáo hội chính thức của trên 200 giám mục. Các vị phải suy cứu những giáo huấn của một linh mục tên là Nestôriô. Công đồng cắt nghĩa rõ ràng là Nestôriô đã sai lầm về một số chân lý quan trọng buộc giáo hữu phải tin. Đức thánh cha cho Nestôriô mười ngày để xác quyết là ông sẽ không tiếp tục giảng dạy những ý tưởng sai lầm của ông nữa. Nhưng Nestôriô ngoan cố không chịu nhượng bộ. Công đồng đã giải thích cho cộng đoàn dân Chúa hiểu rằng không thể chấp nhận những ý tưởng sai lầm ấy. Các giám mục đã cắt nghĩa rất sáng sủa và minh bạch đến nỗi những giáo huấn sai lầm này về sau đã không trở thành những hiểm họa nghiêm trọng.

Dân chúng rất biết ơn thánh Xyrilô Alêxanđria là người đã chủ tọa những buổi hội thảo của Công đồng. Nestôriô âm thầm trở về đan viện của ông và chấm dứt việc làm cho dân chúng hoang mang lo lắng. Còn Xyrilô thì trở về tòa tổng giáo mục và tích cực làm việc phục vụ Giáo hội cho tới khi qua đời năm 444. Đến năm 1883, đức thánh cha Lêô XIII đã tôn phong thánh Xyrilô Alêxanđria làm Tiến sĩ Hội Thánh. 

Chẳng có gì phải lo âu chán nản khi thấy chúng ta không làm được việc này việc kia như chúng ta phải làm. Chúng ta hãy nài xin thánh Xyrilô Alêxanđria giúp chúng ta biết sống với những giới hạn của mình.

 

 

Ngày 28 tháng 6

Thánh Irênê

Thánh Irênê là người gốc Hy Lạp, được sinh vào khoảng giữa những năm 120 và 140. Irênê có đặc ân lớn lao là được giáo huấn bởi thánh Pôlycapô, môn đệ thánh Gioan tông đồ. Lần kia, thánh Irênê nói với một người bạn: “Tôi rất cẩn trọng lắng nghe những lời chỉ dạy của thánh Pôlycapô. Tôi không ghi lại những hành động và lời nói của ngài trên giấy tờ nhưng trong tận trái tim tôi!”

Sau khi làm linh mục, thánh Irênê được sai đến thành Lyông, nước Pháp. Chính trong thành phố này, giám mục Pôtiniô đã được phúc tử đạo cùng với rất nhiều vị thánh khác. Lúc đó, thánh Irênê không được tử đạo vì các anh em linh mục của Irênê đã xin ngài chuyển giúp một sứ điệp quan trọng tới đức thánh cha ở Rôma. Trong thơ ấy, họ nói Irênê là một người đầy hăng hái và nhiệt thành đối với đức tin Công giáo.

Khi thánh Irênê trở về để nhận chức giám mục thành Lyông thì cuộc bách hại chấm dứt. Nhưng lại có một hiểm họa khác: đó là lạc thuyết gọi là thuyết Ngộ Đạo. Tà thuyết này đã hấp dẫn thu hút được một số người bởi nó hứa hẹn sẽ cho người ta được biết những mầu nhiệm huyền bí. Thánh Irênê nghiên cứu tất cả giáo thuyết của tà đạo này; và sau đó, thánh nhân đã chỉ ra những điểm sai lầm của nó trong năm cuốn sách. Irênê trình bày cách rất thanh nhã vì ngài muốn đem mọi người trở về với Đức Chúa Giêsu. Tuy thế, đôi chỗ Irênê cũng sử dụng những từ ngữ mạnh nghĩa. Chẳng hạn như ngài nói: “Khi một người vừa theo phái Ngộ Đạo, nó liền lên mặt hãnh diện kiêu căng. Nó có dáng vẻ oai vệ của một chú gà trống tập đi khệnh khạng…” Nhiều người đã đọc sách của thánh Irênê. Sau đó ít lâu, cả lạc thuyết bắt đầu tự phân tán hủy diệt. Thánh Irênê qua đời khoảng năm 202. Nhiều người cho rằng Irênê đã chịu tử vì đạo.

 Thánh Irênê luôn luôn ghi nhớ những điều thánh Pôlycapô truyền dạy. Chúng ta cũng có thể tạo cho mình một tập quán biết ơn đối với những người đã dạy bảo chúng ta những điều hay lẽ phải. Chúng ta hãy cố gắng mang những điều đã học ra thực hành. Chúng ta cũng hãy cầu nguyện cho những người đã dạy dỗ chúng ta.

 

Ngày 29 tháng 6

Thánh Phêrô

Thánh Phêrô là một người đánh cá miền Galilêa. Đức Chúa Giêsu đã mời gọi Phêrô bước theo Người. Chúa nói: “Ta sẽ làm cho ngươi trở thành một ngư phủ lưới người!” Thánh Phêrô là người khiêm tốn, đơn sơ và chăm chỉ làm việc. Thánh nhân có tâm hồn quảng đại, tốt bụng và rất yêu mến Đức Chúa Giêsu. Tên của vị tông đồ này là Simon nhưng Đức Chúa Giêsu đổi thành Phêrô, nghĩa là “đá.” “Ngươi là đá,” Đức Chúa Giêsu nói, “và trên đá này Ta sẽ xây Hội Thánh của Ta!” Thánh Phêrô là thủ lãnh các tông đồ và là giám mục đầu tiên của Rôma.

Khi Đức Chúa Giêsu bị bắt, thánh Phêrô rất hoảng sợ. Lúc đó, thánh nhân đã phạm tội chối Chúa ba lần. Nhưng Phêrô đã ăn năn sám hối cách trọn. Suốt phần đời còn lại, Phêrô đã than khóc vì tội lỗi ấy. Đức Chúa Giêsu đã tha thứ cho Phêrô. Sau khi sống lại, Chúa hỏi Phêrô ba lần: “Con có yêu mến Ta không?” “Lạy Chúa,” Phêrô đáp lại, “Chúa biết mọi sự. Chúa biết con mến Chúa!” Chúa Giêsu biết rõ tâm hồn Phêrô; và bằng giọng nói dịu dàng, Chúa bảo Phêrô: “Hãy chăn dắt các chiên của Ta! Hãy chăn giữ các chiên mẹ của Ta!” Người nói Phêrô hãy chăm sóc canh giữ Giáo hội của Người vì Người sắp về trời. Đức Chúa Giêsu đã đặt thánh Phêrô làm thủ lãnh các môn đệ của Chúa.

Cuối cùng, thánh Phêrô đến sống ở Rôma là trung tâm của đế quốc La Mã. Tại đó, thánh nhân đã làm cho nhiều người ngoại giáo trở lại. Khi cuộc bách hại các Kitô hữu xảy ra, họ đã nài xin Phêrô rời bỏ Rôma để thoát thân. Người ta nói rằng thánh Phêrô đã thực sự ra đi; nhưng trên đường ngài đã gặp Đức Chúa Giêsu. Phêrô hỏi Chúa: “Lạy Chúa, Chúa đang đi đâu vậy?” Đức Chúa Giêsu trả lời: “Ta đến để chịu đóng đinh thêm một lần nữa!” Sau đó, Phêrô quay trở lại. Ngài nhận ra rằng thị kiến này có ý cho biết ngài sẽ phải chịu đau khổ và chịu chết vì Đức Chúa Giêsu. Rồi ít lâu sau, Phêrô đã bị bắt giam và bị kết án tử hình. Bởi vì không phải là công dân Rôma, nên như Đức Chúa Giêsu, Phêrô có thể bị đóng đinh. Lần này, ngài đã không chối Chúa. Lần này, Phêrô đã sẵn sàng chết cho Đức Chúa Giêsu. Thánh Phêrô xin được chịu đóng đinh ngược với cái đầu trút xuống đất, vì Phêrô cảm thấy mình chẳng xứng đáng được chịu đau khổ như Đức Chúa Giêsu. Quân lính Rôma cho đây là chuyện bình thường bởi vì các người nô lệ cũng bị đóng đinh với cùng một thể thức ấy.

Thánh Phêrô chịu tử đạo trên đồi Vatican khoảng năm 67. Vào cuối thế kỷ thứ tư, hoàng đế Constantinô đã xây cất một ngôi thánh đường lớn trên nơi thánh ấy. Các tài liệu khảo cổ xác nhận những sự kiện này.

Ngày nay, đức giám mục Rôma là vị kế nghiệp thánh Phêrô. Chúng ta gọi ngài là đức giáo hoàng, nghĩa là Cha.

Chúng ta hãy học hỏi nơi thánh Phêrô điều này là: khi đặt Đức Chúa Giêsu làm trung tâm của linh hồn và cuộc sống mình, thì mọi chuyện khác sẽ được giải quyết cách dễ dàng êm đẹp.

 

Thánh Phaolô

Thánh Phaolô, vị tông đồ vĩ đại, là người đã từng bắt bớ các Kitô hữu tiên khởi. Sau đó Phaolô được ơn trở lại. Chúng ta đã mừng lễ kính thánh Phaolô trở lại hôm 25 tháng Giêng. Lúc thánh nhân trở lại, Đức Chúa Giêsu nói: “Ta sẽ tỏ cho con biết con sẽ phải chịu nhiều đau khổ vì Ta!” Thánh Phaolô yêu mến Đức Chúa Giêsu rất nhiều, nhiều đến nỗi ngài đã trở nên bản sao sống động của Đấng Cứu Chuộc chúng ta. Cả cuộc đời, đặc biệt trong suốt những chuyến đi truyền giáo, thánh Phaolô đã gặp đủ loại khó khăn và nguy hiểm. Thánh nhân bị đánh đòn, ném đá, đắm tàu, bị trôi dạt lênh đênh trên biển cả. Rất nhiều lần thánh Phaolô phải chịu đói, chịu khát và chịu rét.

Nhưng thánh Phaolô luôn luôn tín thác vào Thiên Chúa. Thánh nhân không bao giờ thôi việc rao giảng Tin mừng. Ngài nói: “Chính Tình Yêu Đức Chúa Giêsu đã thúc bách tôi!” Để ân thưởng Phaolô, Đức Chúa Giêsu đã ban cho ngài cảm nghiệm thấy niềm vui và an ủi đặc biệt trong những nỗi đau khổ ngài chịu.

Chúng ta đọc thấy những cuộc phiêu lưu mạo hiểm đầy kinh ngạc của thánh Phaolô vì danh Chúa Giêsu trong sách Tông đồ Công vụ của thánh ký Luca, khởi đầu từ chương thứ chín. Nhưng truyện kể của thánh ký Luca kết thúc khi Phaolô đến Rôma. Ngài bị bắt giam, chờ hoàng đế Nêrô xét xử. Một văn gia danh tiếng thuộc Kitô giáo tiên khởi là Téctulianô nói với chúng ta rằng Phaolô được trả tự do sau lần xét xử đầu tiên. Nhưng sau đó ngài lại bị tống ngục. Lần này thánh nhân bị kết án tử hình. Thánh Phaolô qua đời khoảng năm 67, trong thời kỳ Nêrô khủng bố các Kitô hữu.

Thánh Phaolô tự nhận mình là tông đồ của các dân ngoại. Thánh nhân rao giảng Tin mừng cho những người ngoài Dothái. Việc này đã làm cho thánh Phaolô được biết đến trên khắp thế giới. Cũng nhờ Phaolô mà chúng ta được nhận lãnh đức tin Công giáo. 

Đôi khi chúng ta nhận thấy đức tin của mình thật yếu ớt. Chính lúc ấy chúng ta hãy cầu xin với thánh Phaolô. Ngài sẽ giúp chúng ta tin nhận và yêu mến Đức Chúa Giêsu như ngài.

 

Ngày 30 tháng 6

Các thánh tử đạo tiên khởi Rôma

Những người mà chúng ta mừng kính hôm nay đều có một điểm chung: đó là các ngài đã hy sinh từ bỏ mạng sống mình vì Chúa Kitô. Các ngài được phúc tử vì đạo bởi các ngài là những người đã noi theo lối Đức Chúa Giêsu. Vào năm 64, những vi phạm luật nhân quyền của hoàng đế Nêrô đã vươn tới những chiều kích nằm ngoài sự mô tả. Khi đám cháy bất ngờ phát tỏa trong thành Rôma ngày 16 tháng Bảy, thì người ta đều cho rằng chính hoàng đế là người phải lãnh trách nhiệm. Khi hai phần ba thành phố Rôma bị thiêu rụi, sự căm tức phẫn nộ bắt đầu dâng cao. Nêrô hoảng hồn lo sợ. Ông cần một người đứng mũi chịu sào; và thế là, ông đã đổ tội vụ gây ra hỏa hoạn cho các Kitô hữu.

Taxitô, một sử gia danh tiếng thời ấy, đã ghi nhận rằng các Kitô hữu đã phải chịu những cái chết thật dã man hiểm độc. Một số bị ném cho các thú hoang ăn thịt. Số khác bị trói vào các cột trụ và trở nên những “ngọn đuốc người” thắp sáng các đường phố Rôma. Chúng ta không biết được chính xác tổng số các vị anh hùng là bao nhiêu nhưng chứng từ đời sống và lễ vật của các ngài đã gây một ấn tượng đặc biệt cho mọi người. Cuộc bách hại khủng bố đầu tiên của Nêrô dù là hoàng đế Rôma cũng chẳng kéo dài mãi được. Giáo hội càng bị bách hại thì Giáo hội càng phát triển. Các thánh tử vì đạo đã trả một giá rất đắt để những ai bước theo các ngài sẽ có được cơ hội giữ vững đức tin.

 Chúng ta hãy cầu xin các thánh tử đạo tiên khởi Rôma ban cho lòng can đảm để trung thành với những điều Giáo hội truyền dạy. Các thánh tử đạo này cũng nhắc nhớ chúng ta hãy nên nghiêm túc học hỏi về đức tin và đọc các sách vở Công giáo lành mạnh. 

 

 

Tháng 07

Các Thánh Dành Cho Bạn Trẻ

 

Ngày 01: Chân phước Junipêrô Serra

Ngày 02: Thánh Ôlivơ Plunket

Ngày 03: Thánh Tôma

Ngày 04: Thánh Êlizabeth Bồ Đào Nha

Ngày 05: Thánh Antôn Maria Zacaria

Ngày 06: Maria Gôretti

Ngày 07: Chân phước Rôgiơ Đickensơn, Ralph Milnơ và Laurensô Humphrêy

Ngày 08: Chân phước Giorgiô Frassati

Ngày 09: Thánh Augustinô Zhao Rong và các bạn tử đạo

Ngày 10: Thánh Vêrônica Giuliani

Ngày 11: Thánh Bênêđictô

Ngày 12: Thánh Gioan Gaulbêtô

Ngày 13: Thánh Henry II

Ngày 14: Chân phước Kateri Têkakwitha

Ngày 15: Thánh Bônaventura

Ngày 16: Đức Mẹ núi Cátminh

Ngày 17: Thánh Lêô IV

Ngày 18: Thánh Camillô Lêllis

Ngày 19: Chân phước Phêrô Tôrô

Ngày 20: Thánh Apôllinariô

Ngày 21: Thánh Laurensô Brinđisi

Ngày 22: Thánh Maria Mađalêna

Ngày 23: Thánh Brigitta Thụy Điển

Ngày 24: Thánh Sabel Malốp

Ngày 25: Thánh Giacôbê tiền

Ngày 26: Thánh Gioakim và thánh Anna

Ngày 27: Chân phước Titô Bransma

Ngày 28: Chân phước Maria Mađalêna Matinengô

Ngày 29: Thánh Matta

Ngày 30: Thánh Phêrô kim ngôn

Ngày 31: Thánh Inhaxiô Lôyôla

 

 

 

Ngày 1 tháng 7

Chân phước Junipêrô Serra

Chân phước Junipêrô Serra sinh ngày 24 tháng Mười Một năm 1713 tại ngôi làng Pêtra, trên một hòn đảo mang tên Mallôca thuộc nước Tây Ban Nha. Khi còn nhỏ, Junipêrô học tại trường dòng thánh Phanxicô ở Palma, cách xa nhà hai mươi lăm dặm. Sau đó, Junipêrô gia nhập hội dòng này nhân ngày 14 tháng Chín năm 1730, vài tháng trước kỷ niệm sinh nhật lần thứ 17 của ngài. Suốt thời gian nhà tập, Junipêrô đọc tiểu sử các thánh dòng Phanxicô. Vị thánh mà đời sống đã làm Junipêrô say mê nhất là thánh Phanxicô Sôlanô, sống từ năm 1549 đến 1610. Vị linh mục truyền giáo cho dân Nam Mỹ này đã được đức thánh cha Bênêđictô XIII tôn phong lên bậc hiển thánh năm 1726. Lúc đó, chàng tập sinh trẻ tuổi Junipêrô quyết tâm rằng nếu Chúa muốn thì chàng cũng sẽ trở thành một nhà truyền giáo.

