News Filters

006.- NHỮNG NGƯỜI CHĂN CHIÊN ĐẾN VIẾNG THĂM (Lc 2,8-20)_Đọc "TIN MỪNG" và Đọc Sách "BÀI THƠ của VỊ-THIÊN-CHÚA-LÀM-NGƯỜI" của Maria Valtorta

Thứ hai, ngày 11 tháng một năm 2021

  Đọc "TIN MỪNG" và Đọc Sách "BÀI THƠ của VỊ-THIÊN-CHÚA-LÀM-NGƯỜI" của Maria Valtorta

006.- NHỮNG NGƯỜI CHĂN CHIÊN ĐẾN VIẾNG THĂM (Lc 2,8-20)

8 * Trong vùng ấy, có những người chăn chiên sống ngoài đồng và thức đêm canh giữ đàn vật. *** 9 Bỗng sứ thần Chúa đứng bên họ, và vinh quang của Chúa chiếu toả chung quanh, khiến họ kinh khiếp hãi hùng. *** 10 Nhưng sứ thần bảo họ: “Anh em đừng sợ. Này tôi báo cho anh em một tin mừng trọng đại, cũng là tin mừng cho toàn dân: *** 11 Hôm nay, một Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em trong thành vua Đa-vít, Người là Đấng Ki-tô Đức Chúa. *** 12 Anh em cứ dấu này mà nhận ra Người: anh em sẽ gặp thấy một trẻ sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ”. *** 13 Bỗng có muôn vàn thiên binh hợp với sứ thần cất tiếng ngợi khen Thiên Chúa rằng: *** 14 “Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho loài người Chúa thương”. *** 15 Khi các thiên sứ từ biệt mấy người chăn chiên để về trời, những người này bảo nhau: “Nào chúng ta sang Bê-lem, để xem sự việc đã xảy ra, như Chúa đã tỏ cho ta biết”. *** 16 Họ liền hối hả ra đi. Đến nơi, họ gặp bà Ma-ri-a, ông Giu-se, cùng với Hài Nhi đặt nằm trong máng cỏ. *** 17 Thấy thế, họ liền kể lại điều đã được nói với họ về Hài Nhi này. *** 18 * Nghe các người chăn chiên thuật chuyện, ai cũng ngạc nhiên. *** 19 Còn bà Ma-ri-a thì hằng ghi nhớ mọi kỷ niệm ấy, và suy đi nghĩ lại trong lòng. ***20 Rồi các người chăn chiên ra về, vừa đi vừa tôn vinh ca tụng Thiên Chúa, vì mọi điều họ đã được mắt thấy tai nghe, đúng như đã được nói với họ.

**** NHỮNG NGƯỜI CHĂN CHIÊN ĐẾN VIẾNG THĂM (Sách “BÀI THƠ của VỊ-THIÊN-CHÚA-LÀM-NGƯỜI” của Maria Valtorta _Quyển 1, trang 273, số 49)

Con viết trước mặt Thầy Giêsu của con. Cho con, tất cả cho con. Người đã trở lại cho con, từ qúa lâu rồi, để tất cả cho con. Cha sẽ nói: “Nhưng thế nào? Con được nghe và thấy mới gần một tháng nay, vậy mà con nói là lại được sau thời gian qúa lâu?” Con lại trả lời một lần nữa điều mà con đã nói nhiều lần, hoặc bằng lời nói, hoặc bằng cách viết.

Đó là chuyện khác để nghe và là chuyện khác để thấy. Nhất nữa, đó là chuyện nghe và thấy cho người khác, so với được nghe và thấy hoàn toàn cho con, chỉ đặc biệt cho một mình con. Trong trường hợp thứ nhất, con là một khán giả, một kẻ nhắc lại những gì con đã thấy và nghe. Nhưng nếu việc đó cho con niềm vui, vì đó luôn luôn là việc gây cho người ta một niềm vui lớn, thì cũng thực sự đó chỉ là niềm vui bên ngoài. Các lời mô tả rất dở những điều mà con thấy rất hay. Nhưng con không biết diễn tả hay hơn. Tóm lại, con muốn nói rằng niềm vui của con giống niềm vui của người đọc một cuốn sách hay, hoặc thấy một cảnh đẹp, họ cảm động vì nó, thưởng thức nó, cảm phục sự hòa hợp của nó, họ nghĩ: “Thật thú vị biết bao nếu được ở vào địa vị của nhân vật này!” Trong khi vào trường hợp thứ hai, khi việc nghe và nhìn là cho con, lúc đó “nhân vật này” chính là con. Những lời mà con nghe là để cho con, khuôn mặt mà con thấy là cho con. Chính con là người: Con và Maria; con và Gioan... Sống động, thực sự, và thực tại, rất gần. Không phải ở trước mắt con như con nhìn một cuốn phim, nhưng ở ngay bên giường của con, di chuyển ở trong phòng hay tựa vào bàn ghế, hoặc ngồi hoặc đứng như một người sống: Các vị khách của con, điều rất khác với một thị kiến cho mọi người. Tóm lại, tất cả những điều này là “cho con”.

Và hôm nay cũng như chiều hôm qua, Chúa Giêsu ở đây, với y phục thông thường của Người bằng len trắng, một mầu trắng gần giống mầu ngà, rất khác thường bởi sức nặng của nó, và mầu sắc sáng láng giống như nó bằng thứ sợi gai siêu vật chất, rất trắng đến nỗi nó như bằng sợi ánh sáng vẫn bao phủ Người ở trên trời. Người ở đây, với đôi tay đẹp, dài, thon thon, mầu ngà cũ, với khuôn mặt của Người: đẹp, thon và tái; với đôi mắt sáng của kẻ thống trị, và êm đềm của lam ngọc đậm mầu, ở giữa đôi mi rậm mầu nâu lạt bóng vàng. Người ở đây với mái tóc hoe vàng dài và mềm, mầu vàng, đỏ tươi ở những phần được soi sáng, và đậm hơn ở cuối các lọn. Người ở đây, Người ở đây, Người mỉm cười với con và nhìn con đang viết về Người, giống như Người đã làm ở Viareggio... và giống như Người không làm nữa kể từ Thứ Bảy Tuần Thánh... làm cho con tất cả cái âu sầu đã trở thành cơn sốt và hầu như thất vọng, khi mà với sự đau đớn bởi không thấy Người, lại thêm vào cái đau không được sống ở đó, ở nơi ít nhất con cũng đã thấy Người để có thể nói: “Người đã tựa vào chỗ này, Người đã ngồi ở đây, kia là nơi Người đã cúi xuống để đặt tay trên đầu tôi”, và ở đó là nơi các người thân của con đã chết. Ôi! Ai không cảm thấy thì không thể hiểu được! Không. Không có lý do nào để đòi hỏi được hưởng những ân huệ này. Chúng ta biết rõ đó là những ơn nhưng không mà chúng ta không đáng, và chúng ta không thể đòi hỏi nó phải tồn tại một khi nó được ban cho chúng ta. Chúng ta biết rõ điều đó. Và nó càng được ban cho chúng ta, thì chúng ta càng phải tự hạ trong sự khiêm nhường và nhìn nhận nỗi khốn nạn ghê tởm của chúng ta trước Vẻ Đẹp Vô Tận và trước Sự Phong Phú của Thiên Chúa đã ban mình cho chúng ta.

Nhưng Cha ơi, Cha nói sao? Một đứa con lại không ước ao gặp cha và mẹ nó sao? Một người đàn bà không muốn gặp chồng bà sao? Và khi cái chết hay sự vắng mặt lâu ngày làm cho họ không thấy nhau, họ lại không tìm an ủi trong sự kiện là sống ở nơi các ngài đã sống sao? Nếu họ phải rời bỏ nơi đó, họ chẳng khổ gấp đôi, vì họ bị mất cả nơi mà các kẻ vắng mặt đã chia sẻ tình yêu với họ sao? Người ta có thể trách họ là đã khổ như vậy không? Không.Vậy với con, Giêsu chẳng là Cha và chồng con sao? Còn thân thiết hơn, rất thân thiết hơn một người cha và một người chồng. Và vì con như vậy, cha hãy suy xét cách con chịu đựng cái chết của mẹ con. Con đã đau khổ, cha biết không? Con vẫn còn khóc, vì con yêu bà, mặc dầu tính tình của bà. Nhưng cha thấy con đã vượt qua thời kỳ này thế nào? Giêsu đã ở đó. Người thân thiết với con hơn là người má. Con phải nói vậy. Con đã khổ, nhưng bây giờ con khổ hơn là cái chết của người má mà tám tháng trước đây con đã chịu. Là vì trong hai tháng nay, con không có Giêsu cho con, không có Maria cho con, và cả bây giờ, chỉ cần các đấng rời con một lát, là con lại cảm thấy sự khổ não của bệnh nạn và mồ côi hơn bao giờ hết, và con lại chìm vào cái tính loài người, và sự đau đớn cay đắng của những ngày vô nhân đạo này.