Năm 1736, Junipêrô được thụ phong linh mục. Ngài là giáo sư dạy triết học tại học viện của dòng. Sau 20 năm làm việc, Junipêrô nhận được một cơ hội khá lý tưởng. Các linh mục dòng Phanxicô được kêu gọi tình nguyện đến truyền giáo tại những vùng đất “Tân Tây Ban Nha” (ngày nay là Mêxicô và California). Junipêrô và người bạn thân của ngài, cha Phanxicô Palô, đã tham gia nhóm truyền giáo tại Cađiz, một thành phố cảng thuộc Tây Ban Nha. Từ đó, các ngài vượt tàu từ Đại Tây Dương tới Vêra Cruz, Mêhicô. Các ngài đặt chân tới đất liền ngày mùng 6 tháng Mười Hai năm 1749. Junipêrô và một linh mục khác đã lội bộ tới phần tiếp theo của cuộc hành trình từ Vêra Cruz tới thành phố Mêhicô, một đoạn đường dài 240 dặm. Các ngài khởi hành từ ngày 15 tháng Mười Hai năm 1749 và tới thành phố ngày mùng 1 tháng Giêng năm 1750. Từ thành phố Mêhicô, cha Junipêrô và cha Phanxicô Palô lại được sai tới làm việc giữa những người Pamê Anhđiêng tại trụ sở truyền giáo của dòng ở Sierra Gorđa.

Nhiều linh mục lúc ấy được chỉ định tới các cứ điểm truyền giáo tại vùng thấp California. Junipêrô, Phanxicô và một nhóm nhỏ các tu sĩ Phanxicô khác thì được sai đem Tin mừng cho những dân bản xứ trên vùng cao California. Cha Junipêrô khởi sự việc mục vụ truyền giáo tại San Điêgô ngày 16 tháng Bảy năm 1769, lúc cha 56 tuổi. Cuộc truyền giáo là một lời mời gọi công khai những giáo dân thân yêu của ngài hãy đến gặp gỡ Chúa Giêsu. Dần dần, họ đã tin vào các linh mục truyền giáo này. Một số người đã chịu phép Thanh tẩy và bắt đầu sống đức tin Công giáo. Cha Serra và các linh mục dòng Phanxicô đã yêu mến và bảo vệ bổn đạo của mình. Rồi một chuỗi những chuyến mục vụ truyền giáo mới lại bắt đầu: San Carlos ở Montơri ngày 1 tháng Sáu năm 1770; San Antôniô Pađua ngày 14 tháng Bảy năm 1771; San Archangel Gabriel ngày 8 tháng Chín năm 1771; San Luis Ôbispô ngày mùng 1 tháng Chín năm 1772; San Phanxicô Assisi ngày 9 tháng Mười năm 1776; San Gioan Capistranô ngày 1 tháng Mười Một năm 1776;  Santa Clara Assisi ngày 12 tháng Giêng năm 1777; San Bonaventura ngày 31 tháng Ba năm 1782. Cuối cùng, 6000 người dân bản xứ đã được lãnh nhận bí tích Thanh tẩy.

Chân phước Junipêrô thực hiện chuyến mục vụ sau hết của ngài tại vùng cao California từ cuối năm 1783 đến tháng Bảy năm 1784. Junipêrô qua đời trong an bình đang lúc thực hiện chuyến mục vụ San Carlos ngày 28 tháng Tám năm 1784; và Junipêrô được mai táng tại đó. Năm 1988, đức thánh cha Gioan Phaolô II đã tôn phong Junipêrô Serra lên bậc chân phước.

 Thế giới của chúng ta sẽ trở nên rất bé nhỏ nếu mỗi người chúng ta tự thu gọn trong chính bản thân mình. Chúng ta hãy nài xin chân phước Junipêrô Serra chỉ cho chúng ta biết cách tỏ lòng thương cảm và quan tâm tới những người khác. Điều này sẽ giúp chúng ta khám phá ra những nhu cầu của tha nhân với tinh thần của Tin mừng.

Ngày 2 tháng 7

Thánh Ôlivơ Plunket

Thánh Ôlivơ Plunket sinh tại Ai Len vào ngày mùng 1 tháng Mười Một năm 1629. Ngài học tại trường thánh Maria thuộc đan viện Bênêđictô ở Đublin. Lên 16 tuổi, Ôlivơ Plunket sang Rôma để tiếp tục việc học và chuẩn bị cho thiên chức linh mục.

Ôlivơ được thụ phong linh mục năm 1654; và sau đó, ngài lưu lại Rôma suốt 15 năm phục vụ trong chức vị giáo sư thần học. Ôlivơ cũng là đại diện của các giám mục Ai Len tại tòa thánh. Vào năm 1669, cha Ôlivơ Plunket được đặt làm tổng giám mục giáo phận Armagh và là giáo chủ của toàn cõi Ai Len.

Vào thời gian này, vua nước Anh, Carôlô II, đang cố gắng tìm cách ổn định Anh giáo ở Anh quốc, Scốtlen và Ai Len. Ông thực hiện điều đó bằng việc thủ tiêu các tôn giáo khác, bao gồm cả Công giáo. Đức tổng giám mục Plunket trở về Ai Len trong tư thế ngụy trang. Ngài mặc thường phục và lấy tên là thuyền trưởng Brown.

Vào tháng Năm năm 1670, cuộc bách hại các Kitô hữu có phần dịu xuống, và đức tổng giám mục Plunket có thể công khai làm việc trong giáo phận của mình. Trong ba năm tiếp đó, ngài đã ban bí tích Thêm sức cho khoảng 10000 tín hữu; ngài tổ chức lại giáo phận, truyền chức thánh cho các tân linh mục và mở nhiều trường học.

Nhưng đến năm 1673, cuộc bách hại các Kitô hữu lại tiếp diễn. Đức tổng giám mục Ôlivơ Plunket bị ép phải lẩn trốn. Năm 1678, một người tên là Titô Oates tung tin rằng các Kitô hữu đang lập kế hoạch mưu sát nhà vua và sẽ đặt em trai của vua, người theo đạo Công giáo, lên ngai vàng. Sau đó, người ta nhận biết là Oates đã tạo ra toàn bộ câu chuyện, và họ đã bỏ tù anh ta vì tội khai man trước toà án (tức nói dối sau khi đã thề nói sự thật). Trong lúc đó, các giám mục và các linh mục Công giáo bị bắt buộc phải rời khỏi Ai Len.

Đức tổng giám mục Ôlivơ Plunket bị bắt ngày mùng 6 tháng Mười Hai năm 1679, và bị biệt giam suốt chín tháng tại Luânđôn. Trong một án xử bất công, ngài đã bị kết án vì tội phản quốc. Ôlivơ Plunket bị treo cổ ngày mùng 1 tháng Bảy tại Tybơn, và ngài là người Công giáo sau cùng được phúc tử đạo tại Anh quốc.

Ôlivơ Plunket được đức thánh cha Phaolô VI tôn phong lên bậc hiển thánh năm 1975.

 Chúng ta hãy cầu nguyện cho các vị chủ chăn trong Giáo hội để các ngài có đủ can đảm và lòng nhiệt thành phục vụ những người đã được trao phó cho các ngài, ngay cả trong những hoàn cảnh khó khăn và nguy hiểm. Chúng ta cũng hãy cầu xin để các ngài được các bổn đạo của mình an ủi và nâng đỡ.

 

Ngày 3 tháng 7

Thánh Tôma

Thánh Tôma là một trong số mười hai tông đồ của Đức Chúa Giêsu. Tôma bên tiếng Syria có nghĩa là “sinh đôi.” Một lần kia, khi Chúa Giêsu tỏ cho biết Người sẽ lên Giêrusalem để nộp mình chịu chết, thì các tông đồ khác đã ngăn cản Thầy lại, nhưng thánh Tôma nói với họ: “Cả chúng ta nữa, chúng ta cũng hãy đi và cùng chết với Thầy” (Ga 11,16).

Khi thấy Đức Chúa Giêsu bị các kẻ thù của Người bắt giữ, Tôma đã mất hết nhuệ khí ban đầu. Ngài đã bỏ chạy cùng với các tông đồ khác. Trái tim Tôma buồn sầu tan vỡ trước cái chết bi thương của Thầy Chí Ái. Nhưng rồi vào Chúa nhật Phục Sinh, Chúa Giêsu hiện ra với các tông đồ sau khi chỗi dậy từ cõi chết. Người chỉ cho các tông đồ xem các vết thương ở tay và cạnh sườn Người. Lúc ấy Tôma vắng mặt. Khi Tôma tới, các tông đồ hồ hởi nói với Tôma: “Chúng tôi đã được xem thấy Chúa!” Họ tưởng là Tôma rất vui. Ai ngờ, Tôma lại không tin sứ điệp các ngài vừa loan báo. Lý do vì trừ các tông đồ, Tôma chưa được xem thấy Đức Chúa Giêsu cách tỏ tường.

“Nếu tôi không nhìn thấy các dấu đinh ở tay Người,” Tôma nói, “nếu tôi không đặt ngón tay tôi vào lỗ đinh, nếu tôi không đặt bàn tay tôi vào cạnh sườn Người, thì tôi không tin!” Tám ngày sau, Chúa Giêsu lại hiện ra với các tông đồ. Lần này có mặt Tôma. Chúa Giêsu gọi Tôma và bảo hãy chạm tay vào các lỗ đinh và vào vết thương ở cạnh sườn Người. Tôma liền sấp mình xuống dưới chân Thầy Chí Ái và kêu lớn tiếng: “Lạy Chúa tôi! Lạy Thiên Chúa của tôi!” Sau đó, Chúa Giêsu nói: “Tôma, vì con đã xem thấy Thầy nên con đã tin. Phúc cho những ai đã không thấy mà tin.” Bạn có thể tìm gặp mẩu truyện này trong sách Tin mừng của thánh ký Gioan, nơi chương 20, các câu 24-29.

Sau ngày lễ Hiện Xuống, Tôma được kiện cường trong niềm tin và thánh nhân đã tín thác vào Đức Chúa Giêsu hơn. Người ta nói rằng thánh Tôma đã sang tận Ấn Độ để rao giảng Tin mừng. Và Tôma đã tử đạo ở đó, sau khi rao giảng Tin mừng của Đức Chúa Giêsu cho nhiều người.

Chúng ta thường nghe truyện kể về thánh Tôma như một người “cứng lòng,” nhưng giây phút được nhìn xem Chúa Giêsu Phục Sinh chính là lúc thánh nhân đã tuyên xưng một niềm tin rất mực kiên vững. Trong thánh lễ, khi linh mục nâng cao Bánh Thánh, chúng ta cũng hãy cầu nguyện bằng những lời của thánh Tôma: “Lạy Chúa con! Lạy Thiên Chúa của con!”

 

 

Ngày 4 tháng 7

 

Thánh Elizabeth Bồ Đào Nha

Thánh nữ Êlizabeth, công chúa nước Tây Ban Nha, sinh năm 1271. Ngài được đặt tên theo người cô, là thánh Êlizabeth Hungary (lễ kính ngày 17 tháng Mười Một). Êlizabeth kết hôn với vua Đênis nước Bồ Đào Nha khi lên 12 tuổi. (Vì những lý do chính trị, lúc đó người ta xem là chuyện bình thường đối với những cuộc hôn nhân quan trọng, cô dâu hoặc chú rể thường rất trẻ, có khi mới chỉ là một em thiếu nhi.) Êlizabeth rất xinh đẹp và đáng yêu. Ngài cũng rất đạo đức và năng đi tham dự thánh lễ hàng ngày. Lúc đầu, vị hôn phu của Êlizabeth rất yêu quý ngài, nhưng chẳng bao lâu ông đã làm cho ngài phải đau khổ nhiều. Dù là một nhà lãnh đạo tốt, Đênis cũng không có được lòng yêu mến cầu nguyện và các nhân đức như người vợ của mình. Thực ra, các tội ô uế của ông là những vụ tai tiếng khắp nước ai ai cũng biết.

Thánh nữ Êlizabeth đã cố gắng trở nên người mẹ đáng yêu đối với hai đứa con của mình: Alphongsô và Côngxtăngxia. Thánh nữ cũng sống quảng đại và tỏ ra dễ mến đối với thần dân trong nước Bồ Đào Nha. Thậm chí dù chồng ngài có bất trung, thì Êlizabeth vẫn kiên tâm cầu nguyện để một ngày nào đó ông sẽ thay đổi tâm hồn. Êlizabeth không bao giờ tỏ ra bực dọc hoặc cay cú. Dần dần, vua Đênis bị xúc động bởi lòng kiên nhẫn và gương sống tốt lành của Êlizabeth. Ông bắt đầu cải thiện đời sống. Ông nhìn nhận tất cả là nhờ Êlizabeth; và ông tỏ lòng tôn trọng rất mực đối với ngài. Trong cơn bạo bệnh cuối đời của vua, hoàng hậu đã luôn luôn có mặt ở bên giường ông, chỉ trừ thời gian tham dự thánh lễ. Vua Đênis qua đời ngày 6 tháng Giêng năm 1325. Ông đã rất hối hận vì những tội lỗi của ông và qua đời trong an bình.

Êlizabeth sống thêm 11 năm nữa. Thánh nữ đã gia nhập dòng Ba Phanxicô, làm nhiều việc bác ái và đền tội. Êlizabeth là một mẫu gương tuyệt vời về lòng tử tế đối với những người nghèo khổ. Thánh nữ cũng là người kiến tạo hòa bình giữa các thành viên trong gia đình và giữa các quốc gia.

Thánh nữ Êlizabeth Bồ Đào Nha qua đời ngày mùng 4 tháng Bảy năm 1336. Ngài được đức thánh cha Urbanô VIII tôn phong lên bậc hiển thánh năm 1626.

Thánh nữ Êlizabeth Bồ Đào Nha đã tìm được sức mạnh để chu toàn cuộc sống hàng ngày nhờ tham dự thánh lễ ban sáng. Chúng ta hãy nài xin thánh nữ giúp chúng ta cũng biết trân quý kho tàng thánh lễ vô giá này,  bằng cách tham dự với lòng yêu mến và sốt sắng.

 

Ngày 5 tháng 7

Thánh Antôn Maria Zacaria

Thánh Antôn Maria Zacaria sinh tại nước Ý vào năm 1502. Thân phụ Antôn qua đời lúc ngài còn rất trẻ. Thân mẫu Antôn khuyến khích ngài với một tình yêu thương đặc biệt, và chính nhờ tình yêu thương này mà Antôn rất dễ cảm thông đối với những đau khổ của người nghèo. Bà Zacaria đã gởi Antôn tới theo học tại trường đại học Pađua để sau này Antôn có thể trở thành bác sĩ. Và chỉ mới 22 tuổi, Antôn đã tốt nghiệp đại học.

Bác sĩ trẻ Antôn Maria Zacaria làm việc rất thành công. Tuy vậy, Antôn vẫn cảm thấy chưa thoả mãn. Antôn nhận thấy mình muốn trở thành một linh mục. Và Antôn bắt đầu học thần học. Ngài cũng tiếp tục chăm sóc những người đau bệnh, an ủi và khích lệ những người hấp hối. Antôn cố gắng dùng mọi giờ rảnh để đọc và suy niệm các thư của thánh Phaolô trong Kinh Thánh. Antôn đã đọc truyện về vị tông đồ vĩ đại Phaolô nhiều lần và cũng suy tư rất nhiều về các nhân đức của thánh Phaolô. Giờ đây tâm hồn Antôn Maria Zacaria đang trào lên một niềm khao khát mãnh liệt muốn trở nên một vị thánh để đem mọi người về với Chúa Giêsu.

Sau khi thụ phong linh mục, thánh Antôn Maria chuyển tới sống tại một thành phố lớn và rất nổi tiếng là Milan. Ở đó, thánh nhân có dịp giúp đỡ nhiều người hơn. Thánh Antôn cũng thiết lập một hội dòng gọi là dòng các linh mục. Các linh mục tu ở đây được gọi là các giáo sĩ dòng thánh Phaolô. Người ta cũng gọi các ngài là “các giáo sĩ Barnaba” vì Nhà Mẹ của hội dòng được xây cất gần nhà thờ kính thánh Barnaba ở Milan, nước Ý. Noi gương thánh tông đồ Phaolô, thánh Antôn và các linh mục dòng ngài đã đi rao giảng khắp nơi. Các ngài năng sử dụng và hay lặp lại những câu nói của thánh Phaolô. Các ngài giải thích sứ điệp của thánh Phaolô bằng những từ dễ hiểu. Dân chúng đã yêu thích và rất ưa chuộng lối giảng giải này. Thánh Antôn Maria Zacaria cũng có một tình yêu say mê đối với Chúa Giêsu Thánh Thể; và thánh nhân hay khuyến khích việc Chầu Thánh Thể Bốn Mươi Giờ.

Thánh Antôn Maria Zacaria qua đời ngày mùng 5 tháng Bảy năm 1539, lúc mới được 37 tuổi. Đức thánh cha Lêô XIII đã tôn phong ngài lên bậc hiển thánh năm 1897.

 Thánh Antôn Maria Zacaria có một lòng mộ mến đặc biệt đối với thánh tông đồ Phaolô. Ngài thường nói: “Tôi chưa bao giờ xin thánh Phaolô điều gì mà lại bị từ chối.” Chúng ta cũng hãy đọc các thư của thánh Phaolô và nài xin thánh nhân ban cho những ơn cần thiết.

 

Ngày 6 tháng 7

Thánh Maria Gôretti

Maria Gôretti sinh năm 1890 tại nước Ý. Thân phụ của thánh nữ chết vì bệnh sốt rét lúc thánh nữ lên 10. Khi 12 tuổi, Maria Gôretti giúp mẹ trông coi các em và làm việc đồng áng ngay tại sân nhà. Maria không bao giờ ca thán điều gì vì biết rằng gia đình ngài rất nghèo. Thực sự, Maria đã luôn khích lệ thân mẫu và thánh nữ chính là nguồn an ủi lớn lao đối với bà. Maria Gôretti đi tham dự thánh lễ đều đặn dù cho con đường dẫn tới nhà thờ phải mất đến hai giờ đi bộ. Maria Gôretti cũng thường xuyên lãnh nhận bí tích Hòa giải.