Con đang viết dưới mắt của Giêsu, vậy con không thể phóng đại hay bóp méo điều gì, đó không phải là tính tình của con. Lại nữa, nếu con làm như vậy, con sẽ không thể ở lại dưới cái nhìn này. Con viết những điều này tại một nơi con không có thói quen ngồi viết, vì với những thị kiến về Maria, con không làm gián đoạn nó bằng sự bộc lộ cái “tôi” khốn cùng của con. Con đã viết rằng con phải tiếp tục bộc lộ vinh quang của Người. Chức làm mẹ của Người đã chẳng là một triều thiên vinh quang trong mọi lúc sao? Con rất bệnh hoạn, và viết là điều rất khó khăn cho con. Con là một mớ giẻ rách. Nhưng khi đến việc phải làm cho Người được hiểu biết hơn và yêu mến hơn thì con không tính toán. Hai vai của con đau? Qủa tim con bị đè nặng? Đầu con nhức nhối? Cơn sốt gia tăng?... Không quan trọng! Chỉ mong cho Maria được biết về tất cả vẻ đẹp của Mẹ, sự âu yếm của Mẹ như con thấy Người nhờ lòng nhân từ của Thiên Chúa và của Người. Như vậy là đã đủ cho con.

Sau đó, tôi thấy một đồng quê mênh mông. Mặt trăng đang ở đỉnh đầu, và nó vận chuyển yên hàn trong bầu trời đầy sao. Các tinh tú giống như những đinh ốc bằng kim cương đính vào một cái kiệu mênh mông bằng nhung mầu xanh đậm. Mặt trăng cười ở giữa trời với khuôn mặt toàn trắng của nó, từ đó tỏa ra những dòng sông ánh sáng như sữa, làm cho mọi cảnh vật đều có mầu trắng. Cây cối trụi lá có những bóng nổi bật hơn dưới mầu trắng này, trong khi các bức tường ở đó đây giống như bằng sữa đông. Xa xa, có một căn nhà nhỏ trông giống như một khối cẩm thạch trắng.

Ở bên phải tôi, tôi thấy một nơi được vây ở hai phía bằng hàng dậu cây gai, và ở hai phía kia, bằng những bức tường thấp thô kệch. Các bức tường này chống đỡ mái của một thứ nhà kho mà ở bên trong cũng như chung quanh, một phần được xây gạch, một phần được làm bằng gỗ, theo kiểu để vào mùa hè, người ta có thể dỡ phần làm bằng gỗ ra, và cái nhà kho biến thành một hành lang. Từ đó, thỉnh thoảng có tiếng bê bê vọng ra từng chặp và vắn tắt. Chắc đó là những con cừu kêu mơ, hoặc nó nghĩ rằng rạng đông đã tới vì lẽ trăng sáng. Đó là ánh sáng qúa mức! Nó thanh quang chừng nào! Và nó gia tăng tựa như thiên thể tiến lại gần trái đất, hay nó sáng ngời vì một đám cháy bí nhiệm.

Một người mục đồng bước ra cửa. Ông giơ tay lên trên trán để che mắt và nhìn trời. Thường thì người ta không cần phải tránh ánh trăng, nhưng hôm nay nó qúa mạnh tới nỗi nó làm chói mắt, đặc biệt là với người từ trong nhà ra, đang quen với bóng tối. Tất cả đều yên tĩnh, nhưng ánh sáng này thực đáng ngạc nhiên. Người mục đồng gọi các bạn ông. Tất cả đều ra cửa: một nhóm người bù xù thuộc mọi lứa tuổi. Có những thiếu niên và những người tóc bạc. Họ bình luận sự kiện kỳ lạ, và những người trẻ tuổi nhất sợ hãi, đặc biệt là một cậu con trai chừng mười hai tuổi bắt đầu khóc, lôi kéo sự chế nhạo của những người già hơn.

- Mày sợ cái gì? Sao mày ngu vậy? - mấy người già hơn nói với cậu. “Mày không thấy là không khí yên tĩnh sao? Mày chưa bao giờ thấy trăng sáng à? Mày vẫn còn luôn luôn ở dưới váy má mày giống như con gà con ở dưới con gà mái ấp? Nhưng mày sẽ thấy các sự đời! Có lần tao tới các ngọn núi Liban, còn xa hơn nữa cơ. Tao lên dốc. Lúc đó tao còn trẻ và tao không mệt khi đi bộ. Hồi đó tao cũng còn giầu... Một đêm tao nhìn thấy một ánh sáng đến nỗi tao nghĩ rằng Êlia trở về với chiếc xe bằng lửa của ông. Tất cả bầu trời đều bị cháy. Một ông già - ông già chính là ông ta - bảo tao: ‘Một biến cố lớn sắp xảy ra trong thế giới’. Và đối với chúng ta, biến cố là: Lính Rôma tới. Ôi! Mày sẽ thấy nếu mày còn sống...”