Một anh hàng xóm trẻ tuổi tên là Alêxanđrô đã nhiều lần dụ dỗ Maria Gôretti phạm tội nghịch đức trong sạch. Và Maria Gôretti đã kịch liệt phản đối. Thánh nữ đã tìm mọi cách để xa tránh anh này. Vào ngày mùng 5 tháng Bảy năm 1902, một ngày hè oi bức, Maria Gôretti ở nhà một mình trong túp nhà nhỏ may vá quần áo. Alêxanđrô đã tiến lại và dụ dỗ Maria phạm tội. Một lần nữa, Maria Gôretti từ chối. Alêxanđrô liền tấn công và lôi Maria Gôretti vào căn phòng bên trong. Maria Gôretti cố gắng la to: “Không! Không! Điều anh đang làm là tội trọng. Thiên Chúa không muốn đâu! Nếu anh làm, anh sẽ xuống hỏa ngục!” Và Maria Gôretti chống trả quyết liệt. Alêxanđrô hoảng hốt. Anh tức giận đâm Maria Gôretti nhiều nhát bằng con dao găm anh tự chế. Rồi anh bỏ chạy.

Sau đó, Maria Gôretti được đưa vào bệnh viện; và thánh nữ đã qua đời sau 24 tiếng đồng hồ. Trong những giờ sau hết, Maria Gôretti đã tha thứ cho kẻ hãm hại mình. Thánh nữ chỉ thương tiếc cho thân mẫu của ngài. Maria Gôretti lãnh nhận Chúa Giêsu trong Của Ăn Đàng với niềm vui dào dạt. Sau đó, thánh nữ về trời. Rồi Alêxanđrô bị bắt. Suốt 8 năm, Alêxanđrô không hề hối cải và thừa nhận tội ác khủng khiếp của anh. Nhưng một đêm kia Alêxanđrô nằm mơ. Trong giấc mơ đó, anh thấy Maria Gôretti tặng anh một bó hoa. Và từ giây phút ấy, Alêxanđrô trở nên một người mới. Khi được ra khỏi tù 20 năm sau, việc đầu tiên Alêxanđrô làm là đến thăm gia đình của Maria Gôretti. Alêxanđrô xin thân mẫu của Maria Gôretti tha thứ cho mình. Rồi anh dùng phần đời còn lại của anh phục vụ như một người làm vườn tại một tu viện gần đó.

Ngày 27 tháng Tư năm 1947, Maria Gôretti được đức thánh cha Piô XII phong chân phước. Đức thánh cha xuất hiện trên ban công của đền thánh Phêrô cùng với bà Assunta, bà mẹ 82 tuổi của Maria Gôretti. Ba năm sau, vào ngày 25 tháng Bảy năm 1950, cũng đức thánh cha Piô XII đã tôn phong Maria Gôretti lên bậc hiển thánh. Đức thánh cha gọi thánh nữ là “vị tử đạo của đức trinh khiết.”

 Chúng ta có thể tự giúp mình sống những giá trị Kitô giáo nếu chúng ta năng tham dự thánh lễ và lãnh nhận bí tích Hòa giải. Chúng ta cũng có thể chọn xem những phim ảnh tốt, những sách vở hay tạp chí lành mạnh. Khi cảm thấy yếu đuối, chúng ta hãy nài xin thánh nữ Maria Gôretti giúp chúng ta dám sống đời Kitô hữu đạo hạnh như ngài.

 

Ngày 7 tháng 7

Chân phước Rôgiơ Đickensơn, Ralph Milnơ và Laurensô Humphrêy

Cả ba vị chân phước tử đạo này sống ở nước Anh vào thời nữ hoàng Êlizabeth I bách hại Giáo hội Công giáo. Ralph Milnơ là người chồng và là người cha. Ngài là một nông dân lo việc đồng áng và được gia nhập Giáo hội vì có đời sống rất mực đạo hạnh. Ngày Ralph Milnơ được Rước lễ lần đầu cũng chính là ngày ngài phải ngồi tù vì tội danh là Kitô hữu. Tuy nhiên, người cai tù có cảm tình với Milnơ, vì thế, việc giam cầm đối với Milnơ thoạt đầu không mấy nghiêm ngặt. Suốt nhiều năm, Milnơ đã thực hiện tốt “lời cam kết của tù nhân” và giúp cung cấp thức ăn cũng như vật dụng cho các tù nhân bạn. Khi được tha vì đã cam kết tốt, Milnơ trở nên cánh tay rất đắc lực của cha Stanny, một linh mục thuộc dòng Tên, và “ông” Rôgơ Đickensơn, một linh mục triều đang hoạt động bí mật.

Rồi, cha Đickensơn cũng bị bắt. Cha và Milnơ bị đưa ra xét xử cùng ngày. Cha Đickensơn bị xử vì tội danh là linh mục Công giáo. Milnơ bị xử vì tội đã giúp cha Đickensơn thi hành sứ vụ. Viên quan tòa đưa mắt nhìn về phía đám đông đang ngồi trong phòng xử. Ông nghĩ tới bà Milnơ và tám người con. Ông muốn phóng thích Milnơ bằng bất cứ giá nào. “Việc ông phải làm,” viên quan tòa nói, “là tới viếng một nhà thờ Thệ phản, chỉ trong ít phút thôi, và hãy nói là ông đã ở đó. Tôi sẽ thả ông về với gia đình của ông.” Milnơ yên lặng và kiên quyết từ chối. Milnơ và cha Đickensơn đã anh dũng nhận lấy cái chết. Đó là ngày mùng 7 tháng Bảy năm 1591.

Vị tử đạo thứ ba, Laurensô Humphrêy, đã được cha Stanny đưa vào Giáo hội. Ngài cũng kiên quyết giữ vững đức tin đã lãnh nhận. Laurensô Humphrêy vừa tròn 21 tuổi khi chịu tử vì đạo.

 Mỗi một vị tử đạo nhắc nhớ chúng ta rằng có một kho tàng quý giá rất đáng chúng ta ra công bảo vệ. Các ngài nhận thấy giá trị đích thực của đức tin Công giáo và không chịu bỏ mất vì bất cứ lý do gì. Chúng ta hãy cầu xin với các chân phước Rôgiơ, Ralph và Laurensô. Các ngài sẽ giúp chúng ta yêu mến và trân quý niềm tin của mình như các ngài.

 

Ngày 8 tháng 7

Chân phước Giorgiô Frassati

Pier Giorgiô Frassati sinh ngày mùng 6 tháng Tư năm 1901 tại thành phố Turinô, nước Ý. Cha của ngài, ông Alfređô, là nhà sáng lập và là giám đốc tờ báo Italia, đồng thời ông cũng là một chính trị gia. Mẹ của Pier Giorgiô, bà Ađêlaiđê, là một họa sĩ. Ông bà Frassati không phải là một mẫu cha mẹ lý tưởng chút nào. Ông Alfređô thì chống đối con cái và bà Ađêlaiđê thì có tính bối rối và hay phê phán. Họ tham dự thánh lễ chỉ vì đó là một bổn phận.

Từ thuở nhỏ, Pier Giorgiô đã rất nhạy cảm với những nhu cầu của người khác. Ngày kia, có bà hành khất nghèo khó tới gõ cửa nhà của gia đình Frassati. Bà ôm trong vòng tay một đứa trẻ không mang giày. Không chút do dự, cậu nhỏ Pier Giorgiô lúc ấy 4 tuổi liền cởi ngay giày đang mang ở chân ra và trao cho đứa bé nghèo khổ kia.

Pier Giorgiô có đời sống đạo hạnh hơn cha mẹ. Lên 14 tuổi, ngài bắt đầu tham dự thánh lễ và rước lễ hầu như mỗi ngày. Pier Giorgiô gia nhập dòng Ba Đa Minh do bị lôi cuốn bởi linh đạo vừa chiêm niệm vừa hoạt động của hội dòng này. Sứ vụ của Pier Giorgiô là chăm lo cho những người nghèo khổ. Ngài tới những căn nhà dơ bẩn của những người nghèo, lưu lại bên giường của những bệnh nhân và luôn luôn tâm niệm rằng mình đang thăm viếng Đức Kitô. Dù gia đình khá giả, Pier Giorgiô cũng chỉ ra đi làm việc bác ái với hai bàn tay trắng. Ngài không muốn sử dụng tài sản của gia đình.

Bạn bè của Pier Giorgiô nhận biết ngài như một người tinh nghịch, ham thích leo núi và trượt tuyết. Pier Giorgiô cũng là nhà hoạt động cho công bằng xã hội, tham gia các nhóm ủng hộ tôn giáo và chống lại chủ nghĩa Phátxít. Và Pier Giorgiô đã phải vào tù sau một trong nhiều lần biểu tình; tại đây Pier đã dùng nhiều giờ để đọc kinh Mân Côi và khích lệ bạn bè.

Đến năm 1925, Pier Giorgiô bị lây nhiễm bại liệt từ một bệnh nhân của ngài. Vào tháng Sáu, Pier Giorgiô bị ốm nặng nhưng ngài vẫn âm thầm chịu đựng; vì cùng lúc ấy tại gia đình Frassati, bà ngoại của ngài đang hấp hối. Pier Giorgiô cho biết là bị cảm sốt nhưng gia đình chẳng quan tâm nhiều tới ngài. Khi bà ngoại qua đời, chẳng ai biết được là Pier Giorgiô cũng sắp lìa bỏ thế gian này mà về cùng Chúa. Thân mẫu Pier, không đi dự lễ tang bà ngoại mà ở nhà với Pier, đã trách cứ Pier vì bị cảm cúm vào thời điểm bất tiện như thế. Nhưng chẳng bao lâu, bà nhận ra rằng con trai mình thật bị bệnh rất nặng chứ không phải chỉ là cảm sốt qua loa như bà tưởng. Ba ngày sau, Pier Giorgiô về trời!

Những giờ phút cuối đời của Pier Giorgiô diễn ra trong bầu khí thinh lặng cầu nguyện; và ngài đã để lại những chỉ dẫn sau cùng trong việc giúp đỡ người nghèo, những người luôn hiện diện trong trái tim của Pier. Thế rồi, buổi sáng ngày mùng 4 tháng Bảy năm 1925, Pier Giorgiô đã an bình ra đi sau khi lãnh nhận bí tích Xức dầu bệnh nhân. Khi ấy, Pier Giorgiô được 24 tuổi. Ít lâu sau cái chết của Pier Giorgiô, gia đình Frassati rất đỗi sửng sốt khi thấy từng đám đông người chen chúc nhau tới nhà thờ để tham dự thánh lễ an táng Pier Giorgiô. Họ là những người nghèo khổ mà Pier Giorgiô đã giúp đỡ trong cuộc đời vắn vỏi của ngài. Họ đến để bày tỏ tấm lòng tôn kính đối với vị ân nhân trẻ tuổi rất đặc biệt này.

Pier Giorgiô Frassati được đức thánh cha Gioan Phaolô II tôn phong chân phước năm 1990.

 Chân phước Pier Giorgiô Frassati đã đặt Đức Kitô làm trung tâm cuộc đời của ngài. Thay vì cảm thấy buồn tủi vì gia đình không hiểu mình, Pier Giorgiô đã dồn mọi quan tâm để lo cho những người kém may mắn hơn ngài. Với việc làm này, Pier Giorgiô là chứng nhân đích thực của niềm vui Tin mừng. Chúng ta hãy nài xin chân phước Pier Giorgiô Frassati giúp chúng ta cũng biết chia sẻ niềm vui của mình cho người khác.

 

Ngày 9 tháng 7

Thánh Augustinô Zhao Rong và các bạn tử đạo

Ngày hôm nay, Giáo hội cử hành thánh lễ tôn kính các vị tử đạo Trung Hoa. Các ngài là những người đã nêu gương anh dũng trong đời sống đức tin Kitô giáo dọc theo lịch sử của đất nước này. Thánh Augustinô Zhao Rong, đã anh dũng tử đạo để minh chứng đức tin, là một trong số 122 tín hữu Công giáo đã hy sinh suốt từ năm 1648 đến năm 1930.

Vào năm 1815, một giám mục tên Gioan Gabriel Đufresse bị bắt. Lúc ấy, việc thực hành đạo Kitô bị coi là một hành vi chống lại luật lệ của đất nước Trung Hoa. Một anh lính Trung Hoa canh giữ đức giám mục rất đỗi khâm phục ngài bởi sự bình thản và lòng kiên nhẫn đối với cuộc bách hại. Sau khi giám mục Đufresse bị giết, người lính này đã xin gia nhập Giáo hội. Anh được chịu phép Thanh tẩy và nhận tên là Augustinô. Sau này, Augustinô gia nhập chủng viện và học làm linh mục.

Thụ phong linh mục chẳng bao lâu, Augustinô cũng bị bắt vì là Kitô hữu. Người ta đã tra tấn Augustinô dữ dội hầu làm cho ngài chối bỏ niềm tin vào Đức Kitô. Thế nhưng, những đau khổ ấy lại chỉ giúp cho Augustinô Zhao Rong thêm can đảm và làm xác tín hơn niềm tin của ngài. Augustinô Zhao Rong bị lên án tử và tên ngài được ghi vào danh sách các tín hữu Trung Hoa anh dũng đã hy sinh mạng sống để làm chứng cho niềm tin của mình.

Danh sách các vị anh hùng này bao gồm 76 giáo dân, một số em thiếu nhi thậm chí mới bảy tuổi, 8 chủng sinh, 24 linh mục và 6 giám mục. Trong số này, có 88 vị là người gốc Trung Hoa và 34 vị là các nhà truyền giáo đến từ nhiều quốc gia khác nhau, nhưng các vị đã nhận Trung Hoa là quê hương của mình.

Chúng ta hãy noi gương thánh Augustinô Zhao Rong và các bạn tử đạo Trung Hoa. Như các ngài, chúng ta hãy sống niềm tin của mình cách vui tươi. Chúng ta hãy can đảm sống cho sự thật dù đôi lúc đó không phải là điều dễ thực hiện.

 

Ngày 10 tháng 7

Thánh Vêrônica Giuliani

Thánh nữ Ursula Giuliani sinh tại nước Ý vào năm 1660. Ngay từ thiếu thời, thánh nữ đã ham ước sống cuộc đời thánh thiện. Dù cho thân phụ muốn Giuliani kết hôn, nhưng năm lên 17 tuổi Giuliani đã xin vào dòng nữ Capuxinô. Và ngài nhận tên là Vêrônica.

Năm 37 tuổi, dì Vêrônica bắt đầu cảm thấy có sự đau đớn trong thân thể mình, đó là những thống khổ mà Chúa Kitô đã chịu trong suốt cuộc tử nạn đau thương của Người. Sau đó, Vêrônica được nhận năm Dấu Thánh của Chúa Giêsu. Đức giám mục, sau khi điều tra về các vết đinh ở tay và chân của Vêrônica, đã tuyên bố đó là tặng ân siêu nhiên của Thiên Chúa.

Dì Vêrônica tận hiến đời mình để sống chiêm niệm và cầu nguyện. Dì cũng nhận một nhiệm vụ quan trọng là tập sư. Với cương vị tập sư, Vêrônica hướng dẫn các nữ tập sinh trong tu viện. Vêrônica thi hành chức vụ này suốt 34 năm. Rồi chị em trong dòng chọn thánh nữ làm bề trên; và Vêrônica đã hướng dẫn hội dòng suốt 11 năm sau cùng của cuộc đời ngài.

Lúc về già, cha giải tội của thánh nữ Vêrônica trao cho ngài nhiệm vụ ghi lại những kinh nghiệm thiêng liêng. Vêrônica Giuliani qua đời ngày mùng 9 tháng Bảy năm 1727. Ngài được phong thánh năm 1839 và được coi là một trong những nhà thần bí lớn nhất của thế kỷ thứ 18.

 Thánh nữ Vêrônica Giuliani rất trung thành trong công việc chia sẻ những đau khổ của Chúa Kitô. Cách tuyệt hảo nhất để thực hiện lòng trung thành này là năng đọc sách về cuộc khổ nạn của Chúa trong Tin mừng. Điều này sẽ thúc đẩy chúng ta sống thánh thiện, yêu mến Thiên Chúa và tha nhân nhiều hơn.

 

 

Ngày 11 tháng 7

Thánh Bênêđictô

Thánh Bênêđictô sinh năm 480 tại Nursia, nước Ý. Thánh nhân là con trai của một gia đình người Ý giàu có. Cuộc đời của thánh Bênêđictô chứa đầy những mẩu truyện li kì và thú vị. Khi còn nhỏ, Bênêđictô tới Rôma và học nơi các trường công cộng. Lúc trưởng thành, ngài cảm thấy phẫn nộ với nếp sống đồi bại của thành Rôma ngoại đạo. Bênêđictô rời bỏ thành phố và đi tìm một nơi khả dĩ được ở một mình với Thiên Chúa. Và ngài đã tìm thấy một địa điểm tốt. Đó là một cái hang ở trong núi Subiacô. Một đan sĩ tên là Rômanô đã dạy cho Bênêđictô học biết về đời sống của một ẩn sĩ và trao cho Bênêđictô một bộ tu phục. Mỗi ngày, Rômanô cũng đem đến cho Bênêđictô một ít thực phẩm.