Nhưng người mục đồng nhỏ không nghe ông nữa. Cậu ta không còn có vẻ sợ. Qủa thực, cậu ta rời ngưỡng cửa và lẻn ra sau lưng một người mục đồng vạm vỡ, cậu ta nấp ở đó, rồi đi ra công viên ở đàng trước nhà kho. Cậu nhìn trời và bước như người mộng du hay như người bị thôi miên bởi cái gì đã bắt lấy cậu hoàn toàn. Rồi có một lúc cậu ta kêu lên: “Ô!” và cậu ta bị trồng như tượng đá, hai tay hơi giang ra. Những người khác nhìn nhau ngạc mhiên. Một người nói: “Nhưng thằng ngu này làm sao vậy?”

- Ngày mai tôi sẽ dẫn nó về cho mẹ nó. Tôi không muốn một thằng điên giữ bầy cừu - một người khác nói.

Lúc đó ông già đã nói lúc trước nói: “Chúng ta hãy tới coi trước khi xét đoán. Hãy gọi cả những người khác và mang theo gậy. Có thể có một con thú dữ hay các tên trộm cướp”.

Họ trở vào, họ gọi những người mục đồng khác và trở ra với các bó đuốc và dùi côn. Họ lại chỗ đứa trẻ.

- Kìa! Kìa! - đứa bé mỉm cười và nói rì rầm. “Ở bên trên ngọn cây, hãy nhìn ánh sáng đang tới, giống như nó tiến đi trên một tia sáng của mặt trăng. Kìa, nó lại gần. Ôi! Nó đẹp chừng nào!”

- Tôi, tôi chỉ thấy một ánh sáng hơi mạnh hơn.

- Tôi cũng vậy.

- Tôi cũng vậy - những người khác nói.

- Không. Tôi thấy cái gì như thân mình người ta - một người khác nói, và tôi nhận ra đó là người mục đồng đã biếu sữa cho Maria.

- Đó là... Đó là một thiên thần - đứa trẻ kêu lên. “Đó, Người xuống và tiến lại... Xuống đất! Hãy qùi gối trước thiên thần của Thiên Chúa”.

Một tiếng “Ôi” kéo dài và kính trọng vang lên từ đám mục đồng qùi gối sấp mặt xuống đất. Họ có vẻ như người càng già thì càng xúc động bởi việc hiển hiện. Người trẻ nhất qùi và nhìn thiên thần càng lúc càng lại gần, rồi dừng lại ở bên trên bức tường bao vây, lơ lửng trên không. Người giang rộng đôi cánh lớn, trắng toát như ngọc trai trong ánh sáng trắng của mặt trăng bao phủ Người.

- Đừng sợ. Ta không mang sự dữ cho các con đâu. Ta mang cho các con một tin về một niềm vui vĩ đại cho Israel và cho tất cả các dân tộc trên trái đất. - Tiếng nói thiên thần là cung đàn cầm du dương với tiếng hót họa mi đệm theo.

“Hôm nay Đấng Cứu Tinh đã sinh ra trong thành của Đavít”. Với những tiếng này, thiên thần giang đôi cánh ra rộng hơn và vẫy như một sự nhảy mừng, và một làn mưa các tia vàng lấp lánh như các đá qúi tỏa ra từ cánh Người. Một chiếc cầu vồng thực sự vẽ một vòng cung chiến thắng ở bên trên cái công viên bần cùng.

“... Đấng Cứu Tinh là Đức Kitô”. Thiên thần sáng láng bằng ánh sáng rực rỡ hơn. Đôi cánh người bây giờ ngừng đập và hướng về trời giống như hai cánh buồm bất động trên mặt biển mầu lam ngọc, giống như hai ngọn lửa bốc lên mạnh mẽ.

“... Đức Kitô là Chúa”. Thiên thần xếp cánh bằng ánh sáng lại và phủ lấy thân, giống như tấm áo choàng bằng kim cương bên trên chiếc áo trong bằng ngọc trai. Người cúi xuống như để thờ lạy, tay ôm lấy ngực, khuôn mặt không nhìn thấy nữa, vì người cúi sâu trên ngực, trong bóng của đôi cánh xếp lại. Người ta chỉ còn nhìn thấy một hình dáng dài, sáng láng, bất động trong khoảng thời gian đọc một kinh vinh danh.

Nhưng đây, người lại nhúc nhích. Người lại mở cánh và ngửa mặt, nơi ánh sáng rạng ngời trong một nụ cười Thiên Quốc, và người nói: “Các con sẽ nhận ra Người bằng dấu này: Trong một cái chuồng súc vật nghèo ở phía sau Bétlem, các con sẽ thấy một trẻ sơ sinh bọc trong tã, nằm trong chiếc máng của súc vật, bởi vì không có một mái nhà cho Đấng Messi ở trong thành của Đavít”. Khi nói như vậy, thiên thần trở nên nghiêm trang, kể cả có vẻ buồn.