Thánh Bênêđictô đã trải qua 3 năm sống một mình trong núi. Ma quỷ thường hay cám dỗ ngài trở về quê nhà với đời sống tiện nghi và thoải mái. Tuy nhiên, thánh nhân đã vượt qua những cám dỗ này bằng các việc cầu nguyện và đền tội. Một ngày kia, ma quỷ lại tiếp tục cám dỗ Bênêđictô nghĩ tưởng đến một phụ nữ xinh đẹp mà có lần Bênêđictô đã gặp thấy ở thành Rôma. Ma quỷ cố gắng làm cho thánh nhân trở về tìm lại bà ấy. Bênêđictô dường như sắp nhượng bộ cơn cám dỗ này. Nhưng thay vào đó, thánh nhân đã sốt sắng cầu nguyện và đền tội nhiều hơn. Và từ đó trở đi, đời sống của Bênêđictô rất bình an. Bênêđictô không còn cảm thấy những cơn cám dỗ cuồng loạn như thế nữa.

Sau ba năm, người ta nhận biết Bênêđictô sống trong hang núi và họ bắt đầu kéo đến với ngài. Họ muốn ngài chỉ cho họ cách thức nên thánh. Cũng có vài đan sĩ, mà đan phụ của họ đã qua đời, đến xin Bênêđictô làm linh hướng cho họ. Nhưng khi thánh nhân bắt họ làm việc đền tội, họ lại bực tức. Người ta nói rằng thậm chí có lần họ đã đầu độc Bênêđictô. Thánh nhân đã làm dấu Thánh Giá trên ly rượu có độc và ly rượu đã vỡ tan thành từng mảnh.

Bênêđictô rời bỏ các đan sĩ ấy và quay về lại chiếc hang của ngài. Từ đó, thánh nhân thiết lập thêm mười hai đan viện nữa. Rồi Bênêđictô trẩy tới núi Cassinô nơi thánh nhân xây cất một đan viện rất danh tiếng. Và chính tại đây Bênêđictô đã viết một bộ luật tuyệt vời cho hội dòng Bênêđictô. Ngài dạy các đan sĩ của mình cầu nguyện và làm việc chăm chỉ. Đặc biệt, Bênêđictô dạy họ luôn sống khiêm tốn. Thánh Bênêđictô và các đan sĩ của ngài lúc ấy đã giúp đỡ người dân rất nhiều. Các ngài đã dạy họ tập đọc, tập viết, cách làm ruộng và kinh doanh nhiều nghề khác nhau. Thánh Bênêđictô đã làm được nhiều việc tốt vì ngài đã cầu nguyện không ngừng. Thánh nhân về trời ngày 21 tháng Ba năm 547. Đến năm 1966, đức thánh cha Phaolô VI tôn tặng Bênêđictô danh hiệu thánh bổn mạng của Âu châu.

 Thánh Bênêđictô nhắc nhớ chúng ta rằng có một nhu cầu sâu xa nhất của con người là trải nghiệm những giờ cầu nguyện bên Thiên Chúa. Nhưng chúng ta không phải đi vào một hang động, mà có thể lưu lại ngay bên nhà thờ và viếng Chúa Giêsu Thánh Thể. Chúng ta cũng có thể tạo một góc cầu nguyện trong căn phòng của chúng ta. Chúng ta sẽ sống mật thiết hơn với Thiên Chúa nhờ những lời cầu nguyện hàng ngày với Chúa Giêsu.

 

 

Ngày 12 tháng 7

Thánh Gioan Gaulbêtô

Thánh Gioan Gaulbêtô sinh tại thành Florentia, nước Ý, vào cuối thế kỷ thứ 10. Ngài và thân phụ đã phải choáng váng rụng rời khi nghe tin Hugh, người em trai duy nhất của Gioan, bị sát hại. Người gây ra án mạng được cho là bạn thân của Hugh. Bị thân phụ thúc giục và bị thúc đẩy bởi cơn nóng giận, Gioan bắt đầu tìm cách để trả thù cho cái chết của em trai mình. Gioan cảm thấy danh dự của ngài tùy thuộc vào chuyện đó.

Vào Thứ Sáu Tuần Thánh, Gioan Gaulbêtô đã giáp mặt với kẻ sát nhân trong một lối đi hẹp của thành phố. Gioan rút gươm ra khỏi vỏ và bắt đầu xông vào tên giết người. Bấy giờ kẻ giết Hugh đã quỳ xuống dưới chân Gioan. Anh làm dấu Thánh Giá trên mình và, nhân danh tình yêu của Chúa Giêsu chịu tử hình thập giá, anh xin Gioan tha thứ. Với một cố gắng lạ thường, Gioan Gaulbêtô đã hạ gươm xuống! Ngài ôm hôn kẻ thù rồi đi xuống phía cuối đường. Khi tới nhà thờ của một tu viện nọ, Gioan Gaulbêtô đã bước vào và đến quỳ trước bức tượng Chúa Chịu Nạn. Ngài xin Chúa tha tội cho mình. Rồi một phép lạ đã xảy ra! Chúa Kitô trên Thánh Giá đã cúi đầu chào Gioan Gaulbêtô. Dường như Chúa nói với Gioan rằng Chúa rất hài lòng vì hành động Gioan tha thứ cho kẻ thù. Lúc ấy, Gioan Gaulbêtô cũng cảm thấy tội lỗi mình được tha. Một sự biến đổi bao phủ lấy Gioan Gaulbêtô khiến ngài lập tức đi thẳng tới gặp vị bề trên của tu viện ấy và xin gia nhập cộng đoàn.

Khi thân phụ của Gioan nghe biết việc này, ông tuyên bố sẽ đốt cháy cả tu viện nếu con trai ông không trở về nhà. Các tu sĩ lo lắng không biết phải làm gì?! Gioan Gaulbêtô liền giải quyết vấn đề bằng cách cắt tóc và mượn một bộ tu phục của một tu sĩ. Ngài mặc áo vào và ra gặp thân phụ. Quá khâm phục trước sự dấn thân của con mình, người cha đã để cho Gioan ở lại. Thánh Gioan Gaulbêtô về sau lại muốn sống cuộc đời khắc khổ hơn. Ngài đã ra đi và lập một hội dòng cho riêng mình.

Thánh Gioan Gaulbêtô là kiểu mẫu cho việc bắt chước lối sống giản dị của Chúa Giêsu. Thánh nhân cũng hết lòng quan tâm tới những người nghèo khổ đến xin ngài giúp đỡ tại cổng tu viện. Thiên Chúa đã ban cho Gioan Gaulbêtô ơn làm phép lạ và ơn hướng dẫn tâm hồn người khác. Ngay cả thánh giáo hoàng Lêô IX cũng đến với Gioan Gaulbêtô để xin lời khuyên bảo. Thánh Gioan Gaulbêtô về trời ngày 12 tháng Bảy năm 1073. Đến năm 1193, đức thánh cha Clêmentê III đã tôn phong Gioan Gaulbêtô lên bậc hiển thánh.

 Ngay cả những tội nặng nề nhất cũng có thể được Thiên Chúa tha thứ. Nếu chúng ta tha thứ cho những người mắc lỗi với chúng ta, Thiên Chúa cũng sẽ tha thứ cho những lỗi phạm của chúng ta. Chúng ta hãy nài xin thánh Gioan Gaulbêtô giúp chúng ta có được trái tim tha thứ như ngài.

 

Ngày 13 tháng 7

Thánh Henry II

Thánh Henry II sinh năm 972. Ngài trở thành công tước miền Bavaria năm 995. Một đêm kia, Henry nằm mộng. Henry thấy thánh Wolfgang, là thầy giáo rất yêu chuộng của Henry thời thơ ấu, hiện ra với ngài. Wolfgang chỉ tay vào hai chữ “sau sáu” được viết trên bức tường. Điều đó có ý nghĩa gì? Có lẽ sáu ngày nữa Henry sẽ chết chăng? Nghĩ như vậy nên ngài đã cầu nguyện hết sức tha thiết. Tuy nhiêu, sáu ngày trôi qua và sức khỏe Henry vẫn tốt đẹp. Vậy có lẽ là sáu tháng chăng? Vị công tước Bavaria lại tận tụy hết mình làm những việc thiện hơn bao giờ hết. Sau sáu tháng, Henry II vẫn mạnh khỏe hơn cả trước kia nữa. Vậy Henry II lại nghĩ rằng ngài chỉ còn sáu năm để sống ở trần gian này nữa thôi. Thế nhưng sáu năm trôi qua, thay vì qua đời, thánh Henry II lại được chọn làm hoàng đế nước Đức. Lúc đó, thánh nhân mới hiểu được toàn bộ ý nghĩa của thị kiến trước đây.

Thánh Henry II đã ra công làm việc để giúp cho thần dân của ngài được an vui và đất nước được hiệp nhất. Để bảo vệ sự công bình, Henry II đã tổ chức nhiều cuộc chinh chiến. Trong các trận chiến, Henry II rất có công tâm và ngài cũng yêu cầu các tướng sĩ của ngài phải biết quý trọng danh dự. Khoảng năm 998, Henry II kết hôn với một phu nhân hiền lành và dễ thương tên là Cunêgun. Đến năm 1014, Henry II và Cunêgun sang Rôma và được phong vương cai trị Rôma. Đó là một vinh dự lớn lao vì cả đức vua lẫn hoàng hậu được chính đức thánh cha Bênêđictô VIII đội vương miện cho.

Vua Henry II là một trong những nhà lãnh đạo tài giỏi nhất của Rôma. Ngài đã đề đạt việc canh tân Giáo hội, khuyến khích phát triển những tu viện mới thành lập và xây cất nhiều ngôi thánh đường nguy nga tráng lệ. Henry II bày tỏ lòng yêu mến đối với Chúa Giêsu và Giáo hội bằng tấm lòng chân thành. Thánh nhân là một người năng cầu nguyện và rất ham mộ đời sống đạo đức. Ngài đã thực hiện vai trò làm chồng và làm người lãnh đạo với đầy lòng quảng đại và trách nhiệm. Khi qua đời năm 1024, Henry II mới 52 tuổi. Đến năm 1146, Henry II được đức chân phước giáo hoàng Êugiêniô III tôn phong hiển thánh. Đức thánh giáo hoàng Piô X đã đặt vua thánh Henry II làm bổn mạng của các hội viên sống tinh thần thánh Bênêđictô. 

Thiên Chúa mời gọi mọi người, trong mọi nghề nghiệp và mọi lãnh vực của đời sống, nên thánh. Đừng ai nghĩ rằng mình quá bận rộn hoặc quá quan trọng đến nỗi không thể đặt Thiên Chúa lên trên đời sống của mình. Thật ra, khi Thiên Chúa được đặt lên trên hết, thì mọi thứ khác sẽ tự có chỗ cho riêng nó. Đối với chúng ta, Thiên Chúa phải được đặt ở vị thế ưu tiên số một.

 

Ngày 14 tháng 7

Chân phước Kateri Têkakwitha

Vào giữa những năm 1642 và 1649, thánh Isaac Giogiơ và các Bạn tử đạo đã từ Pháp trẩy tàu sang vùng Đất Mới để rao giảng Tin mừng. Các ngài đã bị những người Mohawk giết hại đang khi rao giảng lời Chúa cho những người Anhđiêng Huron. Mười năm sau khi thánh Isaac Giogiơ qua đời, Kateri Têkakwitha được sinh ra ngay tại ngôi làng mà thánh Isaac đã tử vì đạo. (Chúng ta cử hành thánh lễ kính thánh Isaac và các Bạn tử đạo vùng Bắc Mỹ ngày 19 tháng Mười.) Têkakwitha sinh tại Auriesville, Niu Gioóc, vào năm 1656. Thân mẫu ngài là một Kitô hữu người Mỹ gốc Algonquin. Thân phụ ngài, là tù trưởng của dân Mohawk, chưa gia nhập đạo. Cha mẹ và anh trai của Têkakwitha đã chết vì căn bệnh đậu mùa khi Têkakwitha lên 4 tuổi. Cũng căn bệnh này đã hủy hoại vẻ đẹp và làm cho khuôn mặt của Têkakwitha bị biến dạng. Người chú, cũng là tù trưởng của dân Mohawk, đã nuôi nấng Têkakwitha. Đây là cách Têkakwitha gặp gỡ các nhà truyền giáo. Vào một dịp kia, chú của Têkakwitha tiếp đón ba nhà truyền giáo thuộc dòng Tên. Têkakwitha được nghe những lời chỉ dạy về đức tin. Rồi ngài được chịu phép Thanh tẩy vào Chúa nhật Phục Sinh năm 1676. Đó cũng là dịp Têkakwitha nhận tên thánh Kateri, nghĩa là Catarina.

Ngôi làng Têkakwitha đang sống chưa phải là ngôi làng Công giáo. Thực sự, chẳng có Kitô hữu nào sống trong căn nhà của Têkakwitha. Việc Têkakwitha chọn lối sống độc thân đã làm cho những người Anhđiêng phật lòng. Họ đã lăng mạ Têkakwitha và có vài người đã phẫn nộ vì Têkakwitha không chịu làm việc trong ngày Chủ nhật. Nhưng Kateri vẫn giữ vững lập trường của mình. Ngài đã đọc kinh Mân Côi mỗi ngày, ngay cả khi bị người ta giễu cợt. Kateri đã nhẫn nại chấp nhận và âm thầm chịu đựng. Cuộc sống của Kateri càng trở nên khó khăn vì sự bách hại của những người cùng làng. Sau cùng, Kateri đã trẩy tới sống tại một ngôi làng Công giáo gần Montriơ. Tại đây, vào ngày lễ Chúa Giáng Sinh năm 1677, Kateri đã được Rước lễ lần đầu. Và đó là một ngày hồng phúc! Cha Phêrô Côlônec, một linh mục thuộc dòng Tên, đã hướng dẫn đời sống thiêng liêng cho Kateri suốt ba năm sau đó. Kateti và một phụ nữ Irôquơ tên Anastasia đã sống đời Kitô hữu rất quảng đại và phấn khởi. Vào ngày 25 tháng Ba năm 1679, Kateri đã tuyên lời khấn tự giữ mình đồng trinh. Ngài mới chỉ được 24 tuổi khi phải lìa thế ngày 17 tháng Tư năm 1680. Sau đó đúng 300 năm, vào ngày 22 tháng Sáu năm 1980, Kateri Têkakwitha được đức thánh cha Gioan Phaolô II tôn phong lên bậc chân phước. Người ta đã đặt cho Kateri Têkakwitha một tên gọi rất dễ thương, “bông hoa huệ của những người Mohawk.”

Chân phước Kateri Têkakwitha đã nhận được hồng ân đức tin vào Chúa Giêsu qua những hy sinh gian khó của các vị thừa sai. Chúng ta cũng hãy cảm tạ Chúa Giêsu vì Người đã sai các thừa tác viên đem Tin mừng đến cho chúng ta. Họ là ai? Là ông bà, cha mẹ, người thân, cha xứ, giáo lý viên… Chúng ta hãy nài xin chân phước Kateri Têkakwitha dạy chúng ta sống biết ơn qua việc chia sẻ đức tin của mình cho những người khác.

 

Ngày 15 tháng 7

Thánh Bônaventura

Thánh Bônaventura sinh năm 1221 tại Tuscany, nước Ý, và nhận tên thánh là Gioan. Bônaventura đi tu dòng thánh Phanxicô, lúc ấy mới được thành lập. Thực sự, thánh Phanxicô Assisi, đấng sáng lập dòng Phanxicô, lúc đó vẫn còn sống khi Bônaventura cất tiếng khóc chào đời. Là tu sĩ trẻ dòng Phanxicô, Bônaventura rời bỏ quê hương để du học tại trường đại học Paris ở Pháp. Bônaventura là một tác giả danh tiếng chuyên nghiên cứu về những vấn đề liên quan tới Thiên Chúa. Bônaventura rất yêu mến Thiên Chúa đến nỗi ngài đã được tôn tặng danh hiệu là “Tiến sĩ Đệ Nhất Phẩm Thiên Thần” hay gọi tắt là “Tiến sĩ Luyến Thần.”

Một trong các người bạn danh tiếng của Bônaventura là thánh Tôma Aquinô. (Chúng ta đã mừng lễ kính thánh Tôma Aquinô hôm 28 tháng Giêng.) Lần kia, thánh Tôma hỏi thánh Bônaventura tại sao lại viết được những ý tưởng cao siêu như thế. Thánh Bônaventura liền dẫn người bạn của mình tới bàn làm việc. Thánh nhân chỉ vào cây Thánh Giá lớn đặt ở trên bàn và nói với Tôma: “Chính Người đã nói cho tôi biết mọi sự. Người là Thầy dạy duy nhất của tôi!” Lần khác, khi viết tiểu sử của thánh tổ phụ Phanxicô Assisi, Bônaventura tỏa ra đầy lửa nhiệt tình đến nỗi thánh Tôma phải thốt lên: “Chúng ta hãy để cho một vị thánh ghi chép về một vị thánh!” Thánh Bônaventura vẫn luôn sống khiêm nhường ngay cả khi các tác phẩm ngài viết làm ngài nổi tiếng.

Năm 1265, đức thánh cha Clêmentê IV muốn đề cử Bônaventura giữ chức tổng giám mục. Bônaventura khiêm tốn từ chối. Đức thánh cha tôn trọng quyết định của Bônaventura. Tuy nhiên, Bônaventura đã chấp nhận làm bề trên tổng quyền dòng Phanxicô. Thánh nhân đã đảm nhận nhiệm vụ khó khăn này trong suốt 17 năm. Đến năm 1273, đức chân phước giáo hoàng Grêgôriô X đã đặt Bônaventura lên chức hồng y. Đức thánh cha gởi hai sứ giả thuộc giáo triều tới gặp Bônaventura. Đến nơi, các vị gặp thấy thánh nhân đang làm việc với những chiếc chậu rửa lớn. Hôm đó là tới phiên thánh nhân lau chùi xoong chảo. Hai sứ giả của giáo triều Rôma kiên nhẫn đợi chờ Bônaventura rửa xong chiếc nồi cuối cùng. Rồi sau khi Bônaventura rửa sạch và lau khô tay, họ long trọng trao cho ngài một chiếc mũ đỏ lớn, tượng trưng cho chức vụ mới của ngài.

Hồng y Bônaventura đã giúp đỡ rất nhiều cho đức thánh cha, là người đã triệu tập Công đồng Lyôn năm 1274. Thánh Tôma Aquinô đã mất khi đang trên đường tới dự Công đồng, nhưng thánh Bônaventura thì đã tham dự. Ảnh hưởng của Bônaventura tại Công đồng rất lớn. Tuy nhiên, thánh nhân cũng qua đời cách đột ngột vào ngày 14 tháng Bảy năm 1274, lúc được 53 tuổi. Đức thánh cha đã hiện diện ngay bên giường của thánh Bônaventura lúc ngài về trời. Năm 1482, đức thánh cha Sixtô IV đã tôn phong Bônaventura lên bậc hiển thánh. Đến năm 1588, đức thánh cha Sixtô V tôn tặng ngài danh hiệu Tiến sĩ Hội Thánh.

 Như thánh Bônaventura, chúng ta cũng hãy đặt tượng Chúa Chịu Nạn trong căn phòng của mình để có thể thường xuyên hướng về Đức Chúa Giêsu cùng cầu xin Người giúp đỡ và ban thêm sức mạnh cho chúng ta. Các ảnh tượng Chúa Kitô, Đức Maria và các thánh là những nhắc nhở rất tốt, giúp chúng ta biết noi gương và sống như các ngài.

 

Ngày 16 tháng 7

Đức Mẹ núi Cátminh

Cátminh là ngọn núi trông xuống vùng đồng bằng Galilê. Đó là ngọn núi danh tiếng bởi vì tiên tri Êlia, vị tiên tri sống trước thời Chúa Giêsu, đã được sinh ra tại đây. Và tiên tri Êlia cũng đã làm một phép lạ ở đó. Chương thứ 18 trong sách Các Vua Quyển thứ I kể rằng Êlia đã đương đầu chống lại 450 nhà tiên tri của vị thần Baal. Bằng lời cầu nguyện, Êlia đã xin Thiên Chúa làm một phép lạ để minh chứng rằng Thiên Chúa của Êlia là Thiên Chúa chân thật. Và Thiên Chúa đã nhận lời Êlia cầu xin.

Sau đó nhiều thế kỷ, vào thế kỷ thứ 13, có một nhóm tu sĩ Âu châu bắt đầu đến sống trên núi Cátminh. Họ tôn kính Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ Thiên Chúa, với tước hiệu Đức Mẹ núi Cátminh. Vì lý do này mà người ta gọi họ là các cha dòng Đức Mẹ Cátminh. Đây là lý do dòng Cátminh được thành lập. Đức thánh cha Hônôriô III phê chuẩn tu luật của hội dòng vào năm 1226. Nhưng vào năm 1247, Simon Stock, một linh mục gốc Anh, trở thành bề trên của tất cả mọi tu sĩ Cátminh. Ngài đã giúp hội dòng phát triển và thích nghi với thời đại. Ngài đã hướng dẫn hội dòng bắt chước kiểu mẫu của Đa Minh và của Phanxicô.

Vào ngày 16 tháng Bảy năm 1251, Đức Mẹ đã hiện ra với thánh Simon Stock và trao cho thánh nhân Áo Đức Bà Nâu (còn gọi là Áo Đức Bà Camêlô). Lúc ấy, Đức Mẹ hứa sẽ bảo trợ những ai mang áo thánh này. Và nhiều phép lạ đã xảy ra để minh chứng cho lời Đức Mẹ đã nói. Thánh Piô X, được bầu làm giáo hoàng từ năm 1903 tới năm 1914, nói rằng người ta cũng nhận được những phúc lành tương tự như thế nếu họ mang ảnh đeo thay Áo Đức Bà. Ảnh đeo này một mặt có hình Đức Mẹ Camêlô và mặt kia có hình Thánh Tâm Chúa Giêsu. Thánh Simon Stock qua đời tại Boócđô, nước Pháp, vào năm 1265.

 Đức Maria, Mẹ Chúa Giêsu, cũng chính là Mẹ của mỗi người chúng ta. Chúng ta hãy nài xin Mẹ giúp đỡ để ngày càng trở nên giống Chúa Giêsu hơn. Mẹ sẽ bảo vệ chúng ta trong cuộc sống và giúp đỡ chúng ta lúc lâm tử. Chúng ta có thể bày tỏ lòng tôn kính Mẹ bằng việc mang Áo Đức Bà Nâu hay ảnh đeo thay Áo Đức Bà.

 

Ngày 17 tháng 7

Thánh Lêô IV

Thánh Lêô IV sống vào thế kỷ thứ 9. Thánh nhân sinh tại thành Rôma và đã sống trọn cuộc đời tại thành phố này. Lêô được giáo dục tại tu viện dòng thánh Bênêđictô tọa lạc gần vương cung thánh đường thánh Phêrô. Lêô được thụ phong linh mục và đã thi hành sứ vụ của mình tại vương cung thánh đường thánh Gioan Lateranô. Lêô rất ư nổi danh và được cả hai đức giáo hoàng ngưỡng mộ. Đức Grêgôriô IV truyền chức phó tế, và đức Sêgiô II đặt Lêô làm hồng y. Cái chết của đức Sêgiô II đã gây một hiệu quả trực tiếp trên Lêô. Những lời đồn đại về cuộc xâm lăng của quân mandi Saraxen đã làm cho người dân Rôma hoảng sợ. Họ không muốn bị đi đày mà không có giáo hoàng. Cả các hồng y cũng vậy. Họ đã nhanh chóng chọn một người kế nhiệm đức Sêgiô II. Và người kế nhiệm được lịch sử biết đến đó chính là đức thánh cha Lêô IV.

Với cương vị là giáo hoàng, thánh Lêô IV đã cho sửa lại các bức tường của thành phố. Những bức tường này đã bị quân Saraxen tấn công và làm hỏng hồi năm ngoái. Thánh nhân đã phục hồi nhiều ngôi thánh đường và đã đưa nhiều thánh tích về Rôma. Ngài bắt đầu chương trình canh tân hàng giáo sĩ. Thực ra, thánh nhân đã triệu tập hội nghị các linh mục Rôma vào năm 853. Ngài đã duyệt y 42 điều luật nhằm giúp các linh mục sống nhiệt thành hơn, ham mộ cầu nguyện hơn và vui sướng hơn với sứ vụ thánh thiện của mình.

Có vài giám mục đã làm cho đức thánh cha Lêô IV phải đau khổ vì gương xấu. Họ công khai chống đối giáo hoàng và không chịu thay đổi lối sống. Dù cho giáo hoàng Lêô bị lăng nhục cách nào thì ngài vẫn nhẫn nại và cương quyết. Thánh nhân vẫn không chịu để cho những khó khăn hay lo lắng nào thắng lướt ngài. Lêô vẫn tiếp tục dâng hiến thời giờ và sức lực cho Chúa Giêsu và Giáo hội. Ngài yêu thích những kinh nguyện hay trong phụng vụ; và ngài đã khuyến khích nền thánh nhạc và thánh ca phụng vụ.

Dân chúng yêu mến thánh Lêô. Trong cuộc đời của mình, hình như Lêô đã làm một phép lạ. Người ta kể rằng ngài đã dập tắt một đám cháy khủng khiếp ở Rôma chỉ bằng một dấu Thánh Giá. Đức thánh cha Lêô IV tiếp tục phục vụ Giáo hội với niềm hăng say phấn khởi cho đến tận giây phút sau cùng. Thánh nhân về trời ngày 17 tháng Bảy năm 855.

 Thánh giáo hoàng Lêô IV đã sống trong một thời đại hoảng loạn. Thánh nhân đã gặp nhiều khó khăn và thử thách nhưng ngài đã luôn luôn bình thản và vui tươi. Mỗi khi nóng giận, chúng ta hãy nài xin thánh giáo hoàng Lêô IV giúp chúng ta biết tin cậy vào Thiên Chúa để tìm được niềm vui và bình an đích thực.

 

Ngày 18 tháng 7

Thánh Camillô Lêllis

Thánh Camillô Lêllis sinh tại thành Napôli, nước Ý, vào năm 1550. Cuộc sống thơ ấu của Camillô không mấy tốt đẹp. Tuổi thanh niên Camillô gia nhập quân đội và mắc phải thói cờ bạc. Nết xấu này làm cho Camillô lúc 24 tuổi phải nghèo xơ xác. Vì muốn thay đổi cuộc đời, Camillô đã xin vào tu trong dòng Capuxinô ở thành Napôli. Thế nhưng Camillô không thể tuyên khấn ở trong dòng được bởi cái chân của ngài bị trọng thương trong trận chiến hồi ngài là quân nhân mà cho tới nay vẫn không thể chữa trị được. Và thay vào đó, Camillô bắt đầu đi chăm sóc các người đau ốm trong thành phố Rôma; rồi ngài đã trở thành giám đốc bệnh viện thánh Giacôbê.

Vị hướng dẫn tinh thần của Camillô, thánh Philipphê Nêri (lễ kính ngày 26 tháng Năm), là một linh mục rất thánh thiện ở Rôma. Cha Philipphê đã giúp Camillô học làm linh mục. Sau đó, Camillô được thụ phong. Cha Camillô quyết định thành lập một nhóm đạo đức tình nguyện chăm sóc những người đau ốm. Cùng với hai người phụ tá, Camillô đã thiết lập một hội dòng chuyên lo cho những người đau bệnh, gọi là dòng Camêllô.

Các tu sĩ Camêllô phục vụ trong các bệnh xá ở Rôma và Napôli cũng như giúp các nạn nhân mắc bệnh dịch tả trên các boong tàu ở hải cảng Rôma. Camillô cùng các anh em linh mục và tu sĩ dòng ngài cũng đến với những người nghèo, người bệnh không ai chăm sóc. Các ngài đã liều mạng sống mình để đem an vui và hy vọng đến cho những bệnh nhân mắc bệnh lây nhiễm. Với thời gian, hội dòng phát triển và có thêm nhiều thành viên mới. Thánh Camillô Lêllis cũng gởi người tới giúp các binh lính bị thương tại Hungary và Croatia. Đây là đơn vị y khoa đầu tiên có mặt trên chiến trường.

Thánh Camillô Lêllis qua đời tại Rôma ngày 14 tháng Bảy năm 1614 sau một cơn bệnh lâu dài. Ngài được phong thánh năm 1746. Đức thánh cha Lêô XIII đã đặt thánh Camillô Lêllis làm thánh bổn mạng của các bệnh nhân. Đức thánh cha Piô XI thì tôn ngài làm thánh quan thầy của giới y tá.

 Thánh Camillô Lêllis đã ước muốn phục vụ Thiên Chúa nhưng ý tưởng ban đầu của thánh nhân lại không thực hiện được. Thay vì buông xuôi mọi sự, thánh nhân đã cố gắng xoay sở để tìm một giải pháp khác. Đặt mình dưới sự hướng dẫn của thánh ý Thiên Chúa, thánh Camillô Lêllis đã thực hiện được giấc mơ là trở thành linh mục. Chúng ta không biết được chính xác Thiên Chúa muốn chúng ta làm gì, nhưng nếu chúng ta cứ mở lòng đón nhận Ngài và phục vụ Ngài trong những anh chị em của chúng ta, thì lúc ấy Thiên Chúa sẽ thực hiện kế hoạch đặc biệt của Ngài trong cuộc đời chúng ta.

 

Ngày 19 tháng 7

Chân phước Phêrô Tôrô

Phêrô Tôrô sinh năm 1912 tại đảo Papua, thuộc Tân Guinêa. Thân phụ ngài, giữ chức trưởng làng, đã mời những nhà truyền giáo tới dạy dỗ dân làng. Cha mẹ của Phêrô là những tín hữu nhiệt thành, hay giúp đỡ những người nghèo khổ và mồ côi trong làng.

Vào độ tuổi niên thiếu, Phêrô rất ham thích cầu nguyện và viếng Thánh Thể. Cha xứ và thân phụ của Phêrô, nhận thấy niềm tin và những khả năng nơi Phêrô, đã khích lệ Phêrô trở thành một giáo lý viên. Hầu hết công việc rao giảng Tin mừng ở Tân Guinêa được thực hiện bởi các giảng viên giáo lý. Vai trò chủ yếu của họ là hướng dẫn các anh chị em tân tòng, tổ chức các buổi cầu nguyện và chăm sóc những người đau yếu tật nguyền.

Phêrô được giao cho công việc phục vụ trong làng. Ngài đã tổ chức các nhóm cầu nguyện và dạy các lớp giáo lý. Phêrô rất am hiểu Kinh Thánh, luôn luôn mang bên mình một quyển Phúc âm và ngài dựa vào đó để cắt nghĩa các bài học giáo lý. Đức tính hiền hậu và sự quan tâm chân thành đối với mọi người trong bộ tộc đã lôi kéo mọi người đến với Phêrô. Họ nói rằng Phêrô đã thực hiện hết mọi điều ngài giảng dạy.

Vào ngày 11 tháng Mười Một năm 1936, Phêrô Tôrô kết hôn với Paula LaVarpit, một thiếu nữ Công giáo ở ngôi làng cạnh bên. Họ đã có với nhau tất cả ba người con. Phêrô là người chồng và là người cha thật dễ thương và tuyệt vời. Mỗi ngày Phêrô cùng cả gia đình họp nhau đọc kinh và cầu nguyện chung.

Vào tháng Ba năm 1942, trong Đại Thế Chiến thứ II, người Nhật đã chiếm lấy hòn đảo nhỏ bé này. Sau một thời gian khoan nhượng với tôn giáo, người Nhật đã hạn chế các hoạt động truyền giáo. Chẳng bao lâu, tất cả các nhà truyền giáo, cả Công giáo lẫn Giám Lý hội, đều bị bắt giam. Khi vị linh mục ở làng của Phêrô bị ép phải ra đi, ngài đã bắt tay Phêrô và nói: “Cha trao công việc của cha lại cho con. Con hãy cẩn thận chăm sóc những người này. Đừng để họ lãng quên Thiên Chúa!”

Phêrô Tôrô đã thực hiện cặn kỹ điều đó. Ngài và các giảng viên giáo lý khác đã giúp giữ cho đức tin Công giáo được sống mãi. Phêrô cũng học được một ít tiếng Nhật và ngài có thể làm quen với các giới chức hải quân Nhật. Nhưng sau khi quân cảnh nắm quyền, họ tưởng là các Kitô hữu đã cầu nguyện cho quân Nhật bại trận. Và họ đã cấm chế các hình thức phụng vụ Công giáo. Rồi một sắc chỉ được ban hành, bắt buộc dân chúng phải quay về với phong tục cổ truyền là người đàn ông được phép lấy nhiều vợ. Phêrô đã công khai phản đối điều lệnh này.

Phêrô Tôrô tiếp tục tổ chức các buổi họp nhau cầu nguyện, nhưng với các nhóm nhỏ hơn để tránh sự chú ý. Ngài khuyến khích cộng đoàn xứ đạo hãy trung thành cầu nguyện để giữ vững đức tin. Đó là công việc của Phêrô với tư cách là giảng viên giáo lý.

Rồi Phêrô Tôrô bị quân cảnh Nhật bắt giữ trong khi đang tổ chức các nhóm cầu nguyện. Gia đình Phêrô đến nhà giam hàng ngày để đem thức ăn cho ngài. Các giới chức lãnh đạo Công giáo và Giám Lý hội của các bộ tộc khác đã tìm cách giải thoát Phêrô nhưng không được. Phêrô Tôrô nói với họ: “Anh em chớ lo lắng! Tôi là một giảng viên giáo lý. Nếu tôi chết, tôi sẽ chết vì đức tin!”

Vào tháng Bảy năm 1945, một bác sĩ người Nhật đã tiêm vào Phêrô Tôrô một mũi thuốc làm chết người. Một người bạn tù quan sát từ xa đã thông báo cho các tù nhân khác hay tin Phêrô Tôrô đã chết. Rồi người ta đã gọi gia đình của Phêrô đến lấy xác và an táng ngài. Nhóm người họp nhau tiễn biệt Phêrô trong đám tang giản dị này đã tôn kính Phêrô Tôrô như một vị thánh tử đạo. Sau khi điều tra, Giáo hội đã chấp nhận và đức thánh cha Gioan Phaolô II đã tôn Phêrô Tôrô lên bậc chân phước ngày 17 tháng Giêng năm 1995.