Nhưng từ trời, có một đám đông tới - Ôi! Đông chừng nào! - Một đám đông các thiên thần giống như thiên thần này. Một dẫy các thiên thần bay xuống trong sự hân hoan, làm lu mờ mặt trăng bằng ánh sáng Thiên Đàng của các ngài. Các đấng họp đoàn với thiên thần loan tin, vẫy cánh tỏa ra hương thơm với những cung nhạc du dương, trong đó có tất cả những giọng ca hay nhất trong tạo vật, nhưng phải nâng nó lên tới đỉnh trọn lành của các âm thanh. Nếu hội họa là cố gắng của vật chất để trở nên ánh sáng, thì ở đây, sự du dương là cố gắng của nhạc để diễn tả cho con người về vẻ đẹp của Thiên Chúa, nghe sự du dương này là biết Thiên Đàng, nơi tất cả đều hòa hợp trong tình yêu từ Thiên Chúa ban mình ra, lan tỏa để làm hạnh phúc cho các thánh, rồi lại từ các thánh trở về với Thiên Chúa để nói: “Chúng con yêu Chúa”.

Kinh vinh danh của các thiên thần tỏa ra thành những làn sóng càng lúc càng lan rộng trên miền quê yên tĩnh, cũng như ánh sáng. Chim chóc hòa tiếng để chào ánh sáng đến sớm, và chiên cừu bê bê để chào mặt trời mọc trước giờ. Nhưng tôi, cũng như đối với con lừa và con bò ở trong hang đá, tôi thích tin là các con vật chào đón Đấng Tạo Hóa của chúng, đã đến ở giữa chúng để yêu chúng như người ta yêu, và hơn nữa, như Thiên Chúa yêu.

Tiếng hát cũng như ánh sáng giảm bớt khi các thiên thần lại bay lên trời... Các mục đồng hoàn hồn.

- Anh có nghe không?

- Chúng ta đi coi không?

- Còn các con vật?

- Ôi, chúng chẳng sao đâu. Chúng ta hãy đi để vâng lời tiếng của Thiên Chúa!...

- Nhưng đi đâu?

- Thiên thần đã chẳng nói rằng hôm nay Người sinh ra và Người không tìm được chỗ trú ở Bétlem sao? - Người mục đồng đã cho sữa nói. “Đi, tôi biết. Tôi đã gặp người đàn bà, và bà làm tôi thấy tội nghiệp. Tôi đã chỉ một nơi cho bà, bởi vì tôi nghĩ rằng chắc chắn bà không tìm ra chỗ trọ, và tôi đã đưa sữa cho người đàn ông để cho bà uống. Bà còn rất trẻ và rất đẹp. Chắc chắn bà tốt giống như thiên thần đã nói với chúng ta. Đi! Đi! Chúng ta hãy đi lấy sữa và phó mát, các con chiên và các mảnh da thuộc. Chắc là các đấng rất nghèo và... Ai biết được đấng mà tôi không dám gọi tên đã bị lạnh chừng nào! Và hãy nghĩ rằng tôi đã nói với bà mẹ như với một bà vợ tội nghiệp!...”

Họ trở về nhà kho rồi sau một lúc trở ra, kẻ thì mang các bình đựng sữa, người thì những cục phó mát tròn bọc trong các lưới bằng cỏ lác; người thì những cái rổ, có một con cừu kêu bê bê, kẻ thì các tấm da cừu thuộc.

- Tôi mang theo một con cừu mới đẻ một tháng nay. Sữa của nó tuyệt vời. Nó sẽ ích lợi cho ông bà nếu họ thiếu sữa. Tôi thấy bà giống như một con nít và rất xanh xao!... Với nước da hoa lài dưới trăng sáng - người mục đồng cho sữa nói, và ông dẫn tất cả đi.

Họ ra đi dưới ánh trăng và các ngọn đuốc, sau khi đã đóng cửa nhà kho và hàng rào. Họ đi theo các lối mòn của đồng quê, băng qua các hàng dậu bằng cây gai trơ trụi về mùa đông. Họ đi vòng Bétlem và tới chuồng bò lừa, không bằng con đường mà Maria đã đi, nhưng bằng hướng đối lập. Như vậy họ không đi qua các hang tốt hơn, nhưng tìm thấy ngay chỗ ẩn náu mà họ muốn tìm. Họ tới gần cửa hang:

- Vào đi!

- Tôi, tôi không dám.

- Anh, vào đi.

- Không.

- Ít là phải coi xem sao.

- Lêvi, mày đã nhìn thấy thiên thần trước tiên, điều đó có nghĩa là mày tốt hơn tất cả chúng ta, hãy nhìn coi - Thực sự ban đầu họ đã cho cậu bé là điên... Nhưng bây giờ cậu hữu ích cho họ, vì cậu dám làm điều mà họ không dám làm.