 Chân phước Phêrô Tôrô đã khiêm tốn nhận mình chỉ là một giảng viên giáo lý và chỉ chu toàn bổn phận của mình, nhưng ngài đã trung thành với bổn phận ngay cả trong những hoàn cảnh hết sức khó khăn. Niềm tin của Phêrô Tôrô thật quyết liệt và trong sáng; và ngài đã anh dũng bảo vệ niềm tin ấy. Chân phước Phêrô Tôrô đã là một tấm gương trung kiên cho những học viên giáo lý của ngài. Ngài cũng nêu gương sáng cho mỗi người chúng ta học hỏi.

 

Ngày 20 tháng 7

Thánh Apôllinariô

Vị thánh này sống ở thế kỷ thứ nhất. Những điều chúng ta biết về thánh nhân được trích từ các tài liệu và bài giảng của hai thánh Bêđa và Phêrô kim ngôn.

Thánh Apôllinariô sinh tại Antiôkia. Ngài là môn đệ của thánh Phêrô. Thánh Phêrô đã đặt Apôllinariô làm giám mục và sai ngài tới truyền giáo tại Ravenna, nước Ý. Ở đó, Apôllinariô đã làm cho nhiều người trở về với Giáo hội bằng gương sáng đời sống thánh thiện cũng như bằng những lời ngài rao giảng. Nhân danh Đức Kitô, thánh Apôllinariô có thể chữa lành những người đau bệnh.

Thánh Apôllinariô làm giám mục trong thời trị vì của hoàng đế Vespasianô. Vì những cuộc bách hại các Kitô hữu, Apôllinariô đã bị đi đày bốn lần. Thực sự, không chắc là Apôllinariô đã bị chết vì đức tin, nhưng thánh nhân đã bị giam cầm và bị hành hạ rất nhiều lần trong suốt hai mươi năm làm giám mục giáo phận Ravenna. Thánh nhân được dân chúng tôn nhận như vị thánh tử đạo bởi những cuộc bách hại ngài chịu vì Chúa Kitô, thậm chí dù ngài đã làm ơn cứu sống những người bách hại ngài.

 Các thánh tử đạo là những chứng nhân của Chúa Kitô và của Tin mừng. Hết thảy chúng ta cũng được mời gọi để trở nên những chứng nhân của Chúa qua cuộc sống đức tin. Đời sống của thánh Apôllinariô cho chúng ta biết các thánh tử đạo không chỉ là những người làm chứng cho Chúa Kitô vì đã dám hy sinh mạng sống, mà các ngài còn trung thành sống Tin mừng của Chúa suốt trọn cuộc đời, ngay cả trong những nghịch cảnh đau thương.

 

Ngày 21 tháng 7

Thánh Laurensô Brinđisi

Xêxarê Rossi sinh năm 1559 tại Brinđisi, nước Ý. Brinđisi là một phần lãnh thổ của tiểu quốc Napôli. Xêxarê nhận tên là Laurensô khi trở thành một tu sĩ dòng Capuxinô Phanxicô lúc 16 tuổi. Sau đó, ngài được gởi tới trường đại học Paris để học các môn thần học, triết học và Kinh Thánh. Laurensô cũng học các tiếng Latinh, Hy Lạp, Hípri, Pháp, Đức, Tây Ban Nha và Syria nữa.

Sau khi thụ phong linh mục, thánh Laurensô Brinđisi đã trở thành một thầy dạy danh tiếng. Vì biết nhiều ngoại ngữ, thánh Laurensô đã có thể tiếp cận với nhiều người khác nhau. Rồi, Laurensô được sai đi thiết lập tu viện của dòng tại Áo. Vua nước Áo, Ruđolph II, không muốn cho hội dòng đến đất nước của ông, nhưng sự quan tâm và dịu dàng của thánh Laurensô đối với các bệnh nhân dịch tả đã khiến cho hoàng đế Ruđolph cuối cùng phải ưng thuận.

Tiếp đến, hoàng đế lại xin thánh Laurensô Brinđisi thuyết phục các ông hoàng nước Đức chinh phạt quân Thổ, vì Thổ đang tìm cách chinh phục nước Hungary. Và Laurensô đã thuyết phục được các ông hoàng bên Đức. Tuy nhiên, các thống lãnh đã nài xin thánh Laurensô cùng họ ra trận để chiến đấu và chiến thắng. Khi các binh lính thấy lực lượng đông đảo và hùng hậu của quân Thổ, chân tay họ đã bủn rủn và muốn bỏ cuộc. Vì thế, thánh Laurensô đã phải cưỡi ngựa đi trước đoàn quân. Laurensô chỉ được trang bị bằng một cây Thánh Giá duy nhất. Rồi các binh sĩ Đức lấy lại nhuệ khí và đã chiến đấu rất can đảm. Cuối cùng, quân Thổ hoàn toàn bị bại trận. Thánh Laurensô Brinđisi được hoan hô nhiệt liệt, nhưng ngài chẳng bao giờ tự hào vì đã thành công. Laurensô Brinđisi đặt tin tưởng nơi Chúa là Đấng đã ban cho ngài chiến thắng.

Năm 1602, thánh Laurensô Brinđisi được cử làm tổng đại diện của hội dòng. Thánh nhân đã làm việc, giảng dạy và viết sách để truyền bá Tin mừng. Thánh nhân cũng thực hiện những cuộc đàm phán hòa bình quan trọng tại Munich ở Đức và Mađriđ ở Tây Ban Nha. Các vị lãnh đạo của những nơi này đã lắng nghe Laurensô Brinđisi và kết quả rất thành công. Sau đó thánh Laurensô Brinđisi trải qua một cơn bạo bệnh. Thánh nhân đã kiệt lực đang khi du lịch trong cái nóng mùa hè khắc nghiệt. Laurensô Brinđisi qua đời vào đúng ngày kỷ niệm sinh nhật của ngài, 22 tháng Bảy năm 1619. Laurensô Brinđisi được đức thánh cha Lêô XIII tôn phong hiển thánh năm 1881. Đến năm 1959, đức chân phước giáo hoàng Gioan XXIII đã ban tặng thánh Laurensô Brinđisi danh hiệu Tiến sĩ Hội Thánh.

 Cầu nguyện là bí quyết để thành công trong cuộc sống. Chúng ta hãy nài xin thánh Laurensô Brinđisi giúp chúng ta mỗi ngày biết dành ra một chút thời giờ để trò truyện với Thiên Chúa.

 

Ngày 22 tháng 7

Thánh Maria Mađalêna

Thánh nữ Maria Mađalêna quê ở Magđala, gần biển hồ Galilêa. Thánh nữ bị quỷ ám cho tới khi Đức Chúa Giêsu đến trừ quỷ cho. Sau đó, Maria Mađalêna đi theo Đức Chúa Giêsu làm môn đệ và là một trong những phụ nữ thánh thiện đã giúp đỡ Chúa Giêsu và các tông đồ.

Khi Chúa Giêsu bị đóng đinh, thánh nữ Maria Mađalêna đã đứng dưới chân thập giá. Ngài ở đó cùng với Đức Maria và thánh Gioan, không sợ nguy hiểm gì! Tất cả những điều thánh nữ có thể nghĩ tưởng lúc ấy là: Thiên Chúa của tôi đang phải chịu đau khổ!

Sau khi thân xác Đức Chúa Giêsu được mai táng, Maria Mađalêna đã đến mồ Chúa ngay từ sáng sớm ngày Chúa phục sinh. Thánh nữ rất đỗi bàng hoàng khi nhìn thấy tảng đá to được lăn ra và ngôi mộ trống rỗng. Maria Mađalêna đã vội chạy đi báo tin cho Phêrô và Gioan: “Họ đã lấy mất xác Thầy và tôi không biết họ đã đặt Người ở đâu!” Phêrô và Gioan liền vội vã chạy tới mồ và nhận thấy mọi sự thật đúng như lời Maria Mađalêna đã nói. Rồi Maria Mađalêna ở lại bên mộ sau khi Phêrô và Gioan về nhà. Và Maria Mađalêna bắt đầu khóc! Đột nhiên, Maria Mađalêna thấy một người đàn ông mà ngài tưởng là người làm vườn. Maria Mađalêna liền hỏi người ấy xem có biết nơi để xác Thầy yêu quý của mình không. Và người đàn ông nói bằng một giọng mà Maria Mađalêna nghe rất quen: “Maria!” Và đó chính là Đức Chúa Giêsu, đang đứng ngay trước mặt thánh nữ! Chúa đã sống lại từ cõi chết! Maria Mađalêna liền quỳ phục xuống dưới chân Chúa Giêsu và kêu lên: “Lạy Thầy!”

Các thánh ký cho chúng ta biết Maria Mađalêna đã được Chúa Giêsu sai đi loan báo Tin mừng phục sinh cho Phêrô và các tông đồ. Ở những thế kỷ đầu của Giáo hội, lễ mừng kính thánh nữ Maria Mađalêna được cử hành cách long trọng y như lễ kính các thánh tông đồ. 

Thánh nữ Maria Mađalêna là người đầu tiên được xem thấy Đức Chúa Giêsu phục sinh và là người đầu tiên đem Tin mừng phục sinh đến cho các tông đồ. Thánh nữ có thể giúp chúng ta loan báo cũng Tin mừng ấy qua việc sống cuộc đời vui tươi và đầy lòng tin tưởng.

 

Ngày 23 tháng 7

Thánh Brigitta Thụy Điển

Thánh nữ Brigitta sinh tại Thụy Điển vào năm 1303. Từ lúc còn rất nhỏ, Brigitta đã có lòng sùng kính các sự thương khó của Đức Chúa Giêsu. Khi chỉ mới lên 10, dường như Brigitta đã được nhìn thấy Đức Chúa Giêsu trên Thánh Giá và nghe Người phán bảo: “Hỡi con, hãy nhìn xem Ta!” “Ai đã đối xử với Chúa như thế?” Brigitta la to. Chúa Giêsu trả lời: “Chính những người đã khinh miệt Ta và khước từ tình yêu của Ta!” Từ lúc đó trở đi, Brigitta đã cố gắng ngăn cản không để cho người nào xúc phạm đến Chúa nữa.

Năm lên 14 tuổi, Brigitta kết hôn với Ulf, 18 tuổi. Cũng như Brigitta, Ulf đã dâng trái tim mình để phục vụ Thiên Chúa; và cả hai đã xin gia nhập dòng Ba Phanxicô. Họ sinh được tất cả tám người con, trong đó có một người là thánh nữ Catarina Thụy Điển. Brigitta và Ulf phục vụ trong đền vua Thụy Điển. Brigitta là tỳ nữ của hoàng hậu. Ngài đã cố gắng giúp vua Magnus và hoàng hậu Blăngsơ sống cuộc đời tốt hơn. Nhưng hầu như họ đã không đoái hoài gì tới lời thánh nữ nói.

Suốt cuộc đời, Brigitta đã được hưởng những thị kiến kỳ diệu và đã nhận được từ Thiên Chúa những sứ điệp đặc biệt. Để thi hành những sứ điệp này, thánh nữ đã thăm viếng nhiều vị lãnh đạo trong Giáo hội. Brigitta khiêm tốn giải thích những điều Thiên Chúa mong đợi họ thực hiện. Sau khi người chồng qua đời, Brigitta đem bố thí hết những áo quần sang trọng của mình. Thánh nữ sống như một nữ tu nghèo khó. Sau đó, Brigitta thiết lập dòng Đấng Cứu Chuộc, cũng gọi là dòng nữ Brigittin. Thánh Brigitta vẫn tiếp tục cuộc sống bận rộn, đi làm việc thiện ở nhiều nơi; và qua những hoạt động này, Chúa Giêsu mạc khải cho thánh nữ biết nhiều bí mật khác. Brigitta đã không bao giờ hãnh diện và tự đắc về những hồng ân này.

Trước khi về trời ít ngày, thánh nữ Brigitta đã hành hương tới thánh địa. Tại các đền thánh ở đây, thánh Brigitta được thị kiến về những điều xưa kia Đức Chúa Giêsu đã nói và đã làm trên mảnh đất này. Sau khi qua đời, tất cả các thị kiến của thánh nữ Brigitta về cuộc thương khó của Chúa Giêsu đã được in thành sách. Thánh nữ qua đời ngày 23 tháng Bảy năm 1373. Đến năm 1391, đức thánh cha Bôniphaxiô IX đã tôn phong Brigitta lên bậc hiển thánh.

 Thánh nữ Brigitta Thụy Điển đã rất quý trọng cuộc khổ nạn của Đức Chúa Giêsu. Chúng ta hãy nài xin thánh nữ giúp chúng ta cũng biết nhạy cảm và trở nên những môn đệ cũng sống biết ơn Đức Chúa Giêsu như ngài.

 

Ngày 24 tháng 7

Thánh Sabel Malốp

Giuse Malốp sinh năm 1828 tại Lêbanon. Gia đình Giuse rất nghèo; và thân phụ Giuse đã qua đời khi ngài còn rất nhỏ. Giuse và các anh chị em được nuôi dạy bởi thân mẫu và người cậu. Vì được hấp thụ một nền giáo dục chân thành nên Giuse và các anh chị em đã cảm hiểu và yêu mến đức tin của mình cách rất tha thiết. Nơi nhà thờ, Giuse tham gia giúp lễ và ca đoàn. Ở nhà tư, Giuse giúp chăn giữ chiên cừu và dành nhiều thời giờ để cầu nguyện cũng như suy gẫm một mình.

Giuse có hai người cậu đi tu; và ngài thích viếng thăm các cậu để bắt chước lối sống của các cậu. Khi Giuse lên 23, ngài đã xin vào một tu viện và nhận tên là Sabel. Khấn dòng xong, Sabel theo học triết học và thần học. Sau đó, Sabel được thụ phong linh mục và ngài đã sống cuộc đời cầu nguyện, hãm mình đền tội và chăm chỉ làm việc. Đó là những công việc Sabel Malốp rất ưa thích và ngài cảm thấy rất hạnh phúc.

Năm 1866, Sabel lui vào trong một ẩn am để sống cuộc đời biệt lập. Sabel cảm thấy Thiên Chúa mời gọi mình sống thân mật với Người qua lối sống này. Và Sabel đã sống trong căn phòng nhỏ bé đó suốt 23 năm, dành hầu hết thời giờ để cầu nguyện và dâng thánh lễ. Dù đã cố gắng sống ẩn mình, nhiều người vẫn tìm đến với thánh nhân để xin ngài cầu nguyện và khuyên bảo.

Năm 1898, Sabel Malốp đã bị đột quỵ đang lúc cử hành thánh lễ. Ngài được đưa về phòng và không thể dâng lễ được nữa. Sabel Malốp qua đời tám ngày sau đó, vào dịp lễ giáng sinh. Ngôi mộ của ngài đã biến thành địa điểm hành hương. Trong năm 1950, mỗi ngày có khoảng 15000 người đã đến kính viếng mộ ngài. Đức thánh cha Phaolô VI đã phong thánh cho Sabel Malốp vào năm 1977.

 Khi cầu nguyện, chúng ta làm một việc rất quan trọng và hữu ích không chỉ cho riêng bản thân chúng ta mà còn cho toàn thể thế giới. Khi gặp những khó khăn hay vấn đề nan giải, chúng ta hãy noi theo gương thánh Sabel Malốp và hãy dùng những phương thế thích hợp cho riêng mình.

 

Ngày 25 tháng 7

Thánh Giacôbê tiền

Giacôbê là một ngư phủ giống như cha Zêbêđê và em mình là Gioan. Ngài đang ở trên thuyền cùng cha vá lưới khi Đức Giêsu đi ngang qua. Chúa Giêsu gọi Giacôbê và Gioan theo Người để làm ngư phủ lưới người, để cùng với Chúa rao giảng Tin mừng. Cha Zêbêđê nhìn theo hai con trai khi hai ngài bỏ thuyền mà đi với Chúa Giêsu.

Cũng như thánh Phêrô và thánh Gioan, thánh Giacôbê là một người bạn đặc biệt của Đức Chúa Giêsu. Cùng với hai tông đồ này, Giacôbê được chứng kiến những dấu lạ mà các tông đồ khác không được xem thấy. Với hai tông đồ Phêrô và Gioan, Giacôbê được chứng kiến Đức Chúa Giêsu làm cho con gái ông Giairô sống lại. Với hai tông đồ, thánh nhân được đưa lên trên núi để xem Đức Chúa Giêsu biến hình xán lạn như mặt trời, với y phục trắng tinh như tuyết. Biến cố này gọi là phép lạ Chúa Giêsu hiển dung. Và trong ngày Thứ Năm Tuần Thánh, buổi tối trước lúc chịu nạn, Đức Chúa Giêsu dẫn các tông đồ vào vườn cây Dầu. Thánh ký Matthêu cho chúng ta biết Chúa Giêsu đã mời riêng Phêrô, Giacôbê và Gioan đồng hành với Người tới một nơi tách biệt để cầu nguyện. Ba tông đồ được xem thấy nét mặt của Thầy mình trở nên âu sầu và lo lắng. Đối với Chúa Giêsu, đó là thời điểm rất đỗi cam go, thế mà các tông đồ thì lại mệt mỏi và thiếp ngủ. Sau đó, thánh Giacôbê đã hoảng sợ và bỏ chạy khi kẻ thù tới bắt Đức Chúa Giêsu. Giacôbê không hiện diện dưới chân thập giá trong ngày Thứ Sáu Tuần Thánh. Nhưng Chúa Giêsu đã gặp ngài vào buổi tối Chúa nhật phục sinh tại căn phòng trên lầu. Chúa Giêsu Phục Sinh đã bước vào và nói: “Bình an cho anh em!” trong khi cửa nhà vẫn đóng kín. Thánh Giacôbê và các tông đồ khác đã tìm lại bình an sau khi Chúa Thánh Linh hiện xuống vào ngày lễ Ngũ Tuần.