Đứa trẻ ngập ngừng, nhưng rồi nó quyết định... Nó tới gần chỗ trú, hơi vén cái áo khoác ra...và nó dừng lại, xuất thần!

- Mày thấy gì? - những người khác lo lắng hỏi nhỏ.

- Tôi thấy một người đàn bà rất trẻ và rất đẹp, và một người đàn ông cúi xuống trên cái máng cỏ, và tôi nghe... Tôi nghe một trẻ sơ sinh khóc, và người đàn bà nói với nó bằng giọng... Ôi! một giọng nói tuyệt vời!

- Bà nói gì?

- Bà nói: “Giêsu, bé tí của má! Giêsu, tình yêu của má! đừng khóc, con nhỏ của má”. Bà nói: “Ôi! nếu má có thể nói với con: hãy bú sữa, bé tí của má! Nhưng má chưa có sữa”. Bà nói: “Tình yêu của má! con lạnh qúa à? Rơm cỏ chích con! Đau đớn chừng nào cho má của con phải nghe con khóc như vầy mà không thể làm dễ chịu cho con”. Bà nói: “Ngủ đi, linh hồn nhỏ của má! Trái tim má vỡ ra vì nghe con và nhìn thấy nước mắt của con”. Bà hôn đứa bé và ủ nóng cho bàn chân của bé bằng bàn tay của bà. Bà cúi xuống và để hai tay trên máng cỏ.

- Gọi đi. Hãy cho họ biết là mày ở đây.

- Tôi, không. Đúng hơn là anh, đã dẫn chúng tôi và biết bà.

Người mục đồng mở miệng để gọi, nhưng chỉ giới hạn ở một tiếng xít xoa mạnh.

Giuse quay lại và đi ra cửa: “Qúi vị là ai?”

- Các mục đồng. Chúng tôi mang cho các ngài lương thực và len ấm. Chúng tôi đến thờ lạy Đấng Cứu Tinh.

- Vào đi.

Họ vào trong chuồng, soi sáng bằng ngọn đuốc của họ. Các người già đẩy các người trẻ cho đi ở đàng trước họ.

Maria quay lại và mỉm cười. Cô nói: “Xin vào! Xin vào!” Và cô mời họ bằng bàn tay và bằng nụ cười của cô. Cô cầm tay đứa con trai đã thấy thiên thần và kéo nó lại với cô tới tận bên máng cỏ. Đứa trẻ nhìn, hớn hở mừng.

Những người khác được Giuse mời, tiến vào với các lễ vật của họ. Rồi với những lời vắn tắt cảm động, họ để các thứ bên chân Maria. Rồi họ nhìn bé tí khóc êm êm, họ mỉm cười, cảm động sung sướng.

Rồi một người trong số họ mạnh bạo hơn, nói: “Cầm lấy đi mẹ, nó mềm và sạch sẽ. Con sửa soạn nó cho đứa bé sắp sinh trong nhà con, nhưng con biếu cho mẹ. Hãy đặt con Mẹ vào tấm len này, nó mềm và ấm”. Và ông dâng tấm da cừu, một mảnh da rất đẹp với bộ lông trắng tinh.

Maria đỡ Giêsu lên và quấn nó cho Người. Cô cho các mục đồng coi Người. Họ qùi gối dưới đất, trên ổ rơm, nhìn Người như xuất thần.

Họ cảm thấy mạnh dạn hơn và một người đề nghị: “Phải cho Người một ngụm sữa, hay tốt hơn là nước pha mật ong. Nhưng chúng ta không có mật ong. Người ta thường cho trẻ sơ sinh uống như vậy. Tôi có bảy đứa con nên tôi biết”.

- Thưa bà sữa đây, xin bà nhận.

- Nhưng nó lạnh, phải có sữa nóng. Êlie đâu? Ông ta có con cừu.

Chắc Êlie là người đã cho sữa. Nhưng ông không ở đó. Ông dừng lại ở bên ngoài, nhìn qua khe hở, rồi biến mất trong bóng đêm.

- Ai dẫn qúi vị tới đây?

- Một thiên thần bảo chúng con tới, và Êlie dẫn đường cho chúng con. Nhưng bây giờ ông ta đâu rồi?

Một tiếng bê bê của con cừu đã tiết lộ ông.

- Vào đi, người ta hỏi anh đó.

Ông ta vào cùng với con cừu, rụt rè vì là người bị lưu ý nhất.

- Anh à? - Giuse nói khi nhận ra ông. Maria cũng mỉm cười và nói: “Anh rất tốt”.

Họ vắt sữa con cừu. Maria nhúng một chút góc chiếc khăn tay vào sữa nóng sủi bọt và rơ môi cho chú bé, chú mút lấy chất kem ngon. Tất cả họ đều mỉm cười, và họ buồn cười hơn khi thấy Giêsu ngủ ngay trong sự ấm áp của vải len với mảnh khăn còn ngậm trên môi.