Thánh Giacôbê đã bắt đầu sứ vụ của mình với cá tính của một người trực ngôn, bốc đồng. Thánh nhân đã thẳng thắn hỏi Đức Chúa Giêsu về chỗ danh dự trong nước trời. Ngài đã đòi Đức Chúa Giêsu giáng lửa từ trời xuống thiêu đốt các làng không đón tiếp Chúa. Nhưng thánh Giacôbê đã tin tưởng vào Chúa Giêsu rất mực. Sau cùng, thánh nhân đã trở nên khiêm tốn và hiền từ. Thánh Giacôbê đã trở thành “người đầu tiên chiếm chỗ danh dự” mà có lẽ thánh nhân chưa bao giờ nghĩ tới. Thánh Giacôbê được ban cho vinh dự là tông đồ đầu tiên được phúc tử đạo vì Chúa Giêsu. Chương thứ 12 sách Công Vụ Tông Đồ cho chúng ta biết vua Hêrôđê Agrippa đã dùng gươm giết thánh Giacôbê. Vì là thánh tử đạo, thánh Giacôbê là chứng nhân vĩ đại nhất trong tất cả các chứng nhân sau này.

 Để nhận ra những yếu đuối của mình, chúng ta hãy nài xin thánh Giacôbê Tiền ban cho sự khiêm nhượng và lòng chân thành. Ngài sẽ giúp chúng ta biết học nơi Đức Chúa Giêsu những điều cần thiết để cải hóa bản thân.

 

 

Ngày 26 tháng 7

Thánh Gioakim và thánh Anna

Thánh Gioakim và thánh Anna là song thân của Đức Trinh Nữ Maria. Các ngài đã dùng đời sống mình để tôn thờ Thiên Chúa và làm việc bác ái. Tuy vậy, các ngài cũng rất đau buồn vì suốt nhiều năm dài, các ngài vẫn không được phúc sinh con. Thánh Anna đã nhiều năm cầu xin Thiên Chúa ban cho có một người con; và thánh nữ đoan hứa sẽ tận hiến người con ấy cho Thiên Chúa. Đến khi thánh Anna đã già nua tuổi tác, Thiên Chúa mới nhận lời cầu xin của ngài và Thiên Chúa đã ban cho thánh nữ một người con vượt xa hơn rất nhiều so với điều thánh nữ mong ước. Người con ấy chính là Đức Rất Thánh Trinh Nữ Maria. Người con thánh thiện hơn hết tất cả các người nữ này sẽ trở thành Mẹ của Thiên Chúa. Thánh Anna đã yêu thương chăm sóc Đức Maria độ vài năm, sau đó ngài dâng Đức Maria vào đền thánh Giêrusalem để phục vụ Thiên Chúa, như trước đây ngài đã đoan hứa với Thiên Chúa.

Đức Maria đến sống tại đền thánh Giêrusalem; thánh Gioakim và thánh Anna thì tiếp tục cuộc sống cầu nguyện cho tới khi Chúa đem các ngài về trời. Các Kitô hữu vẫn luôn tôn kính thánh Anna cách đặc biệt. Nhiều nguyện đường xinh đẹp đã được xây cất để tôn kính thánh nữ. Có lẽ nguyện đường nổi tiếng nhất là đền thánh Anna Bốp ở Canađa. Tại đây luôn luôn có những nhóm đông người đến cầu xin thánh nữ Anna giúp đỡ trong những cơn đau khổ.

 Thánh Gioakim và thánh Anna là song thân Đức Mẹ và là ông bà ngoại của Đức Chúa Giêsu. Chúng ta hãy nài xin các ngài giúp chúng ta ngày càng sống thân mật hơn với Chúa Giêsu và Mẹ Thánh Người.

 

Ngày 27 tháng 7

Chân phước Titô Bransma

Annô Bransma được sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo khổ tại Hà Lan vào năm 1881. Năm 17 tuổi, ngài vào tu dòng Cátminh và nhận tên là Titô. Khi còn là tập sinh, Titô đã xuất bản tập sách ngài chuyển ngữ qua tiếng Hà Lan với nhan đề “Thánh nữ Têrêsa thành Avila.” Titô cũng lập ra tờ tạp chí cho dòng Cátminh, mà sau này đã phục vụ đông đảo các tín hữu Hà Lan.

Titô được thụ phong linh mục lúc 24 tuổi. Sau khi du học Rôma, ngài trở về Hà Lan và tiếp tục công việc chuyển dịch các tác phẩm của thánh Têrêsa Avila. Titô lại thiết lập thêm tờ tạp chí truyền bá linh đạo Cátminh và ngài cũng biên tập cho tờ báo địa phương.

Từ năm 1923 tới 1942, Titô Bransma dạy triết học. Suốt thời gian này, Titô nổi danh như một phóng viên. Ngài đã thẳng thắn chống lại đảng Quốc xã, chống lại triết lý và các tội ác giết người Dothái của họ. Titô đã bảo vệ các trường Công giáo và không để cho các sinh viên gốc Dothái bị đuổi khỏi trường khi Đức Quốc xã chiếm đóng Hà Lan. Lợi dụng tiếng tăm của mình như một phóng viên, Titô Bransma đã thuyết phục các biên tập viên tờ báo Công giáo không xuất bản những tập tin cho đảng Quốc xã.

Công an mật của Đức Quốc xã đã bắt giam Titô Bransma ngày 19 tháng Giêng năm 1942. Trong lúc ở tù, Titô đã sáng tác văn thơ và viết lại những suy niệm về các chặng đàng Thánh Giá. Vào tháng Sáu, Titô Bransma được gởi tới trại tập trung Đacô gần Munich, nước Đức. Titô chết vì bị tiêm thuốc độc ngày 26 tháng Bảy năm 1942.

Đến năm 1985, đức thánh cha Gioan Phaolô II đã tôn phong Titô Bransma lên bậc chân phước.

 Chúa Giêsu mời gọi chúng ta hãy yêu thương mọi người – không phân biệt quốc gia, chủng tộc, tôn giáo… vì Thiên Chúa là Cha của hết thảy mọi người. Chúng ta hãy nghĩ về mọi người như là anh chị em của mình. Là những Kitô hữu, chúng ta hãy cố gắng làm những gì có thể để mọi người được đối xử công bằng.

 

Ngày 28 tháng 7

Chân phước Maria Mađalêna Matinengô

Maria Mađalêna Matinengô sinh năm 1687 tại Brêscia, nước Ý. Thân mẫu Maria qua đời ít lâu sau khi sinh hạ ngài. Lúc còn nhỏ, Maria chịu ảnh hưởng của các vị thánh; và ngài đã cố gắng bắt chước họ trong cầu nguyện và thực hành các việc đền tội.

Lên 18 tuổi, Maria Mađalêna Matinengô gia nhập hội dòng các nữ tu Capuxinô tại quê nhà. Ngài đã sống một cuộc đời cầu nguyện, đền tội; và Thiên Chúa đã ban cho ngài những ân sủng đặc biệt, kể cả ơn làm được phép lạ. Sơ Maria đặc biệt tận hiến đời mình cho Chúa Giêsu Tử Nạn và thường hay suy gẫm từng cực hình mà Người đã chịu để cứu chuộc các tội nhân.

Nhiều người đã đến với sơ Maria xin lời cầu nguyện, và sơ đã khích lệ cũng như giúp họ nhận ra những điều cần làm để loại bớt những khó khăn trong cuộc sống. Đôi lúc, sơ Maria có thể đọc được những tư tưởng của họ và tiên báo cả những biến cố tương lai.

Sơ Maria Mađalêna Matinengô phục vụ cộng đoàn qua các chức vụ tập sư và giữ cổng; và chị em cũng chọn ngài làm Mẹ bề trên hai nhiệm kỳ. Maria là người khôn ngoan, quảng đại và có thể làm bất cứ việc gì khi chị em cần đến. Maria Mađalêna Matinengô qua đời năm 1737, lúc được 50 tuổi. Ngài được đức thánh cha Lêô XIII tôn phong lên bậc chân phước.

 Chúng ta hãy bắt chước Chúa Giêsu Tử Nạn bằng việc chu toàn thật tốt những nhiệm vụ được trao phó cho mình, nhất là những công việc chúng ta không ưa thích. Thay vì phàn nàn về những chuyện vặt vãnh trong nhà hay việc học ở trường, chúng ta hãy xem đó như các việc đền tội mà các việc này sẽ giúp chúng ta càng ngày càng trở nên giống Đức Chúa Giêsu hơn.

 

Ngày 29 tháng 7

Thánh Matta

Thánh nữ Matta là chị ruột của Maria và Lazarô. Các ngài sống tại một ngôi làng nhỏ bé tên Bêtania gần thành phố Giêrusalem. Các ngài là những người bạn rất thân của Đức Chúa Giêsu, và Đức Chúa Giêsu cũng thường hay đến thăm các ngài. Thật vậy, sách Tin mừng nói cho chúng ta biết: “Chúa Giêsu yêu Matta, Maria và Lazarô.” Chính thánh nữ Matta đã phục vụ Chúa Giêsu cách rất âu yếm khi Người đến thăm gia đình Matta.

Một ngày kia, thánh nữ Matta đang bận sửa soạn bữa ăn cho Chúa Giêsu và các tông đồ của Người. Thánh nữ nhận thấy rằng công việc sẽ dễ dàng hơn nếu cô Maria em ngài phụ giúp ngài một tay. Matta thấy Maria đang ngồi bên chân Chúa Giêsu mà nghe lời Người. Matta liền đề nghị: “Thưa Thầy, xin Thầy bảo em con giúp con với!” Chúa Giêsu rất hài lòng với công việc phục vụ dễ thương của Matta. Tuy vậy, Người muốn cho Matta hiểu rằng việc nghe lời Chúa và cầu nguyện thì có tầm quan trọng hơn. Vì thế, Chúa Giêsu đã dịu dàng nói: “Matta, Matta, con lo lắng bối rối về nhiều chuyện! Chỉ có một chuyện cần mà thôi! Maria em con đã chọn phần tốt nhất!”

Lòng tin tưởng mãnh liệt vào Chúa Giêsu của thánh nữ Matta còn được biểu lộ khi em trai Lazarô qua đời. Ngay lúc nghe tin Đức Chúa Giêsu đang đến Bêtania, Matta đã đi ra tiếp đón Người. Matta tin tưởng vào Chúa Giêsu và thốt lên cách rất tự nhiên: “Lạy Thầy, nếu Thầy ở đây thì em con không chết!” Sau đó, Chúa Giêsu nói với Matta rằng em Lazarô sẽ sống lại. Người nói: “Ai tin vào Thầy thì dù có chết cũng sẽ sống. Con có tin điều đó không?” Và Matta thưa: “Lạy Thầy, vâng con tin rằng Thầy là Đức Kitô Con Thiên Chúa đã đến trong thế gian.” Hôm ấy, Chúa Giêsu đã làm một phép lạ vĩ đại cho Lazarô sống lại từ cõi chết!

Sau đó, Chúa Giêsu lại đến dùng bữa với Lazarô, Matta và Maria. Thánh nữ Matta phục vụ bàn ăn như thường lệ. Tuy nhiên, lần này với thái độ đáng yêu hơn: Matta đã phục vụ với một trái tim thật vui tươi!

 Thánh nữ Matta đã nêu cho chúng ta một tấm gương sáng về lòng hiếu khách. Khi chúng ta chào đón hay phục vụ ai, Đức Chúa Giêsu coi đó như là chúng ta làm cho chính bản thân Người. Thánh nữ Matta cũng nêu gương sáng về lòng tin tưởng và niềm trông cậy. Ngài là bạn thân của Đức Chúa Giêsu và ngài biết có thể tin tưởng vào lời Đức Chúa Giêsu đã nói. Xin thánh nữ Matta cũng giúp chúng ta biết tạo mối tương quan thân thiện với Đức Chúa Giêsu như ngài.

 

Ngày 30 tháng 7

Thánh Phêrô kim ngôn

Thánh Phêrô kim ngôn sinh trưởng tại một thị trấn nhỏ miền Imôla, nước Ý. Ngài sống vào thế kỷ thứ 5. Giám mục Cornêliô thuộc giáo phận Imôla đã dạy dỗ và phong cho Phêrô thừa tác vụ phó tế. Ngay từ nhỏ, Phêrô đã hiểu được rằng người ta chỉ thực sự vĩ đại khi biết mặc lấy tinh thần của Chúa Kitô và làm chủ các đam mê của mình.

Khi đức tổng giám mục Ravenna, nước Ý, qua đời, đức thánh cha Sixtô III đã chỉ định Phêrô lên thay thế ngài. Lúc ấy khoảng năm 433. Với cương vị là linh mục và giám mục, thánh Phêrô đã làm việc rất có hiệu quả. Ngài đã loại bỏ hết các thói tục của dân ngoại vốn tồn tại trong giáo phận suốt nhiều năm qua. Ngài nâng đỡ niềm tin của các Kitô hữu trong giáo phận của ngài.

Thánh Phêrô nổi danh nhờ tài giảng thuyết. Từ ngữ “Chrysologos” có nghĩa là “lời vàng.” Qủa vậy, các bài giảng lễ và các huấn từ của thánh Phêrô thật vắn gọn và súc tích; và sứ điệp của thánh nhân quả thật có giá trị hơn vàng. Thánh Phêrô thuyết giảng với lòng nhiệt thành bốc lửa đến nỗi người ta phải nín thở mỗi khi nghe ngài. Trong các bài giảng của mình, thánh Phêrô khuyến khích mọi người hãy năng đón rước Chúa Giêsu Thánh Thể hơn. Ngài muốn mọi người nhận thức rằng Mình Thánh Chúa Kitô chính là lương thực hằng ngày nuôi sống linh hồn ta.

Đức tổng giám mục tốt phúc này cũng ra sức hoạt động cho sự hiệp nhất Giáo hội. Ngài đã giúp người ta phân biệt những điều thuộc và không thuộc đức tin Công giáo. Ngài cũng cố gắng gìn giữ hòa bình. Thánh Phêrô kim ngôn qua đời năm 450 tại Imôla, quê hương ngài sinh trưởng. Vì những bài giảng thuyết tuyệt vời kèm theo những giáo huấn rất mực sâu sắc, thánh Phêrô kim ngôn đã được đức thánh cha Bênêđictô XIII tôn nhận là Tiến sĩ Hội Thánh vào năm 1729. Ngày nay người ta còn giữ lại được khoảng 180 bài giảng thuyết của ngài. 

Thánh Phêrô kim ngôn đã rao giảng một sứ điệp đơn sơ dễ hiểu. Chúng ta hãy nên giống ngài qua việc đem Tin mừng của Đức Chúa Giêsu ra thực hành với lòng yêu mến và quảng đại. Đó là sứ điệp mà mọi người sẽ hiểu biết và trân quý.

 

Ngày 31 tháng 7

Thánh Inhaxiô Lôyôla

Vị sáng lập dòng Tên nổi danh Inhaxiô Lôyôla sinh năm 1491. Ngài xuất thân trong một gia đình quý tộc Tây Ban Nha. Khi còn nhỏ, Inhaxiô được gởi vào giúp việc trong hoàng cung. Ở đó, Inhaxiô nuôi dưỡng khát vọng một ngày nào đó sẽ trở nên một binh sĩ vĩ đại và sẽ kết hôn với một phụ nữ xinh đẹp. Về sau, Inhaxiô đã đạt được vinh dự này vì lòng can đảm chiến đấu trong trận đánh Pamplôna. Tuy nhiên, vết thương từ viên đạn đại bác đã buộc Inhaxiô phải trải qua nhiều tháng trời nằm bệnh tại lâu đài Lôyôla.

Rồi, Inhaxiô Lôyôla đã xin mượn một ít sách để đọc. Thánh nhân thích đọc truyện các hiệp sĩ hơn nhưng người ta chỉ có sẵn những truyện về Chúa Giêsu và gương các thánh. Vì không có gì để làm, Inhaxiô Lôyôla bèn đọc đỡ các sách truyện này. Dần dần, các sách này đã gây ấn tượng trên Inhaxiô và đời sống của Inhaxiô bắt đầu thay đổi. Ngài tự nhủ: “Các vị thánh nam và thánh nữ này cũng giống như tôi, vậy sao tôi không thể làm được những gì họ đã làm nhỉ?” Tất cả những vinh quang mà Inhaxiô Lôyôla ao ước trước kia thì giờ đây dường như chẳng còn giá trị gì. Inhaxiô Lôyôla bắt đầu noi gương các vị thánh cầu nguyện, đền tội và làm việc bác ái.

Khi lành bệnh, Inhaxiô Lôyôla hành hương tới Monsơrat. Ngài đặt thanh gươm của mình trước một bàn thờ và bố thí bộ đồ sang trọng của ngài cho một người hành khất nghèo khó. Inhaxiô tiếp tục tới Monsơrat và ngài đã lưu lại đó hai năm (1522-1523) để tĩnh tâm và cầu nguyện. Vì mơ ước làm linh mục, Inhaxiô bắt đầu ghi danh học văn phạm tại Barxêlôna. Hầu hết các sinh viên đều trẻ hơn Inhaxiô rất nhiều tuổi. Inhaxiô Lôyôla lúc ấy đã 33! Tuy vậy, Inhaxiô Lôyôla vẫn quyết tâm đến trường vì ngài biết ngài cần kiến thức này để thi hành sứ vụ linh mục. Với lòng kiên nhẫn và đôi khi thích thú, Inhaxiô chấp nhận những lời chế nhạo cũng như mắng nhiếc của bọn trẻ. Suốt thời gian này, Inhaxiô đã cố gắng dạy bảo và khuyến khích người ta cầu nguyện. Vì lý do đó, Inhaxiô đã bị nghi là lạc giáo, và đã bị giam tù một thời gian. Nhưng điều ấy cũng không ngăn cản nổi Inhaxiô. “Cả thành phố này không chứa nổi nhiều dây xích như tôi ao ước được đeo mang vì tình yêu Chúa Giêsu!” Inhaxiô nói. Sau đó, Inhaxiô Lôyôla được xử vô tội và được phóng thích.

Inhaxiô Lôyôla tiếp tục tới Paris để trau dồi thêm Latinh và học môn triết. Tốt nghiệp đại học Paris, Inhaxiô lúc ấy đã 43 tuổi. Vào năm 1534, Inhaxiô tuyên các lời khấn dòng cùng với sáu anh em sinh viên khác. Inhaxiô Lôyôla và các anh em chưa làm linh mục được thụ phong năm 1539. Các ngài đoan hứa sẽ phục vụ Thiên Chúa qua việc vâng phục đức thánh cha cách trọn hảo. Năm 1540, đức thánh cha chính thức ký sắc lệnh châu phê hiến pháp của hội dòng. Trước lúc Inhaxiô Lôyôla qua đời, số tu sĩ dòng Tên (hay còn gọi là dòng Chúa Giêsu) đã lên tới 1000. Các ngài đảm nhận công tác dạy học và truyền giáo. Inhaxiô thường hay cầu nguyện với Thiên Chúa: “Lạy Chúa, xin ban cho con tình yêu và ân sủng của Ngài, và như thế là đủ cho con!” Thánh Inhaxiô qua đời tại Rôma hôm 31 tháng Bảy năm 1556. Đức thánh cha Grêgôriô XV đã tôn ngài lên bậc hiển thánh năm 1622.

 Thánh Inhaxiô Lôyôla đã đọc nhiều truyện về gương Chúa Giêsu và các thánh. Các sách này đã giúp ngài có một nhận thức sâu xa về Chúa Giêsu, Mẹ Maria và Giáo hội. Chúng ta cũng hãy chọn đọc những sách truyện các thánh để có thêm nghị lực hầu trở nên những môn đệ quảng đại của Đức Chúa Giêsu.

 

 

Tháng 08

Các Thánh Dành Cho Bạn Trẻ

 

Ngày 01: Thánh Alphongsô Ligôri

Ngày 02: Thánh Phêrô Julianô Eymard

Ngày 03: Thánh Philipphê Bênizi

Ngày 04: Thánh Gioan Maria Viannê

Ngày 05: Lễ cung hiến thánh đường Đức Bà cả

Ngày 06: Chúa Giêsu hiển dung

Ngày 07: Thánh Cajêtan

Ngày 08: Thánh Đa Minh

Ngày 09: Thánh Êđit Stêin

Ngày 10: Thánh Lôrenxô

Ngày 11: Thánh Clara

Ngày 12: Thánh Stanislao Kostka

Ngày 13: Thánh Pontianô và thánh Hippolytô

Ngày 14: Thánh Maximilianô Kolbê

Ngày 15: Lễ Đức Mẹ lên trời

Ngày 16: Thánh Têphanô Hungary

Ngày 17: Thánh Gioan Đilăng

Ngày 18: Thánh Giăng Săngtan

Ngày 19: Thánh Gioan Êuđê

Ngày 20: Thánh Bênađô

Ngày 21: Thánh Piô X

Ngày 22: Lễ Đức Maria nữ vương

Ngày 23: Thánh Rôsa Lima

Ngày 24: Thánh Batôlômêô

Ngày 25: Thánh Luy

Ngày 26: Thánh Êlizabeth Bichiê

Ngày 27: Thánh Monica

Ngày 28: Thánh Augustinô

Ngày 29: Lễ thánh Gioan tẩy giả bị trảm quyết

Ngày 30: Thánh Fiacrê

Ngày 31: Thánh Aiđan Linđisphan

 

 

Ngày 1 tháng 8

Thánh Alphongsô Ligôri

Thánh Alphongsô Ligôri sinh năm 1696 tại một nơi gần thành Napôli, nước Ý. Thánh nhân đạt được học vị cao trong ngành luật khi mới 16 tuổi; và đã trở thành một luật sư danh tiếng. Thế nhưng, một sai phạm trong một phiên tòa nọ đã khiến Alphongsô mất một nhiệm vụ quan trọng; và thế là Alphongsô Ligôri quyết định bỏ nghề để theo đuổi tiếng gọi đích thực là làm linh mục. Thân phụ Alphongsô đặt rất nhiều kỳ vọng nơi con trai mình đã cố gắng khuyên Alphongsô đừng bỏ nghề. Tuy nhiên, Alphongsô Ligôri đã quyết định. Ngài gia nhập hội dòng Diễn Giảng (do thánh Philipphê Nêri thành lập vào năm 1564); và sau đó, Alphongsô Ligôri được thụ phong linh mục năm 1726. Cuộc sống của Alphongsô Ligôri rất ư bận rộn! Thánh nhân giảng dạy và viết sách. Sau đó, thánh Alphongsô Ligôri thiết lập một dòng tu mới gọi là dòng Chúa Cứu Thế. Thánh nhân có những chỉ dẫn về đường thiêng liêng rất khôn ngoan; và ngài mang bình an đến cho tha nhân qua bí tích Hòa giải. Thánh Alphongsô cũng sáng tác thánh ca, chơi đàn và vẽ tranh nữa!

Thánh Alphongsô Ligôri viết tất cả sáu mươi cuốn sách. Điều này thật khó tin vì ngài phải chu toàn rất nhiều trách vụ. Vả lại, Alphongsô Ligôri thường hay đau bệnh. Ngài thường xuyên mắc chứng đau đầu; và để có thể làm việc liên tục, thánh Alphongsô Ligôri phải quấn một chiếc khăn lạnh trên trán.

Mặc dù bản tính tự nhiên rất nóng nảy, song Alphongsô Ligôri đã cố gắng làm chủ tính khí của mình. Alphongsô Ligôri khiêm nhường đến nỗi khi đức thánh cha muốn đặt ngài làm giám mục vào năm 1762, ngài đã dịu dàng từ chối. Khi các sứ giả của đức thánh cha đến gặp riêng Alphongsô để nói cho ngài biết ý định của đức thánh cha, và họ gọi ngài bằng tước hiệu “thông thái,” Alphongsô Ligôri đã trả lời: “Xin làm ơn đừng gọi tôi bằng danh xưng đó. Nó sẽ giết chết tôi mất!” Đức thánh cha biết rằng Alphongsô sẽ giúp ích được nhiều cho Giáo hội nên ngài đã chỉ định Alphongsô Ligôri làm giám mục giáo phận Agatha của người Goth. Thánh Alphongsô Ligôri đã cử nhiều nhà giảng thuyết đến làm việc trong giáo phận của ngài. Họ giúp chia sẻ về tình yêu Thiên Chúa và tầm quan trọng của niềm tin Công giáo. Alphongsô Ligôri xin các linh mục hãy giảng các bài thật đơn sơ để dân chúng dễ nắm bắt và dễ đem ra thực hành, ngài nói: “Tôi chưa khi nào giảng một bài mà người bình dân nhất trong nhà thờ không thể hiểu được!”

Khi về già, thánh Alphongsô Ligôri phải chịu nhiều bệnh tật. Ngài bị què quặt vì chứng thấp khớp, bị điếc và gần như mù lòa. Ngài cũng có nhiều nỗi thất vọng và mắc bệnh trầm cảm. Nhưng thánh Alphongsô Ligôri có một lòng sùng kính thật đặc biệt đối với Đức Mẹ Maria, như chúng ta biết cuốn sách nổi tiếng của ngài có nhan đề Vinh quang Đức Mẹ Maria. Sau các thử thách là niềm vui lớn lao, bình an sâu thẳm và cái chết thánh thiện.

Thánh Alphongsô Ligôri qua đời năm 1787, hưởng thọ 91 tuổi. Đến năm 1839, đức thánh cha Grêgôriô XVI tôn phong Alphongsô Ligôri lên bậc hiển thánh. Còn đức thánh cha Piô IX thì tôn tặng ngài tước hiệu Tiến sĩ Hội Thánh năm 1871. 

Chúng ta hãy gia tăng lòng sùng kính đối với Mẹ Maria yêu quý của chúng ta bằng việc đọc các sách về Mẹ, nhất là năng cầu nguyện với Mẹ. Chúng ta hãy nài xin thánh Alphongsô Ligôri giúp chúng ta yêu mến Mẹ Maria như ngài.

 

Ngày 2 tháng 8

Thánh Phêrô Julianô Eymard

Thánh Phêrô Julianô Eymard sinh năm 1811 tại một ngôi làng nhỏ thuộc giáo phận Grênôp, nước Pháp. Phêrô đã phụ giúp thân phụ mình chế đúc và sửa chữa các loại lưỡi dao cho tới năm lên 18. Phêrô dùng các giờ rảnh rỗi để học hành. Ngài tự học Latinh. Phêrô được một linh mục có lòng quảng đại hướng dẫn đức tin. Trong thâm tâm, Phêrô mơ ước được làm linh mục. Năm 20 tuổi, Phêrô bắt đầu ghi danh học tại đại chủng viện Grênôp. Năm 1834, Phêrô Julianô được thụ phong linh mục và được trao cho coi liền một lúc hai xứ đạo suốt 5 năm sau đó. Dân chúng nhận biết cha Phêrô chính là món quà Thiên Chúa tặng ban cho họ. Sau đó, cha Eymard xin phép đức giám mục giáo phận để được gia nhập hội dòng Truyền Giáo Đức Bà do cha Colin mới sáng lập lúc ấy, và đức giám mục đã chấp nhận. Cha Eymard phục vụ hội dòng này với tư cách là linh hướng cho các anh em chủng sinh. Vào năm 1845, cha Eymard được bầu làm bề trên của hội dòng tại Liông, nước Pháp. Thế nhưng, dù cha Eymard đã kiên trì chu toàn nhiều trách vụ trong cuộc đời, lòng trí cha vẫn hướng về một điều gì khác.

Cha Eymard có một tình yêu bừng cháy đối với Chúa Giêsu Thánh Thể. Ngài bị lôi cuốn vào sự hiện diện của Chúa trong bí tích cực trọng này. Eymard thích dùng thời giờ hàng ngày để tôn thờ Chúa. Trong một ngàylễ kính Mình Máu Thánh Chúa, cha Eymard đã trải qua một cảm nghiệm đạo đức rất đặc biệt. Đang khi Eymard đi kiệu Mình Thánh, ngài cảm thấy sự hiện diện của Chúa Giêsu nóng ấm tựa như lò lửa hồng. Mình Thánh Chúa dường như bao chiếm lấy Eymard bằng tình yêu và ánh sáng. Trong tâm hồn, Eymard thưa lên với Chúa những nhu cầu tinh thần và vật chất của bổn đạo. Thánh nhân nài xin lòng thương xót và tình yêu của Chúa Giêsu chạm tới mọi người, cũng như ngài được Thánh Thể Chúa đụng chạm tới vậy.

Vào năm 1856, cha Eymard nương theo ơn linh hứng mà cha đã cầu nguyện trước đó nhiều năm. Với sự chấp thuận của các bề trên, cha đã thiết lập một hội dòng cho các linh mục chuyên tôn thờ Thánh Thể. Các ngài được biết đến với tước hiệu là những linh mục của bí tích Thánh Thể. Hai năm sau khi lập dòng nam, cha Eymard lập thêm một hội dòng nữ, gọi là dòng Nữ Tỳ Thánh Thể. Như những linh mục, các chị nữ tu này cũng có một tình yêu đặc biệt đối với Chúa Giêsu Thánh Thể. Họ tận hiến đời mình để tôn thờ Chúa Giêsu trong bí tích Thánh Thể. Cha Eymard cũng lập thêm những lớp dạy giáo lý trong giáo xứ nhằm chuẩn bị cho bổn đạo rước lễ lần đầu. Ngài cũng viết nhiều sách về bí tích Thánh Thể, những sách này đã được phiên dịch ra nhiều thứ tiếng; và ngày nay vẫn còn giá trị.

Cha Eymard sống cùng thời với thánh Gioan Maria Vianêy, vị thánh mà chúng ta mừng lễ kính vào ngày 4 tháng Tám. Cả hai cùng là bạn thân của nhau và cả hai đều rất ngưỡng mộ nhau. Cha Vianêy nói rằng cha Eymard là một đấng thánh; và ngài thêm: “Chà! Một cộng đoàn linh mục tận hiến đời mình để tôn thờ Chúa Giêsu Thánh Thể! Thật tốt đẹp biết bao! Hằng ngày tôi sẽ cầu nguyện cho công việc của cha Eymard!”

Thánh Phêrô Julianô Eymard đã trải qua đau khổ rất nhiều trong bốn năm cuối đời. Ngài cũng gặp phải những khó khăn và những lời chê bai chỉ trích. Nhưng thánh nhân vẫn cứ tiếp tục tôn thờ Chúa Giêsu Thánh Thể. Gương hy sinh và đời sống chứng tá của Eymard đã giúp cho nhiều người tìm thấy ơn gọi của họ trong hội dòng ngài đã thiết lập. Phêrô Julianô Eymard về trời ngày mùng 1 tháng Tám năm 1868, lúc được 57 tuổi. Đến ngày mùng 9 tháng Mười Hai năm 1962, đức thánh cha Gioan XXIII đã tôn phong Phêrô Julianô Eymard lên bậc hiển thánh.

 Chúng ta hãy xin thánh Phêrô Julianô Eymard giúp chúng ta gia tăng lòng yêu mến Đức Chúa Giêsu trong bí tích Thánh Thể. Chúng ta cũng hãy nài xin thánh nhân giúp chúng ta biết học nơi ngài cách tôn thờ Chúa Giêsu Thánh Thể.

 

Ngày 3 tháng 8

Thánh Philipphê Bênizi

Thánh Philipphê Bênizi sinh ngày 15 tháng Tám năm 1233 tại Florentia, nước Ý. Philipphê trở thành bác sĩ khi mới 19 tuổi; và ngài đã mở một phòng khám bệnh tại quê nhà. Chỉ một năm sau, Philipphê Bênizi bỏ nghề bác sĩ và xin gia nhập hội dòng Tôi Tớ Đức Mẹ. Philipphê Bênizi được thụ phong linh mục tại Siêna năm 1258.

Chẳng bao lâu, cha Philipphê Bênizi trở nên rất nổi danh vì tài thuyết giảng. Ngài cũng phục vụ hội dòng với chức vụ tập sư và bề trên. Năm 1267, Philipphê Bênizi được bầu làm bề trên tổng quyền của hội dòng dù ngài đã cố gắng từ chối việc đề cử này. Philipphê Bênizi đã chăm chỉ làm việc để thiết lập quy luật của dòng; và người ta rất ngưỡng mộ Philipphê vì đời sống thánh thiện. Cha Philipphê Bênizi cũng được ơn làm nhiều phép lạ.

Năm 1268, đức thánh cha Clêmentê IV qua đời, và cha Philipphê Bênizi là một trong những ứng viên sẽ được chọn lên kế vị. Sợ rằng mình sẽ có thể đắc cử, Philipphê Bênizi đã chạy trốn vào một hang động và ẩn mình cho tới khi đức Grêgôriô X được chọn.

Do đức khiêm nhường và lòng yêu mến, cha Philipphê Bênizi đã đem nhiều người trở về với Giáo hội. Ngài cũng là người hay giải hòa. Về cuối đời, cha Philipphê xin từ chức bề trên tổng quyền; và cha đã sống những ngày cuối đời tại một căn nhà khiêm tốn và nghèo khó của dòng. Cha Philipphê Bênizi đã qua đời tại đó vào ngày 22 tháng Tám năm 1285. Ngài được tôn phong hiển thánh năm 1671.

 Như thánh Philipphê Bênizi, chúng ta hãy cố gắng trau dồi những đức tính đơn thành và khiêm tốn. Những đức tính này giúp chúng ta tin tưởng vào Chúa chứ không vào mình; và cũng với đức tính này, chúng ta sẽ nên gương thánh thiện đích thực cho người khác.

 

Ngày 4 tháng 8

Thánh Gioan Maria Viannê

Gioan Maria Viannê sinh năm 1786 gần thành Liông, nước Pháp. Lúc còn nhỏ, Gioan chăn giữ đàn cừu cho thân phụ ngài. Gioan ham thích đời sống cầu nguyện; và khi lên 18 tuổi, Gioan xin phép thân phụ để đi học làm linh mục. Thân phụ lo lắng vì sợ mất đi nguồn lao động chính trong nhà. Tuy nhiên, hai năm sau, ông Viannê đã đồng ý. Lên 20, Gioan đến học với cha Ballê.