- Nhưng ông bà không thể ở đây được. Trời lạnh và ẩm thấp. Lại nữa... Toàn mùi súc vật. Như vầy không được... Không được đối với Vị Cứu Tinh.

- Tôi biết - Maria nói với một cái thở dài thật mạnh. “Nhưng không có chỗ cho chúng tôi trong thành Bétlem”.

- Ôi! Bà, can đảm lên. Chúng tôi sẽ kiếm cho bà một căn nhà.

- Tôi sẽ nói với bà chủ - người cho sữa (Êlie) nói. “Bà ta rất tốt, bà ta sẽ đón nhận ông bà. Bà ta phải nhường phòng của bà ta cho qúi vị. Khi trời vừa sáng, tôi sẽ nói với bà ấy. Nhà bà đã đầy hết, nhưng bà ấy sẽ cho qúi vị một chỗ”.

- Ít nhất là cho đứa bé. Tôi với Giuse có phải tiếp tục nằm dưới đất cũng không sao. Nhưng cho hài nhi...

- Bà ơi, đừng lo, tôi sẽ nghĩ tới đó. Tôi sẽ kể cho rất nhiều người điều chúng tôi đã được nghe. Qúi vị sẽ không thiếu thốn gì. Lúc này thì hãy nhận lấy những gì sự nghèo nàn của chúng tôi có thể biếu cho ông bà. Chúng tôi là các mục đồng...

- Chúng tôi cũng là những người nghèo - Giuse nói. “Và chúng tôi không thể đền bù cho các anh em được”.

- Ôi! Chúng tôi không muốn. Dù là ông bà có thể, chúng tôi cũng không muốn. Chúa đã thưởng cho chúng tôi rồi. Người đã hứa bình an cho mọi người. Các thiên thần đã nói: “Bình an cho những người có thiện chí”, nhưng với chúng tôi thì Người đã ban rồi, vì thiên thần đã nói rằng trẻ này là Đấng Cứu Tinh, là Đức Kitô, là Chúa. Chúng tôi nghèo nàn và ngu dốt, nhưng chúng tôi biết rằng các Tiên Tri đã nói Đấng Cứu Tinh sẽ là Chúa Bình An, và thiên thần đã bảo chúng tôi đến thờ lạy Người. Như vậy là Người đã ban bình an cho chúng tôi. Vinh danh Thiên Chúa trên trời cao thẳm, và vinh danh Đấng Kitô của Người! Và Bà! Hãy được phúc, người đàn bà đã sinh ra Người. Bà là thánh, vì bà đã đáng cưu mang Người. Hãy truyền lệnh cho chúng tôi như một Bà Hoàng, vì chúng tôi rất bằng lòng để phục vụ bà. Chúng tôi có thể làm gì cho Bà?

- Hãy yêu con tôi, và hãy giữ mãi trong lòng các anh những tư tưởng của lúc này.

- Nhưng với bà, bà không muốn điều gì sao? Bà không có bà con nào để báo tin rằng con bà đã sinh sao?

- Có, tôi có. Nhưng họ không ở gần đây. Họ ở Hébron cơ...

- Tôi sẽ đi - Êlie nói. “Họ là ai?”

- Zacari, vị thầy cả, và Êlisabét chị họ của tôi.

- Ồ! Zacari! Tôi biết ông. Vào kỳ mùa hè, tôi đã ở trên các ngọn núi đó, nơi có những đồng cỏ tốt. Tôi đã là bạn với người mục đồng của ông. Khi tôi biết bà đã thu xếp ổn định, tôi sẽ tới nhà Zacari.

- Cám ơn Êlie.

- Không có gì. Đó là vinh dự lớn cho tôi, một mục đồng hèn mọn mà được tới nói với vị thầy cả rằng Đấng Cứu Tinh đã sinh.

- Không, anh sẽ nói với ông ta: “Maria Nazarét, em họ của ông, nói rằng Giêsu đã sinh ra, và mời ông tới Bétlem”.

- Tôi sẽ nói như vậy.

- Nguyện Thiên Chúa thưởng công cho anh. Tôi sẽ nhớ đến anh, đến tất cả các anh...

- Bà sẽ nói với con bà về chúng tôi?

- Phải.

- Tôi là Êlie,

- Tôi, Lêvi,

- Tôi, Samuel,

- Tôi, Jonas,

- Tôi, Isaac,

- Tôi, Tobie,

- Tôi, Jonatha,

- Và tôi, Daniel,

- Và Simêon là tôi,

- Và tôi, tôi tên là Gioan,

- Tôi, tôi tên là Giuse, và em tôi tên là Benjamin. Chúng tôi sinh đôi.

- Tôi sẽ nhớ tên các anh.

- Chúng tôi phải đi... Nhưng chúng tôi sẽ trở lại... Và chúng tôi sẽ mang cho bà những thứ khác để thờ lạy...

- Làm sao có thể trở về công viên, và để chú bé này ở lại đây?

- Vinh danh Thiên Chúa đã chỉ Người cho chúng ta!

- Xin cho chúng tôi hôn áo Người - Lêvi nói với nụ cười thiên thần.

Maria ngồi trên cỏ, nâng nhẹ Giêsu lên, giơ ra cho họ hôn đôi chân nhỏ bọc trong vải. Những người có râu thì lau bộ râu trước khi hôn. Hầu như tất cả đều khóc khi phải bỏ đi. Họ đi giật lùi để ra, để qủa tim họ lại bên máng cỏ.

Thị kiến chấm dứt như vậy cho tôi: Maria ngồi trên cỏ với Bé con trong lòng, và Giuse chống khửu tay vào thành máng cỏ, nhìn và thờ lạy.

 

Ông muốn lại bên đống lửa, nhưng tại chỗ đó có luồng gió lùa vào qua cửa. Tốt hơn là ở lại chỗ này, hay tốt hơn là lại chỗ hai con vật để nó che cho khỏi luồng gió và cho một tí hơi nóng. Ông lại chỗ giữa con bò và con lừa, quay lưng ra cửa. Ông cúi xuống trên trẻ sơ sinh để lấy lồng ngực của ông mà làm cho Người một cái lồng mà các bức vách là một cái đầu mầu xám có hai tai dài, và một cái mõm trắng có hai lỗ mũi bốc khói với đôi mắt hiền từ ướt nước.

Maria đã mở cái rương và lấy ra các khăn với tã. Cô lại bên đống lửa để sưởi chúng. Đây, cô đến với Giuse và bọc chú bé trong tã ấm. Rồi cô bảo vệ cái đầu nhỏ bằng khăn voan của cô. Cô hỏi: “Bây giờ chúng ta đặt con ở chỗ nào?”

Giuse nhìn quanh, suy nghĩ... Ông nói: “Đợi coi... Chúng ta đẩy hai con vật với mớ cỏ của chúng ra xa hơn. Chúng ta kéo mớ cỏ ở trên cao xuống vào trong máng, rồi chúng ta đặt Người ở đây, ở trong giữa. Bờ của cái máng này che cho Người khỏi gió, cỏ làm gối nệm cho Người, và con bò sẽ sưởi cho Người một chút bằng hơi thở của nó. Con bò hay hơn, nó bình tĩnh và kiên nhẫn hơn”. Và Giuse bắt đầu công việc trong khi Maria ru cho bé của mẹ ngủ, ôm ghì Người vào ngực và áp má trên cái đầu nhỏ để sưởi cho nó.

Giuse khơi to ngọn lửa, không tiết kiệm củi nữa, và ông đốt lên được một ngọn lửa đẹp. Ông hơ nóng cỏ từng nắm một và ông ôm nó vào lòng để nó khỏi nguội đi. Rồi khi ông đã có một ôm cỏ đủ để làm chiếc nệm nhỏ cho cậu bé, ông tới chỗ máng cỏ, thu xếp để làm một cái nôi. Rồi ông nói: “Xong rồi, bây giờ phải có một cái mền để cho cỏ khỏi châm vào bé, và để đắp cho Người...”

- Lấy áo khoác của em đi - Maria nói.

- Nhưng em sẽ bị lạnh.

- Ồ, không sao. Cái mền qúa nhám. Áo khoác mềm và ấm. Em không lạnh. Chỉ làm sao cho bé không phải khổ nữa.

Giuse lấy cái áo to rộng bằng len mềm mầu xanh lam, ông trải nó gấp đôi trên máng cỏ, với một vạt treo ở bên ngoài máng. Cái giường đầu tiên của Đấng Cứu Tinh đã sẵn sàng.

Bà mẹ, với dáng diệu uyển chuyển dịu dàng, ẵm Người tới và đặt vào đó, đắp cho Người bằng vạt áo khoác mà cô kéo lên cả trên cái đầu trần ở trên cỏ, chỉ hơi được che cho khỏi bị châm nhờ cái voan mỏng của má. Bây giờ chỉ còn ló ra khuôn mặt nhỏ chỉ bằng nắm tay. Và hai người cúi xuống trên máng cỏ, sung sướng nhìn Người ngủ giấc ngủ đầu tiên. Sức nóng của khăn áo và rơm cỏ đã làm Người hết khóc, và đem giấc ngủ tới cho Giêsu dịu dàng.

(Dịch giả : Nữ tu Phạm Thị Hùng, CMR.)  

back to top
Filters